Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=38)
-   -   Anhxtanh - Hoang đường của thế kỷ! (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=6712)

SSX 01-07-2013 20:48

Vật lý tự biện
 
Ngay cả khái niệm space-time, du hành tức thời… cũng chẳng phải của Anhxtanh. Người ta đọc thấy chúng trong những truyền thuyết rất lâu đời của các bộ tộc cổ đại. Các nhà khoa học viễn tưởng tiếp tục chắp bút ra vô số các tác phẩm hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng.

Tất cả những gì còn lại trong di sản của nhà khoa học thiên tài, là lập ra một giáo phái, mà các chủ tế là một dạng nhà khoa học – trộm cắp, láu cá, trơ tráo, vô liêm sỉ, đạo văn và bông phèng. Tay trộm bị bắt quả tang hắn ăn trộm con gà của hàng xóm. Hắn bảo tôi có cách sử dụng con gà theo kiểu hoàn toàn khác và vô cùng mới mẻ! không thể nào giống món thịt gà nhà hàng xóm.

Làn sóng tuyên truyền lý thuyết mới Anhxtanh làm cho người ta tin vật lý cổ điển bị đánh bại. Poincare là một cây cổ thụ vật lý lý thuyết đã tỏ ra thận trọng nhưng bền bỉ chứng tỏ ngược lại. Ông là người chứng tỏ những khiếm lhuyeets của phép biến đổi Lorentz cũng như Galileo. “Sự không tương hợp giữa các kết quả lý thuyết với quan sát thiên văn” là dấu hiệu cảnh bảo không nên vội vàng với phán xử cuối cùng về cơ học mới (Панов и др., с.551).

Có tiền đề hoàn toàn khác ở Anhxtanh: ông ta có mục đích chính, dẫn đến rốt cục tạo ra thuyết tương đối, không phải là mong muốn chấm dứt trái ngược giữa kết quả thực nghiệm Michelson-Morley và thuyết ether, thịnh hành ở thế kỷ XIX. Lý thuyết Anhxtanh được thiết kế giống như một giáo lý vật lý, rất tuyệt vời để chứa những “lỗ đen” và “vũ trụ giãn nở”, ảo giác như tiêu diệt kinh thánh cũ – về mặt vật lý có vẻ là có căn cứ, nhưng lại trái nghịch không thể hợp với thực tế.

Cái ý niệm thần bí cổ đại của Anhxtanh đã làm cho 1 người chú ý, nhà triết học tài năng Nga A. F. Losev có cuốn “Phép biện chứng hoang đường” (Диалектике мифа) trong đó viết: “Nguyên lý tương đối… làm cho thứ có thể hiểu được thành hoang tưởng và kỳ dị… Và từ bây giờ chúng ta có thể thấy những cảm xúc tuyệt đối không khoa học sáng rực lên xung quanh thuyết tương đối… Và với ý định tốt cuối cùng thì Ủy ban vật lý ở Mat-xcơ-va cũng đã đi đến kết luận rằng sự lựa chọn giữa Anhxtanh và Newton là vấn đề niềm tin, chứ không phải là hiểu biết khoa học của chính mình.” Chính Losev nhận thấy: “Không công nhận khoa học ở khía cạnh toán học của lý thuyết này ít nhất chỉ có thể là không am hiểu sự vật và dốt nát khoa học nói chung.” Nhưng khía cạnh vật lý của lý thuyết lại khác: “Chúng không nhằm khám phá cơ chế bên trong của hiện tượng, mà chỉ đơn thuần mô tả toán học chúng. Toán học trong những lý thuyết này được nhấn mạnh, và bản chất vật lý xuất hiện từ qui luật toán học, không trái ngược” (Ацюковский, с.23).

Khái niệm toán học chứ không phải vật lý nhanh chóng đưa thuyết tương đối đến thành công, bởi đầu tiên, vì nó giải thoát các nhà vật lý khỏi phải suy nghĩ về bản chất của quá trình, đó là một sự trút bỏ gánh nặng lớn cho những ai không còn khả năng, thứ hai, nó cho phép mô tả một cách hình thức một số quá trình mà trước kia đã không thể mô tả vì thiếu những lý giải vật lý phù hợp” (Денисов, с.3).

Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ở một mức độ nào đó hiện tượng chấp nhận thuyết tương đối “vĩ đại” thiếu phê phán có liên quan đến những khái niệm và ý tưởng tôn giáo và huyến bí, chỉ là thứ nói lại bằng thứ ngôn ngữ ngụy khoa học mang dáng vẻ toán học. Cũng như ether, ví dụ, là một “tiên tri” bị chối bỏ bởi Anhxxtanh trong thuyết tương đối hẹp, mặc dù cốt lõi của lý thuyết chứa những kết luận của cả Lorentz và Poincare, rút ra với giả định chỉ trong khuân khổ khái niệm ether tĩnh. Nhưng hóa ra, kết luận “lỗi lạc” về việc vắng mặt ether lại đã từng được công bố từ tận năm 1888. “Học thuyết bí mật” của H.P. Blavatsky – là một trong những sổ tay của Anhxtanh.

Nói ngắn gọn, giáo sư A. A. Denisov đã đúng đến vô cùng tận khi gọi thuyết tương đối hẹp, thuyết tương đối rộng là "Kinh thánh": tước đoạt bản chất vật lý bằng học thuyết “chủ nghĩa giáo điều” toán học có gốc rễ giáo phái và thần bí Kabbalistic, một dạng trình bày tiên tri của Kinh cựu ước dựa trên “niềm tin”. Một kẻ là fan Anhxtanh người Pháp phát biểu: “Nói về tầm nhận thức này sẽ mãi mãi là không thể chấp nhận được đối với những kẻ phàm phu. Những miêu tả trừu tượng, mà cần để hiểu nó, chúng ta cần trước nhất từ bỏ lối suy nghĩ truyền thống” (Ацюковский, с.142). Luôn thể, cần phải nghĩ về việc tránh xa khỏi những kẻ không tiếp thu được những thủ đoạn toán học của ngụy-vật lý tự biện.

Viện sĩ A. A. Logunov là người xác nhận: “Điều quan trọng là họ không tìm kiếm sự thật”. Ông kể về 1 trường hợp xảy ra với fan Anhxtanh trong cuộc hội thảo quốc tế ở Mat-xcơ-va, một nhà khoa học phản đối ý tưởng của ông. Anh ta liến thoắng chứng tỏ gì đó, ông đề nghị anh ta đơn giản là viết dự kiến của mình lên bảng. Khi anh ta làm xong, ông ngay lập tức chỉ ra sai lầm của anh ta cho cả phòng họp. Sau đó ông biết, một viện sĩ có tiếng, đáng kính đã trách mắng vị giáo sư đáng thương: Hãy nói anh đã làm cái gì! Đã nói và chán ngấy rồi, tại sao lại viết những công thức như thế?! Lẽ nào trong trường hợp đấy người ta viết công thức!” (“День”, № 6/92).

John Cheppel, một nhà khoa học lịch sử Mỹ nói: “Họ chẳng biết sự phản đối của chúng tôi, bởi họ không nghe. Họ không tham dự cuộc họp của chúng tôi, họ không đọc tạp chí của chúng tôi. Khi họ bác bỏ bài viết của chúng tôi, họ không thèm thậm chí là đọc qua chúng” (The Scientist10, Vol.9 № 10/95).

Ông A. Logunov nêu ý kiến về thuyết tương đối rộng: "Quan hệ ngày nay đối với học thuyết này phần lớn dựa trên niềm tin. Nhưng khoa học không phải là tôn giáo” (“Наука и жизнь”, № 3/87). Khái niệm tương đối của Anhxtanh – không phải là khoa học, mà là tôn giáo và giáo phái ngụy học thuyết, thêu dệt nên từ những giáo điều na ná vật lý và những dạng “phép màu” khác nhau.


minminixi 01-07-2013 23:32

Bác SSX có tìm hiểu nhiều về TTĐ chưa nhỉ? Nhiều nhà khoa học phản bác Anhxtanh nhưng chưa thắng được giới bảo vệ chung quy chỉ vì còn nhiều thứ chưa ai hình dung hết từ kết quả nghiên cứu Thiên văn: ví dụ về phản VC và VC tối...Một cái vô lý của TTĐ mà cũng ít ai ngờ đến: đó là Anhxtanh dùng ánh sáng (AS) làm cơ sở cho cả 2 thuyết, mà AS thì theo tính chất lại không hẳn là VC, vì nó không có khối lượng và không cùng spin với các hạt tạo nên thế giới VC. Một lỗ hổng nữa trong TTĐ là dùng khái niệm thời gian không được định nghĩa để áp vào các phép biến đổi thuần toán, rồi suy ra cho Không-thời gian. Trong khoa học XH cũng có thứ Triết học tương tự biến thành tôn giáo, ai xét lại cũng bị nện tơi bời trong một hệ quy chiếu XH nhất định...hehe

SSX 02-07-2013 19:49

Trích:

minminixi viết (Bài viết 123682)
Bác SSX có tìm hiểu nhiều về TTĐ chưa nhỉ? Nhiều nhà khoa học phản bác Anhxtanh nhưng chưa thắng được giới bảo vệ chung quy chỉ vì còn nhiều thứ chưa ai hình dung hết từ kết quả nghiên cứu Thiên văn: ví dụ về phản VC và VC tối...Một cái vô lý của TTĐ mà cũng ít ai ngờ đến: đó là Anhxtanh dùng ánh sáng (AS) làm cơ sở cho cả 2 thuyết, mà AS thì theo tính chất lại không hẳn là VC, vì nó không có khối lượng và không cùng spin với các hạt tạo nên thế giới VC. Một lỗ hổng nữa trong TTĐ là dùng khái niệm thời gian không được định nghĩa để áp vào các phép biến đổi thuần toán, rồi suy ra cho Không-thời gian. Trong khoa học XH cũng có thứ Triết học tương tự biến thành tôn giáo, ai xét lại cũng bị nện tơi bời trong một hệ quy chiếu XH nhất định...hehe

Bác muốn nói đến một đồng dạng phối cảnh nào đó với thuyết tương đối Anhxtanh thì có khối. Cái bác định nói, holocaust, russophobia, chinaphobia... cho đến biến đổi khí hậu, đồng bằng bắc Bộ, nam Bộ chìm trong nước biển... Cùng có 1 dạng, cùng 1 phương sách, cùng 1 gốc, cùng 1 hậu quả. Chúng ta sẽ đề cập đến Nạn nhân Anhx-tanh-nít ở VN trong 1 bài khác. Tại sao không?

Nhưng người ta không đi chứng minh một tôn giáo là sai. Chúng ta chỉ làm khán giả, ngồi trong cánh gà của một cái ban công và từ đó xem những anh hề biểu diễn, anh ta bắt chước giông giống nhà thông thái đọc một bài diễn văn quan trọng (bài #15).

SSX 15-08-2013 10:31

Thử nghiệm Hafele & Keating chẳng chứng tỏ cái gì!
 
Năm 1970-1972, hai nhà bác học chuyên nghành chăn nuôi heo khoa ngoáy cám lợn từ Đại học Mỹ Hafele và Keating đem đồng hồ nguyên tử lên máy bay bay vòng quanh quả đất, chứng minh thời gian Anhxtanh lại co giãn. Hàng đàn tai to mõm dài xông ra sủa tưng bừng Thần tài vạn tuế! Vạn vạn tuế!!!

Ôi giời ơi! Ngay sau đó A. G. Kelly ở HDS Energy Ltd, Celbridge, Co. Kildare, Ireland có được dữ liệu. Ông dẫn chứng không có thời gian co giãn nào giống Anhxtanh! Tai to mõm dài trốn tiệt dưới gầm bệ thờ Anhxtanh chờ sóng yên bể lặng.

Lý thuyết không có bất cứ ứng dụng nào thực tế, nhưng được đôn thành thiên tài vĩ đại lại một lần nữa thành món cám lợn! Ấy thế nhưng lúc sóng yên bể lặng, rất nhiều tai to mõm dài đeo kính trông đáng kính lại xông ra sủa tưng bừng. Chúng làm như chẳng biết A. G. Kelly là ai.

Lãnh đạo tờ “Nature” uy tín ngay lập tức năm 1972 tuyên: “Sự phù hợp giữa lý thuyết và thử nghiệm hầu hết là tốt đẹp”. Science Citation Index có đến 1000 thảm khảo đến 2 tai to mõm dài.

Cũng như mọi lần, 2 con tai to mõn dài đã giấu kết quả thử nghiệm gốc. Những gì họ lợn công bố trên giấy năm 1972 là quá xa với kết quả thực của thử nghiệm mà ông Kelly có. Phân tích những dữ liệu này cho thấy chẳng có chút lòng tin nào để có thể dựa vào kết luận của Hafele & Keating.
Thực ra thì chả cần 2 tai to mõm dài Hafele và Keating diễn trò, người ta biết thừa Tương đối hẹp là đểu từ Nghịch lý sinh đôi (Einstein twin paradox).

Nghịch lý này xuất hiện từ chính lý thuyết tương đối hẹp, 2 anh em sinh đôi, người anh đi trên tàu vũ trụ vận tốc gần ánh sáng, người em ở lại trái đất. Sau một thời gian, anh trở về gặp em, do thời gian trên tàu vũ trụ trôi chậm hơn, nên người anh trẻ hơn người em! Nhưng cũng ngược lại, người em trên trái đất là di chuyển với tốc độ gần ánh sáng nên khi 2 anh em gặp nhau, người em trẻ hơn người anh!

Người đầu tiên sớm chỉ trích nghịch lý lố bịch này có lẽ là Dingle. Và Hafele & Keating nỗ lực để làm sáng tỏ nghịch lý này năm 1971-72.

Giới thiệu

http://img-fotki.yandex.ru/get/6711/...069f887_XL.png

Không rõ Hafele và Keating đã kiếm được bao nhiêu tiền tài danh vọng năm 1972 khi tiến hành thử nghiệm với mục đích chứng minh thuyết Tương đối hẹp Anhxtanh? Nhưng rõ là 2 gã may mắn hơn không bị kẹp chết dưới bánh xe như Eddington. Thử nghiệm này không có gì quá phức tạp: mang những đồng hồ nguyên tử “chính xác” lên các máy bay, bay vòng quanh theo hướng đông và tây, sau một thời gian thì so sánh chúng với đồng hồ đặt trên mặt đất.
Hafele và Keating đã lảng tránh cung cấp kết quả thử nghiệm thực trong thuyết trình, họ làm cho người ta ngờ nó đã bị sửa chữa tận gốc kết quả.

Thực sự, kết quả đã bị sửa chữa để tạo ra ấn tượng rằng chúng phù hợp với lý thuyết. Còn số liệu gốc sao lại từ báo cáo ban đầu này, chúng không xác nhận lý thuyết. Những sửa chữa do Hafele và Keating làm đối với dữ liệu thô, cho thấy chúng hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Chúng cũng chứng tỏ các đồng hồ được sử dụng không có độ ổn định đủ để chứng tỏ bất cứ điều gì. Độ lớn biến đổi ngẫu nhiên trong thực nghiệm, khi di chuyển trong không trung đã làm cho các kết quả đo trở thành vô dụng.

SSX 15-08-2013 10:33

Thử nghiệm Hafele & Keating chẳng chứng tỏ cái gì!
 
Chi tiết thử nghiệm

Hafele và Keating vận chuyển đồng hồ nguyên tử xung quanh Trái Đất trong máy bay, chúng đầu tiên bay theo hướng đông và sau đó hướng tây. Để giảm thiểu tác động của biến đổi trong từ trường của Trái Đất, đồng hồ được bảo vệ kép. Bốn đồng hồ đã được sử dụng và thời gian trung bình của chúng được dùng, để giảm bớt ảnh hưởng của những thay đổi trong sai lệch các mẫu riêng so với các đồng hồ tiêu chuẩn tại trạm Washington, DC. Các đồng hồ sử dụng có số thứ tự 120, 361, 408 và 447.

Hình 1:
http://img-fotki.yandex.ru/get/9257/..._258d886_L.png

Hình 1 là bản vẽ nuột các kết quả thử nghiệm, nằm trong bản gốc 1972 của báo cáo Hafele và Keating. Để đánh giá đúng bản chất gấp khúc của các kết quả cần đến tư vấn của tờ giấy này. Tổng thời gian thử nghiệm là 26,5 ngày, thử nghiệm bay hướng đông bắt đầu sau 10 ngày, hướng tây bắt đầu sau 9 ngày bắt đầu thử nghiệm hướng đông. Thời gian vòng quanh là 65,4 giờ về hướng đông và 80,3 giờ hướng tây. Trục đứng trong Hình 1 cho thấy sự khác biệt về thời gian nano giây, như đọc trong khoảng thời gian các giờ trục hoành, giữa số bốn đồng hồ và bản ghi trị số trung bình đồng hồ chuẩn ở trạm. Sự khác biệt, giữa các trung bình của thời gian ghi lại bởi bốn đồng hồ và trạm chuẩn, được sử dụng làm kết quả cuối cùng, và được thể hiện như dòng đứt đoạn đậm. Chúng ta sẽ thấy, Hafele và Keating đã không trích dẫn giá trị trung bình này, nhưng phiên bản đã thay đổi tận gốc.

Dự báo là các đồng hồ sẽ chậm (-40ns) về hướng đông và nhanh (+275 ns)về hướng tây, so sánh với đồng hồ đặt ở trạm làm chuẩn trên mặt đất (theo thuyết tương đối hẹp).

Độ ổn định của đồng hồ

Thời gian ghi lại bởi đồng hồ nguyên tử caesium riêng rẽ ;à hội tụ hoặc phân kỳ khi so sánh với nhau, hoặc so với trung bình chính xác hơn của vài chiếc đồng hồ lớn ở trạm chuẩn mặt đất, chúng hóa ra đã trôi dạt so với chuẩn khác của đồng hồ trạm. Hafele và Keating đề cập đến thực tế là đồng hồ caesium thể hiện những thay đổi ở mức độ nhỏ không thể đoán trước trước. Những mức độ thay đổi này nhìn chung phân biệt được bởi ít nhất 2 hoặc 3 ngày đối với đồng hồ "tốt", một số đồng hồ không có sự thay đổi tốc độ trong các phòng thí nghiệm trong vòng vài tháng.

Winkler et al (1970) cho biết thang thời gian ở Washington- DC, được sử dụng bởi Hafele và Keating như là tiêu chuẩn của họ, tính bằng trị trung bình của khoảng 16 đồng hồ tia cesium loại lớn được chọn lọc. Các đồng hồ được thay thế nếu hoạt động của họ xấu đi. Trong loạt 45 đồng hồ như vậy được sử dụng tại một số trạm, cứ một trong số 6 cái bị hỏng sau hơn hai năm, cải tiến đã được thực hiện khi loại khiếm khuyết đã được xác định. Trong tháng 1 năm 1970, ba cái đồng hồ đã bị thay đổi 16 ns, 18 ns và 68ns mỗi ngày. Hai cái khác đã bị loại bỏ do vận hành kém, trong khi 9 cái cho thấy không có sự thay đổi trong vòng 1 tháng.

Một trong những mục tiêu của thử nghiệm là xác định hành vi của đồng hồ di động trên các chuyến bay theo lịch trình vòng quanh trái đất. Các chuyến bay về hướng đông và tây đã có 13 và 15 hạ/cất cánh tương ứng, có một vài lần thay đổi máy bay.

Ví dụ, thử hướng tây mang đồng hồ từ Washington đến sân bay Dulles, sau đó qua Los Angeles, Honolulu, Guam, Okinawa, Hồng Kông, Bangkok, Bombay, Tel Aviv, Athens, Rome, Shannon, Boston và Dulles , sau đó trở lại điểm xuất phát bằng đường bộ.

Trước năm 1968, thủ tục đã được chấp nhận, theo đó các đồng hồ ổn định hơn đã cho phép tính toán thời gian chuẩn có trọng lượng hơn, sau đó, trị trung bình đơn giản của các đồng hồ đã được chấp nhận. Winkler et al. cho độ lệch chuẩn của giá trị trung bình của 1 nhóm đồng hồ 2ns đến 4ns khi thử nghiệm mỗi 3 giờ trong khoảng 5 ngày. Trong trạm, các đồng hồ được đặt trong sáu hầm, cách ly rung động, và có kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm, nguồn điện cung cấp phức tạp, hệ thống chân không, nguồn tín hiệu và từ trường cố định. Beehler et al. (1965) ghi lại rằng độ chính xác của đồng hồ di động nhỏ hơn là tồi tệ hơn, với hệ số 2, hơn đồng hồ trạm cỡ lớn, chúng bao gồm sự thay đổi trong từ trường trong những ảnh hưởng góp phần vào sự không chính xác của đồng hồ cesium.

Hafele và Keating tuyên bố rằng họ đã chọn bốn đồng hồ bởi vì chúng cho thấy tỷ lệ trôi dạt ổn định trong ít nhất 24 giờ trước khi thử nghiệm. Người ta hy vọng rằng chúng sẽ tiếp tục ổn định trong quá trình thử nghiệm.

SSX 15-08-2013 11:03

Thử nghiệm Hafele & Keating chẳng chứng tỏ cái gì!
 
Thay đổi trong tỷ lệ trôi dạt (nsec/h)

Các đồng hồ di động được sử dụng bởi Hafele và Keating sẽ phải thể hiện một tốc độ trôi dạt ổn định, tương đối so với đồng hồ trạm mặt đất. Ba trong số bốn đồng hồ rất kém trong vấn đề này khiến chúng vô dụng.

Báo cáo thử nghiệm ban đầu năm 1971, do Hafele biên soạn, tác giả có được nó trực tiếp từ Đài quan sát Hải quân Mỹ (USNO - United States Naval Observatory). Hỏi tại sao Hafele và Keating đã tránh đưa những kết quả thử nghiệm thực tế trong thuyết trình năm 1972 của họ. Mức trôi dạt được đưa ra trong Bảng 1 là những gì từ báo cáo này viết một tháng sau khi các cuộc thử nghiệm hoàn thành, và bốn tháng trước khi bản thuyết trình của Hafele và Keating được công bố. Từ những tỷ lệ trôi dạt có thể phân tích chi tiết các hoạt động của bốn đồng hồ.

Tỷ lệ trôi dạt trước và sau thử nghiệm có thể được so sánh để xác định sự thay đổi trong quá trình thử nghiệm. Báo cáo của Hafele năm 1971 cho biết: "Hầu hết mọi người (trong đó có tôi) sẽ phải miễn cưỡng đồng ý rằng thời gian đạt được bằng bất cứ một trong những đồng hồ này là biểu hiện của bất cứ điều gì" và "sự khác biệt giữa lý thuyết và đo lường là đáng lo ngại". Ngoài ra, ông ta cho rằng, đối với một thử nghiệm hữu ích, tốc độ trôi của bất kỳ đồng hồ nào nên không đổi trong toàn bộ thời gian thử nghiệm. Các hạn chế này đã không được đề cập đến trong thuyết trình năm 1972 của Hafele và Keating. Hiệu ứng tương đối sẽ dẫn đến bước thay đổi lớn theo trong thời gian ghi nhận bởi các đồng hồ, trước và sau chuyến bay thử nghiệm, nhưng sẽ không ảnh hưởng đến tỷ lệ trôi dạt.

http://img-fotki.yandex.ru/get/9542/...2b68a36_XL.gif

Bảng 1. Tỷ lệ trôi dạt của cá đồng hồ (nsec/h)
http://img-fotki.yandex.ru/get/6727/...a6d51401_L.jpg

Như bảng 1: Ba cái đồng hồ (120, 361, 408) đã không giữ cùng tỷ lệ trôi dạt khi trên mặt đất, giữa các bài thử nghiệm về hướng đông và hướng tây. Sẽ là càng ít tin cậy hơn khi cùng đồng hồ đó lại sẽ thực hiện phép đo tốt hơn trong khi được vận chuyển trong ghế hành khách trên chiếc máy bay thương mại.

Đồng hồ 120 là thảm họa; nó đã thay đổi từ chậm 4.50 nsec/h đến chậm 8.89 nsec/h ở hành trình bay hướng đông; trong hành trình hướng tây, nó thay đổi từ chậm 8.88 đến chậm 4.56 nsec/h.

Việc kiểm tra Bảng 1 cho thấy, ngoại trừ duy nhất đồng hồ 447, tỷ lệ trôi dạt lại quá là ổn định đến mức làm cho kết quả hoàn toàn vô dụng. Những thay đổi về tỷ lệ trôi dạt đã xảy ra trong chuyến vòng quanh trái đất có nguồn gốc từ Bảng 1 và thể hiện trong Bảng 2 (trừ hàng 2 với 1, hàng 4 với 3). Những thay đổi trong tỷ lệ trôi dạt sẽ phải gần bằng không, để cho có sự tin cậy trong bất kỳ kết luận nào. Việc xem xét tỷ lệ trôi dạt trước và sau thử nghiệm hướng đông và hướng tây (Bảng 1)cho thấy sự khác biệt rất lớn xuất hiện trong các thử nghiệm.

Bảng 2. Thay đổi trong tỷ lệ trôi dạt ở các thử nghiệm
http://img-fotki.yandex.ru/get/9093/...2d82bfb0_L.jpg

Thay đổi đến hoang dại trong tỷ lệ trôi lẽ ra đã dẫn đến việc toàn bộ thử nghiệm phải bị tuyên bố là thất bại. Các tác giả đã nhận ra rằng tỷ lệ trôi dạt ổn định là điều kiện tiên quyết của một thử nghiệm có ý nghĩa. Báo cáo năm 1971 cho biết "Đặc biệt trong trường hợp của 361 sau khi chuyến bay hướng đông, đó là không chắc tỷ lệ nào sau chuyến bay", và "đồng hồ caesium di động không thể được trông cậy sẽ thực hiện tốt dưới các điều kiện di chuyển như chúng thực hiện trong phòng thí nghiệm. Kết quả của chúng tôi cho thấy những thay đổi lớn đến 120 nsec/ngày có thể xảy ra trong các chuyến đi với các đồng hồ mà đã chứng tỏ làm việc tốt hơn đáng kể trong phòng thí nghiệm ".

Thay đổi trong tỷ lệ trôi dạt trong chuyến bay có thể là kết quả của sự thay đổi dần dần, hoặc một loạt các thay đổi đột ngột.

Thời gian bay vòng hướng đông 65,4 giờ sẽ tích lũy thay đổi về mặt lý thuyết dự báo -40nsec với tỷ lệ trôi dạt -0.6nsec mỗi giờ. Các số liệu trong Bảng 2, như đã nói ở trên, sẽ phải ghi bằng 0, nhưng sự thay đổi đó không phải là nhỏ hơn 0.6ns mỗi giờ, nói rằng ít nhất, một hệ số 5 sẽ xáo trộn bất kỳ kết quả nào. Điều này có nghĩa là không đồng hồ nào có bất kỳ giá trị đạt đến bất kỳ kết luận nào trong thử nghiệm hướng đông, độ chính xác sẽ cần phải tốt hơn bằng 2 bậc độ lớn. Trong thử nghiệm hướng tây, sự thay đổi dự báo theo lý thuyết +275nsec sẽ được tích lũy trong thời gian chuyến đi 80,3 giờ ở một tỷ lệ trôi dạt 3,4nsec mỗi giờ. Thay đổi tỷ lệ trôi dạt sẽ phải là nhỏ hơn 0.7 nsec mỗi giờ để sử dụng được, một lần nữa, không có kết quả nào có thể sử dụng được với mọi sự tin tưởng.

Hình 2:
http://img-fotki.yandex.ru/get/6713/...1d3603c_XL.png

Hình 2 mô tả một bản phác thảo của Hafele và Keating phóng to trị trung bình của bốn đồng hồ (như được đưa ra trong thuyết trình của Hafele và Keating) cho giai đoạn ngay trước và sau thử nghiệm hướng tây. Một đồ thị tương tự cho hướng đông. Theo yêu cầu của lý thuyết, các đường xu hướng mà họ vẽ cho các giai đoạn trước và sau thử nghiệm là song song, nhưng có một bước nhảy lớn xuống và lên tương ứng ở hướng đông và hướng tây. Sự thay đổi do tác động hiệu ứng tương đối dự báo sẽ, tất nhiên, diễn ra từ từ trong chuyến bay, nhưng chỉ có thể xác định được là bước kết quả thay đổi xuất hiện sau thử nghiệm, bởi vì không có cách nào để so sánh với các trạm mặt đất trong khi bay.

Thời gian bắt đầu cho các chuyến bay được xác định bằng khởi hành củ máy bay thương mại. Thử nghiệm hướng tây đã bắt đầu sớm hơn khoảng 12 (xem hình 2b), xu hướng trôi dạt trước khi thử nghiệm rất khác nhau. Bằng cách sử dụng trung bình của bốn đồng hồ để hoàn tất như thể hiện bởi Hafele và Keating trên (hình 2a), sự thay đổi thời gian xấp xỉ không có thể được suy luận hợp lý cho các thử nghiệm về hướng đông, thực sự là báo cáo năm 1971 mô tả các kết quả về hướng đông là "âm ổn định hay gần bằng 0".

Các thay đổi là ngẫu nhiên và có thể xảy ra theo hướng hoặc là + hoặc -. Đồng hồ 120 thay đổi theo tỷ lệ trôi dạt -4,39 nsec/h trong lần kiểm tra về hướng đông và +4,31nsec/h trong lần thử hướng tây, không thể nói là đồng hồ này có một sự thay đổi tỷ lệ trôi trung bình của 0,04nsec/h; thực sự đây là đồng hồ làm việc thất thường nhất. Điều này cũng giống như nói rằng một chiếc đồng hồ, chạy nhanh 10 giờ trong tuần đầu tiên và chạy chậm 10 giờ trong tuần thứ hai, là một chiếc máy hoàn hảo! Từ hình 1, đồng hồ 447 thể hiện có một sự thay đổi nhỏ trôi dạt trong giai đoạn 100 giờ trong thử nghiệm đến khi kết thúc thử nghiệm hướng tây. Đồng hồ này, làm việc ổn định nhất, nếu được chọn, kết quả tổng thể sẽ là 0.

Xu hướng thể hiện trong hình 2 có được từ trung bình của 4 đồng hồ. Kết quả từ các đồng hồ riêng rẽ không được công bố, họ công bố lần đầu tiên ở đây trong cột 2 và cột 5 Bảng 3 (in đậm). Lấy trung bình toán học của cột 2 hoặc 5 là vô nghĩa; trên chuyến đi về hướng đông, đồng hồ 408 đã thêm +166ns, trong khi lý thuyết tương đối dự báo mất -40ns; trong chuyến đi hướng tây, đồng hồ 361 mất -44ns, trong khi lý thuyết này dự báo thêm +275ns!

SSX 15-08-2013 11:04

Thử nghiệm Hafele & Keating chẳng chứng tỏ cái gì!
 
Kết quả thử nghiệm

Bảng 3. Kết quả thử nghiệm của Hafele và Keating alterations (nsec)
Cột 2 và 5 là kết quả đo đếm nguyên gốc, các cột còn lại là 2 ông đã sửa chửa nhào nặn số liệu cho khớp với thuyết tương đối.

http://img-fotki.yandex.ru/get/9506/...3fe40d7_XL.gif
Ghi chú :
(1) The -59ns và +273ns là trị số trung bình Hafele và Keating tìm được so sánh với -40ns và +275ns theo lý thuyết. (2) Độ lệch chuẩn thấy được với phương pháp thứ 2 tương ứng là 10 và 7; the 7 sẽ phải đọc là 9. Bảng 3 là tập hợp “kết quả”, nó cho thấy Hafele và Keating đã sửa chữa quá nhiều thứ trong đó để có số liệu phù hợp với lý thuyết.

Các số liệu thể hiện là "Kết quả thử nghiệm" trong Bảng 3 là những thay đổi nano giây chứng tỏ bởi mỗi đồng hồ, từ những gì là kết quả, tại tỷ lệ trôi dạt có lúc bắt đầu các chuyến bay. Ví dụ, tốc độ trôi của đồng hồ 361 trước chuyến bay về hướng đông là 2,66 nsec/h, so với các đồng hồ trạm chuẩn tại Washington . Chuyến bay kéo dài 65,42 giờ và, ở mức đó, đồng hồ này đã nhanh thêm +174 ns so với Washington; nhưng nó chỉ thêm +120 ns, do đó chứng minh rằng nó đã mất +54ns trên chuyến bay.

Như đã thấy trong bảng 3, có hai trường hợp khi một chiếc đồng hồ thay đổi ngược hướng lý thuyết; cái 408 trong thử nghiệm hướng đông (chạy nhanh, đánh dấu G trong hình 1 ở trên) và 361 trong thử hướng tây (chạy chậm, đánh dấu L). Cái gọi là “kết quả” của Hafele và Keating thử nghiệm hướng đông (-59 ns) là ít hơn, với hệ số 2,8 ngược dấu để có được sự thay đổi thời gian của đồng hồ 408.

Nỗ lực đầu tiên của Hafele và Keating để có kết quả gần với dự báo lý thuyết là lấy trung bình của giá trị trôi dạt trước và sau một chuyến bay, và cho rằng trung bình này là tỷ lệ trôi dạt áp dụng trong suốt chuyến bay. Điều này tương đương với giả định rằng chỉ có một sự thay đổi đột ngột duy nhất trong tỷ lệ trôi dạt xảy ra giữa đường. Giả định như vậy sẽ tạo một số niềm tin sự thay đổi trong tỷ lệ trôi dạt rất nhỏ ví dụ thay đổi +3,34 đến +3,35 nsec/h, trong đó sẽ không ảnh hưởng nhiều đến kết quả cuối cùng. Tỷ lệ trôi dạt thực tế (Bảng 1) tăng gấp đôi (một đồng hồ từ -4,5 đến-8.9 ns/h) hoặc giảm đi một nửa (+4,8 đến +2,2 ns/h; -8.9 đến -4.6 ns/h) hoặc đảo ngược (-1.8 đến +3,2 ns/h).

Những thay đổi sửa chữa đã được thực hiện để có kết quả thử nghiệm, sử dụng phương pháp thứ nhất, như thấy trong cột 3 và cột 6 của bảng 3. Sau khi thực hiện những thay đổi đó, và tạo ra hình 2, Hafele và Keating đã gạt bỏ chính cách tiếp cận trên cơ sở rằng nó "phụ thuộc vào sự ngẫu nhiên không chắc chắn rằng chỉ có một tỷ lệ thay đổi xảy ra trong mỗi hành trình và sự thay đổi này xảy ra giữa các hành trình"; họ thêm rằng không có phương pháp rõ ràng để ước lượng các sai số thử nghiệm của một giả định như vậy. Họ, thực sự đã xác định 7 sự thay đổi trong tỷ lệ trôi dạt trên một đồng hồ, 4 trên chiếc khác và 2 trên chiếc thứ ba.

Dù đã bác bỏ phương pháp này, họ vẫn công bố biểu đồ (tương ứng với hình 2 ở trên), dựa vào phương pháp đó, họ mô tả nó như là khả năng "các kết quả định tính thuyết phục". Nó được công bố bởi vì nó nhìn thuyết phục và không phải vì nó đưa ra một hình ảnh có lý của kết quả thử nghiệm. Để người đọc không nghi ngờ, các đồ thị này trông giống như bằng chứng về sự thành công của cuộc thử nghiệm.

Hafele và Keating tiếp theo sử dụng một phương pháp khác để sửa chữa các dữ liệu thử nghiệm. Nó là không thể, trong quá trình bay thử nghiệm, kiểm tra vận hành của đồng hồ so với trạm tiêu chuẩn; khi thử nghiệm kết thúc, đo đạc độ trôi, tương đối với đồng hồ trạm chuẩn, và lại tiếp tục. Tuy nhiên, so sánh đã được thực hiện giữa 4 đồng hồ trong các chuyến bay đã được sử dụng bởi Hafele và Keating, để quyết định xem liệu một đồng hồ đã bị những gì được coi là thay đổi đột ngột trong mẫu, trong trường hợp này người ta cho rằng vận hành của 3 cái khác là đúng. Lý do là "ngẫu nhiên mà 2 hay nhiều đồng hồ thay đổi tỷ lệ cùng một lượng tương tự theo cùng một hướng cùng một lúc là nguyên do hết sức đáng kể". Sửa chữa đã được thực hiện cho 14 thay đổi:

Đồng hồ 120 bị sửa 3 thay đổi về hướng đông và 1 hướng tây; Đồng hồ 361 sửa 3 hướng đông và 4 hướng tây; Đồng hồ 408 sửa 2 hướng đông; Đồng hồ 447 sửa 1 hướng đông. Những chỉnh sửa đã được thực hiện sau báo cáo năm 1971 này được công bố. Có thể là chính đáng để bỏ qua một sự thay đổi đột ngột cô lập đơn nhất trên một đồng hồ trong thời gian hoàn thành 26,5 ngày, nhưng đã thực hiện sửa chữa 14 sự thay đổi như vậy trong 6 ngày của các chuyến bay và mức sửa vượt quá kết quả dự báo đến 5,5 lần thì quả là ngoạn mục.,

Trạm chuẩn USNO đã có một số năm trước đây chấp nhận một thực tế thay thế trong khoảng thời gian nào đó đồng hồ bị cho là có đặc điểm tồi tệ nhất. Trên cơ sở tương tự, kết quả của đồng hồ 120 cần phải được bỏ qua. Cái đồng hồ thất thường đó đã góp vào tất cả các thay đổi trong thời gian thử nghiệm hướng đông và 83% thử nghiệm hướng tây, như được đưa ra trong báo cáo năm 1971. Giảm bớt cái đồng hồ hoàn toàn không đáng tin cậy này, kết quả sẽ là trong 5ns và 28ns của 0 trên các bài thử về hướng đông và hướng tây tương ứng. Đây là kết quả không thể được giải thích là chứng minh bất cứ điều gì khác biệt giữa hai hướng của các chuyến bay.

Kết quả kiểm tra thực tế (cột 2 và cột 5 của Bảng 3) là rất khác nhau với các con số bị thay đổi sản sinh ra theo phương pháp thứ hai (cột 4 và cột 7). Những con số trong cột 4 và 7 là những gì duy nhất chỉ được công bố vào năm 1972, chúng tạo ấn tượng rất sai lầm rằng kết quả là tương thích thuyết tương đối, như thể chúng là tất cả các dấu hiệu dự báo, trong một biên độ hẹp.

Ví dụ về sửa chữa vô lý từ kết quả thử nghiệm thực tế đối với phiên bản sửa đổi là:
Đồng hồ 408 (hướng đông) 'chữa' từ +166nsec thành -55nsec;
Đồng hồ 361 (hướng tây) chữa' từ -44nsec thành +284nsec.

Đồng hồ 447 đã bị chữa từ +26 nsec thành + 266 nsec trong thử hướng tây, điều này là hệ số 10. Tuy nhiên, thuyết trình của Hafele và Keating nói rằng thay đổi không đáng kể trong tỷ lệ trôi là thấy được ở đồng hồ 408 và 447 trong hành trình hướng tây". Điều sửa chữa dữ liệu vô sỉ này quá là đê tiện. Đồng hồ 447 là chiếc duy nhất đã có một tỷ lệ trôi dạt khá ổn định trong các bài thử nghiệm. Báo cáo năm 1971 tuyên bố rằng "tỷ lệ thay đổi đó là lớn hơn đáng chú ý so với những chiếc tiêu biểu trong phòng thí nghiệm, xảy ra đối với mỗi đồng hồ trong ít nhất một trong những chuyến bay, ngoại trừ đồng hồ 447". Tại sao sau đó họ đã không sử dụng kết quả của chiếc đồng hồ ổn định này và loại bỏ 3 cái kia?

Hai cái đồng hồ này đã bị sửa chữa từ +3,5 và -5,5 lần trong hướng đông để hợp với kết quả dự báo lý thuyết -40nsec, ba cái đồng hồ đã bị sửa chữa 0,5 đến 1,2 lần để hợp với kết quả dự báo lý thuyết +273nsec.

Hafele và Keating cho biết các con số của các giá trị đo đạc được là quá nhỏ cho phân tích thống kê thích hợp, tuy nhiên, họ đã đưa ra độ lệch chuẩn của bốn kết quả trên hai thử nghiệm, theo trích dẫn trong Bảng 3. Điều này tạo ra ấn tượng nhầm lầm rằng các kết quả được phân loại tin cậy và chặt chẽ.

Mục đích của những thử nghiệm này là để chế tác ra một xác nhận thuyết tương đối, hay là để đem đến những kết quả thử nghiệm khách quan đáng tin cậy?

Kết luận

Thử nghiệm Hafele-Keating chẳng chứng tỏ điều gì. Độ chính xác của các đồng hồ phải đạt đến mức độ cao hơn 2 lần để cho các kết quả tin cậy. Kết quả thử nghiệm thực sự, thứ không được công bố, đã bị sửa chữa thay đổi bởi Hafele-Keating để tạo ra ấn tượng rằng họ đã khẳng định lý thuyết. Duy nhất 1 đồng hồ số 447 đã bất ngờ làm việc ổn định suốt quá trình thử nghiệm. Kết quả thu được của nó cho thấy chẳng có khác biệt nào trong thử nghiệm bay về hướng đông và hướng tây.

Thử nghiệm chứng minh thời gian co giãn tương đối hẹp Anhxtanh hóa thành món cám lợn Hafele & Keating!

Tất cả các thử nghiệm “chứng minh” Anhxtanh đều như vậy.

Loại bỏ Anhxtanh! Ngày nay có rất nhiều cản trở. Trong bối cảnh nhân loại đang tiến bộ giật lùi, càng ngày càng ngu hóa, càng có ít người muốn loại bỏ, càng ít phương tiện và tiền bạc để lặp lại thử nghiệm. Còn thử nghiệm thì ngày càng phức tạp. Giới biết chữ nhưng ngu dốt học thuật sọ bị nhồi chặt hành xử theo thói quen niềm tin tôn giáo. Những thế lực cầm quyền cản trở vì lo sợ nó kéo theo vô số hệ lụy loại bỏ khác trong kinh tế chính trị xã hội khoa học.

Nhưng điều cần thiết ngày nay là: Loại bỏ ngay rác rưởi cặn bã bệnh hoạn Anhxtanh. Để đến với con đường lành mạnh và tiến bộ, chẳng có cách nào khác.

Chúng ta sẽ thấy những thử nghiệm khác, phức tạp hơn nữa, như Probe-B, GPS… nhưng cùng một kiểu nhào nặn bóp méo như thời Eddington, Hafele và Keating chỉ là thêm 2 con lợn nữa trong đàn lợn đã quá đông đảo kiếm ăn bằng danh vọng tiền tài dưới bóng tượng thần thiên tài vĩ đại Anhxtanh.

Tiếp theo chúng ta xem xét vệ tinh Probe-B và hệ định vị toàn cầu GPS “chứng minh” Anhxtanh!

SSX 17-08-2013 03:17

Gravity Probe B - NASA chứng minh Einstein
 
Xác nhận thuyết tương đối rộng của Einstein
http://vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2004/10/3B9D7B72/

NASA Gravity Probe Confirms Two Einstein Theories
SPACE.com http://www.space.com/11570-nasa-grav...elativity.html

http://einstein.stanford.edu/highlig...1024x662px.jpg

Gravity Probe B (GPB), vệ tinh chứng minh Anhxtanh phóng năm 2004 với 2 hiệu ứng:
Geodetic effect: hiệu ứng uốn cong, trắc đạc;
frame-dragging: hiệu ứng kéo qui chiếu;

Sau nửa thế kỷ nghiên cứu với kinh phí lên tới 750 triệu đô la, các nhà khoa học thuộc dự án Gravity Probe B của NASA đã có đủ bằng chứng để khẳng định không - thời gian bị uốn cong và cuốn quanh hành tinh của chúng ta khi nó quay.

Đây là điều đã được Einstein đưa ra trong lý thuyết tương đối rộng. Theo đó, quả táo rơi xuống mặt đất không phải vì nó bị tác động của trọng lực, mà vì nó phản ứng với độ cong của không gian - thời gian gần bề mặt Trái Đất.

Tương tự, Mặt Trời uốn cong vũ trụ nên Trái Đất có thể quay quanh nó.

Francis Everitt của Stanford cho biết cong và xoắn bằng một ví von: Hãy tưởng tượng trái đất như thể nó ngập mình trong mật ong. Khi hành tinh xoay quanh trục của nó và quay quanh Mặt Trời, mật ong xung quanh nó sẽ nó sẽ trũng xuống và xoáy, và đó là tương tự với không gian và thời gian.

Theo wiki (mọi loài ăn cám đều khoái wiki), lấy số liệu của cái lò nấu cám này để các liệt não khỏi cãi.

Hiệu ứng "đường trắc đạc" theo tương đối rộng Anhxtanh vĩ đại (trong trường hợp này) là −6,601.8±18.3 mas/năm

Hiệu ứng "kéo qui chiếu” theo tương đối rộng Anhxtanh vĩ đại (trong trường hợp này) là −37.2±7.2 mas/năm.

Tất nhiên đã là NASA và Stanford thì cực kỳ, sai số chẳng đáng bao nhiêu, đường trắc đạc 1% và kéo qui chiếu 15%. [B]Có fan Anhxtanh nào đủ trình giải thích hộ, tại sao với độ chính xác tuyệt vời mà lại có con số sai số +- chết cười như thế này không? −6,601.8±18.3 ; −37.2±7.2

Cần phải nói lại là, Anhxtanh vĩ đại tuyên 2 hiệu ứng hấp dẫn tương ứng ở trên là hiệu ứng uốn cong không gian và hiệu ứng xoắn không gian do hấp dẫn và đối tượng hấp dẫn quay (như trái đất).

Cái đơn vị đo mas/năm là mili giây cung/năm tức là 1/360/1000 độ góc/năm. Tương ứng 1.835E-6 độ/năm và 11E-6 độ/năm; Cái hình vẽ Stanford ở trên thậm chí ghi sai số liệu thành 0,0018 độ/năm.

Vệ tinh càng bay lâu thì số đo càng lớn và giờ đủ lớn + chính xác nên NASA cùng Stanford công bố cho bàn dân thiên hạ Anhxtanh và mình thật vĩ đại.

Không gian vũ trụ theo nhà vĩ đại bị cong với xoắn.

Nhưng ơ kìa, hình như quả đất 4 tỷ năm tuổi.

Trong 4 tỷ năm đó, không gian tự nó bị "hấp" làm cong với xoắn tương ứng đến 7340 vòng và 43600 vòng;

Vậy làm sao có vệ tinh nào bay với quay đủ bằng ấy vòng để thoát ra quĩ đạo. Ánh nắng từ mặt trời, ánh trăng dịu dàng mỗi hôm rằm chả lẽ khi đến trái đất lại phải quay đủ bằng ấy vòng? Thế mỗi khi nhìn lên các vì sao, lại quay vòng vòng, xoăn xoắn những bằng ấy?

Thế giới này toàn lợn!!! Những con lợn tai to mõm dài nhất là ở Mỹ, Harvard, Stanford…

Vũ trụ cong với xoắn! Tại sao quan niệm ngớ ngẩn như vậy lại thành thiên tài?

Lại nói về Stephen Hawking, ông là một trong những cây đại thụ vật lý-thiên văn ngày nay. Ông cũng có những sai lầm nhưng ông đã nhận và sửa chữa. Tôi đã sai... và không vì thế mà uy tín của ông sứt mẻ.

Stephen Hawking khi viết về lịch sử thuyết tương đối đã thừa nhận rằng rất nhiều thứ trong đó, như là Hilbert đã công bố thuyết tương đối rộng trước Anhxtanh và rằng FitzGerald, Lorentz đã đưa ra khái niệm tương đối từ lâu trước Anhxtanh.

Ông cũng còn viết rằng:

"Anhxtanh... bị bối rối cao độ bởi công việc của Werner Heisenberg ở Copenhagen, Paul Dirac ở Cambridge và Erwin Schrödinger ở Zurich, những ông này đã mở ra một bức tranh mới của hiện thực gọi là cơ lượng tử... Anhxtanh khiếp sợ bởi điều đó... Hầu hết các nhà khoa học, tuy nhiên, đã chấp nhận tính đúng đắn của qui luật lượng tử mới bởi chúng chứng tỏ phù hợp tuyệt vời với các quan sát... Chúng là cơ sở của phát triển hiện đại trong hoá học, sinh học phân tử, điện tử và là nền móng của công nghệ làm biến đổi thế giới trong nửa thế kỷ qua."

Thật trớ trêu, bài viết trên của ông được đăng trên Times Magazine, cùng một nơi đã bầu Anhxtanh là nhân vật thế kỷ.

Sẽ phải truy đến gốc trong quan niệm của Anhxtanh mới sáng tỏ cái ngớ ngẩn này. Anhxtanh lẫn lộn không chỉ vật lý, mà cả triết học. Ông ta quan niệm thời gian, không gian… cả vũ trụ là vật chất. Hiển nhiên sau này, sống chết vì thuyết thống nhất toàn vũ trụ.

Có những phá cách kiểu này từ thế kỷ XIX, thí dụ người ta coi nhiệt độ là vật chất. Nhưng quan niệm chính thống, nhiệt độ, thời gian, chuyển động, kích thước 3 chiều XYZ... là thuộc tính của vật chất.

Hầu hết mọi người dường như không quan tâm đến việc một hiện tượng cụ thể là vật chất hay chuyển động của vật chất hay gì khác. Vì thế mà khi Anhxtanh trong tương đối hẹp lén lút đồng nhất chuyển động với thời gian với kích thước đã không ai nhận ra. Ngày nay vẫn vậy, thời gian, không gian, khối lượng, năng lượng... bị đồng nghĩa là vật chất, chứ không phải thuộc tính của vật chất.

Thuộc tính có nghĩa là phụ thuộc, thế nhưng trong đời sống hàng ngày, người ta có thói quen làm nó trở thành khách quan, ví dụ nói, tiết kiệm thời gian, sử dụng, tạm gác, tạo thời gian, hay thậm chí “thời gian ơi, quay trở lại cho ta nói với nàng đôi lời…” Điều đó như thể thời gian là vật tồn tại, vô hình tạo mảnh đất màu mỡ cho những sai lầm phổ biến. Không chỉ có vậy, thực sự là trong truyền thuyết, trong cổ tích, rất nhiều những câu chuyện mộng mị về thời gian và không gian. Thêm một mảnh đất nữa cho cỏ dại dị dạng mọc đầy. Thế rồi, xuất hiện nhà vĩ đại tuyên thời gian co giãn, kích thước co giãn.

Nhưng thời gian không phải là vật chất, nó là thuộc tính, nên không thể có chuyện như “nghịch lý sinh đôi”. Đồng hồ là dụng cụ đo thời gian, đồng hồ cơ học quả lắc hoạt động dựa vào dao động quả lắc, nghĩa là phụ thuộc vào trọng lực. Mang chiếc đồng hồ ấy lên đỉnh núi Himalaya nó sẽ chạy khác với ở mặt biển. Đồng hồ nguyên tử dựa trên dao động phát xạ càng phụ thuộc nhiều yếu tố, nó sẽ nhanh chậm phụ thuộc vào điện từ trường, gia tốc, lực hấp dẫn, áp lực lên nguyên tử, rung động cơ học hay thậm chí là nhiệt độ. Nếu như nó hoạt động hoàn toàn độc lập, nghĩa là nhanh hay chậm chỉ phụ thuộc vào mỗi thiên tài Anhxtanh, thì đã chẳng có sai số.

Trong vật lý, có rất nhiều ý tưởng hay phát minh về chuyển động giúp chúng ta hiểu được hai hiện tượng chính - vật chất và chuyển động, và cũng có nhiều mô hình để mô tả. Thí dụ F=ma; lực bằng khối lượng nhân gia tốc của Newton hay mô hình chất điểm, mô hình di chuyển khả dĩ trong Cơ lý thuyết. Vật chất và chuyển động là 2 hiện tượng có quan hệ với nhau nhưng lại riêng biệt. Không ai có thể mang một túi lực về nhà, một kích thước 3 chiều hay một núi thời gian đến cô bạn gái, hoặc một xe ki-lô-oát đến nhà mẹ vợ. Chỉ khi kết hợp chúng bằng những thuật ngữ phá cách, không có cơ sở thực nghiệm, con quái vật Anhxtanh mới ra đời.

Thuyết tương đối, hay khái niệm không-thời gian cũng vậy, nó là một mô tả, không phải là vật chất. Chỉ khi đánh đồng nó là vật chất, không thời gian Anhxtanh là vũ trụ mới có cái nực cười ánh sáng trăng đến trái đất phải xoắn hàng nghìn vòng… như Anhxtanh.

Khái niệm không-thời gian cong bây giờ quả là quá mơ hồ lộn xộn bởi giáo phái Anhxtanh. Bạn coi đó là ý tưởng, mô tả, tính toán, là học thuyết, triết học hay gì gì đó cũng được, nhưng không-thời gian Anhxtanh tuyệt đối không phải là không gian vũ trụ, thứ đang chứa trái đất và bạn khi đang ngồi đọc những dòng này.

Nếu như vào thời đại ngày nay, Eddington mà vác kính thiên văn đi đo nhật thực rồi phán rằng không thời gian là cong theo đúng thuyết tương đối rộng Anhxtanh, thì hắn ta sẽ chẳng còn cái răng nào mà nhai. Người ta biết quá rõ mặt trời có khí quyển, hơn nữa là khí quyển plasma, nó khúc xạ uốn cong ánh sáng hoàn toàn giống lăng kính. Chẳng có chỗ cho không thời gian cong Anhxtanh. Thế nhưng tai to mõm dài Mỹ làm chuyện đó, không những chả ai dám nói năng gì mà còn xì xụp vái lạy Anxtanh vạn tuế vạn vạn tuế!

Nhân loại vẫn đang loay hoay với 2 hiện tượng cơ bản: vật chất và chuyển động của vật chất. Nếu có thì thêm hiện tượng thứ 3, tiền tài địa vị đè bẹp cả hiện thực khách quan.

SSX 17-08-2013 12:11

Gravity Probe B - NASA chứng minh Einstein
 
http://img-fotki.yandex.ru/get/9114/...1a30284_XL.jpg
Artist concept of Gravity Probe B orbiting the Earth to measure space-time, a four-dimensional description of the universe including height, width, length, and time. Image credit: NASA

Có 1 người thấy Gravity Probe B là trò hề lố bịch. Đó là Miles Mathis ttp://milesmathis.com/

Một lần nữa, đó là độc giả của tôi bắt tôi phải cập nhật. Tôi không tự mình đọc tuyên truyền hiện nay, vì tôi biết đó là cái gì. Nhưng độc giả của tôi hỏi tôi các câu hỏi về các bài viết mới, và đôi khi tôi cảm thấy mình phải tiếp tục bày tỏ tuyên truyền nó là lộ liễu như thế nào, và tham nhũng vật lý là như thế nào. Trong trường hợp này, tôi đã được gửi bài viết này từ NASA về vệ tinh thăm dò hấp dẫn. Nhiệm vụ thăm dò hấp dẫn này được tạo ra để kiểm tra lý thuyết độ cong không gian của Anhxtanh, và chúng ta được họ nói rằng nó được khẳng định hoàn toàn, trong một “kết quả thiên anh hùng ca”. Clifford Will từ Đại học Washington ở St. Louis con đi xa hơn: "Một ngày", ông ta đoán, "điều này sẽ được viết trong sách giáo khoa như là một trong những thí nghiệm kinh điển trong lịch sử vật lý."

Sẽ như thế ư? Có thể là, như một ví dụ về khả năng của chúng ta để làm cho tròn một quả bóng (tác giả ám chỉ quả cầu con quay hồi chuyển độ chính xác cực cao). Nhưng như một bằng chứng về độ cong của không gian hay bất cứ cái gì như thế, thì nó sẽ được ghi nhớ chỉ vì sự mù quáng của nó. Chúng ta đã được lập kế hoạch và tài trợ cho nhiệm vụ này từ năm 1963, chúng ta nghe kể, gọi là một chút lâm ly thống thiết chúng ta không biết gì hơn về các cơ chế cơ bản của hệ thống mặt trời hơn chúng ta đã làm 48 năm trước đây. Mặc dù thực tế là vật lý thiên văn đã bị chiếm cứ bởi các nhà vật lý hạt, và mặc dù thực tế là vật lý hạt dựa trên điện tích, một nửa thế kỷ sau, chúng ta vẫn bị đui mù đối với lĩnh trường điện tích hoạt động trong vũ trụ.

Tôi sẽ trở lại với điện tích, nhưng đầu tiên tôi muốn nhắc bạn rằng cũng dự án Gravity Probe B được đánh giá cấp độ F trong xem xét lại của NASA năm 2008 bởi một nhóm các chuyên gia tư vấn cao cấp, và từ chối bất cứ tài trợ thêm nào nữa, họ nói "việc giảm nhiễu cần thiết để thử nghiệm một cách nghiêm ngặt độ lệch theo thuyết tương đối rộng là rất lớn đến mức mọi nỗ lực thám hiểm bởi thí nghiệm này rốt cục sẽ phải vượt qua hoài nghi to lớn trong cộng đồng khoa học", (và theo quan điểm của chúng tôi, cũng là hợp lý). Họ tiếp tục:

Dữ liệu nhiễu có nghĩa là Gravity Probe B không thể đo đạc được hiệu ứng cũng chính xác như các nhà thiên văn đã có bằng cách bắn chùm tia laser vào tấm gương bỏ lại trên mặt trăng bởi các phi hành gia Apollo.
Tôi sẽ cho qua từ bây giờ. Tôi chỉ muốn cho các bạn biết đó là thử nghiệm GPB (Gravity Probe B) đã nỗ lực để tốt nhất.

SSX 18-08-2013 09:11

Gravity Probe B - NASA chứng minh Einstein
 
Tóm lại, cái mà thử nghiệm GPB làm là đo độ nghiêng của con quay hồi chuyển nhỏ.

http://img-fotki.yandex.ru/get/9362/...bf3961e5_M.jpg
Con quay hồi chuyển

Nếu nghiêng là số 0, không có độ cong của không-thời gian. Nếu nghiêng là không bằng 0, chúng ta cứ coi như là bằng chứng về độ cong. Con quay hồi chuyển bị nghiêng vì không gian bị uốn cong.

Vấn đề chính là ở chỗ hoàn toàn không có nỗ lực trong thử nghiệm này để xem xét, đề cập, hay cố gắng để cô lập nguyên nhân chính gây ra nghiêng đó. Họ chỉ đơn giản cho rằng bất kỳ kết quả nào khác 0 đều là bằng chứng tích cực của lý thuyết của họ và bất kỳ độ nghiêng nào mà không phù hợp với con số họ cần chỉ là một sự bất thường hay "khả năng quan sát" mà có thể được giải thích sau đó. Đó là khoa học kinh tởm, bất kể bạn nhìn nó như thế nào.

Tất nhiên, bạn có thể nói rằng sẽ là luôn luôn khó khăn khi xem xét thứ không rõ trong một thử nghiệm. Các nhà khoa học chỉ có thể giải quyết các yếu tố được biết khác, và trường điện tích tôi đề cập đến là không được biết đến đối với họ. Nhưng điều đó không thừa bởi nó phải được biết đến đối với họ. Ngay cả khi không có tôi hét vào tai họ cả một thập kỷ, họ đã có bằng chứng phong phú về điều đó, trong nhiều thế kỷ. Tiếp tục làm ngơ điện tích ở tầm vĩ mô, và chỉ giải quyết hiệu ứng nào đó của nó, như các trường cục bộ, là dấu hiệu rõ rệt của thiếu năng lực.

Cũng rõ ràng trong nháy mắt là những con số trong thí nghiệm này đã bị thúc ép để tạo ra sự thừa nhận. Tôi không thể cho các bạn biết chính xác như thế nào từ bài viết này, vì họ không cung cấp số liệu, nhưng chúng ta có thể cho rằng họ đã làm nó giống như cách họ đã làm trong thử nghiệm Hafele-Keating. Tôi thực sự đã phơi bày thử nghiệm Hafele-Keating là giả dối, và trong thử nghiệm này họ làm cùng một thứ như họ đã làm ở đây: đồng hồ nguyên tử, các nguyên tử bị ảnh hưởng bởi từ trường. Tất cả vật chất đều bị ảnh hưởng bởi từ trường, vì không có gì là hoàn toàn không từ tính. Ion còn bị ảnh hưởng nhiều hơn. Kể từ khi đồng hồ nguyên tử vận hành nhờ vào các nguyên tử, chúng ta có thể suy luận rằng đồng hồ nguyên tử bị ảnh hưởng bởi trường điện từ E/M.

Họ tuyên bố độ chính xác cao trong đo lường, nhưng lại làm ra món hổ lốn be bét nằm ngoài lý thuyết cơ bản và tất cả các quy tắc khoa học. Thử nghiệm Hafele-Keating là một trong những nơi mà các máy bay với đồng hồ nguyên tử bay quanh trái đất, và các đồng hồ đã thêm hoặc mất phần nhỏ của giây so với đồng hồ trên mặt đất. Nhưng ở đó, cũng như ở đây, các kết quả khác không chỉ là giả định bị gây ra bởi hấp dẫn, không có nỗ lực nào để xem xét, thảo luận, đánh dấu, hoặc giới hạn bất cứ hiệu ứng nào khác. Chỉ là ví dụ rõ ràng nhất, lĩnh vực E/M bị làm ngơ hoàn toàn trong cả 2 thử nghiệm! Điều này mặc dù thực tế là lĩnh vực E/M được biết là có đối xứng chirality, và được biết là ảnh hưởng đến con quay hồi chuyển và đồng hồ nguyên tử.

Chúng ta cũng biết rằng phải mất ít nhất 4 năm để đẩy các con số vào hàng lối, kể từ khi đầu dò đã bị mắc liệt từ lâu. Mọi thời gian bị kéo dài đến 4 năm, thì bạn biết bạn có các số con số khá bẩn thỉu.

Nhưng quay lại với điện tích. Khi tôi nói điện tích, không có nghĩa là một số dạng tĩnh điện cần phải được giải trừ hay một cái gì đó. Những ai đến đây một lần nữa, những người đã không đọc các báo cáo khác của tôi, có thể cần phải chú ý. Khi tôi nói điện tích, nghĩa là nói về cơ học lượng tử: dương và âm ở electron và proton, được cho là ảo, hoặc gián tiếp bởi các photon ảo. Tôi đã chỉ ra rằng đây là điện tích làm nền tảng cho trường E/M, và nó là như nhau ở mức độ vĩ mô cũng như ở cấp độ lượng tử. Tôi đã bỏ rơi các photon ảo hoặc truyền tin và đã thay thế chúng bằng các photon tích điện thực. Đó là những photon tích điện không được đề cập trong vật lý thiên văn, mà đã gây ra tình trạng rối ren vật chất tối giữa cả ngàn lẫn lộn khác. Thử nghiệm GPB dò hấp dẫn này chỉ là một mặt khác của hiệu ứng cả ngàn ảnh hưởng của cả ngàn lẫn lộn này.

Lý thuyết spin lượng tử của tôi đem tất cả điều này ra công khai, nhưng đã biết đến trong nhiều thế kỷ là trường E/M có đối xứng. Đó là những gì tất cả hullaballoo liên quan đến thiếu đối xứng trong QED và QCD là về (xem phân rã beta, phân rã kaon, vv). Và đó là những gì quy tắc bàn tay phải đề cập, cũng vậy. Chúng ta có quy tắc bàn tay phải, nhưng không có quy tắc bàn tay trái, có nhớ không? Các nhà vật lý này đã bỏ qua trường E/M trong thí nghiệm gần đây là không chỉ bỏ qua lý thuyết lượng tử mà đã có tuổi nửa thế kỷ hoặc hơn, họ đang bỏ qua lý thuyết điện cổ điển có từ tận thời Benjamin Franklin. Thật khó tin lại không có ai đề cập đến điều này cho họ. Như thường lệ, chúng tôi nhận được rất nhiều tiếng kèm sừng và những cái vỗ vào lưng, và hoàn toàn không có phân tích về những điều cơ bản. Đó là cách tôi phản đối khác với bất kỳ ai khác mà các bạn sẽ đọc. Họ nói chủ yếu về các lỗi kỹ thuật. Tôi chỉ ra chủ yếu là thất bại của lý thuyết.

Để làm tất cả điều này thậm chí rõ ràng hơn, chúng ta có thể xem xét lại lý thuyết của tôi, mà làm cho đối xứng vào spin thật. Hơn là để điện tích là ảo, tôi đã yêu cầu nó đó là cơ học và vật lý. Các photon không thể là một hạt điểm không có khối lượng, bán kính, hoặc spin, và electron không thể là dường như không có bán kính hoặc spin. Tôi đã chỉ ra rằng tất cả các hạt được biết đến, từ các hạt photon Z, có thể suy giảm thành spin chồng lên nhau. Những spin này có bán kính thực và vận tốc thực. Với phương trình lượng tử quay này, tôi đã thực sự trả lời một núi câu hỏi chưa được trả lời trong QED và QCD, và thực hiện nó chỉ đơn giản và minh bạch. Đây là lý do tại sao tôi có thể thấy thử nghiệm thăm dò hấp dẫn này lại thực sự lố bịch như thế nào.

Tôi đã chỉ ra rằng từ trường IS spin trong photon, vì vậy thực tế là họ bỏ qua từ trường trong thí nghiệm này, đối với tôi, giống như bỏ qua nước khi bạn đi bơi. "Hãy nhìn vào tôi, tôi không bơi, tôi đang ở trong trạng thái không trọng lượng! Sức nổi, cái gì? "Tôi đã từ lâu viết các bài luận mô tả photon như con quay hồi chuyển nhỏ, giải quyết vấn đề chồng chất với những con quay hồi chuyển này, giải quyết các vướng mắc theo cùng một cách, và cứ thế. Vì vậy, khi tôi thấy thử nghiệm với con quay hồi chuyển mà bỏ qua từ trường, tôi biết tôi đang xem diễn tiến của một trò hề khác.

SSX 18-08-2013 09:15

Gravity Probe B - NASA chứng minh Einstein
 
Cụ thể hơn, tôi có thể nói ngay rằng những gì gây ra độ nghiêng ở đây không phải là trường hấp dẫn, mà là trường E/M không đồng đều. Từ trường ở Trái đất được xác định bởi điện tích đến từ mặt trời và tất cả các hành tinh, và vì điện tích đến không phải là luôn luôn giống nhau, bạn sẽ có độ nghiêng. Tôi trình bày cả cơ học và toán học về vấn đề này trong bài luận về độ nghiêng hành tinh, và con quay hồi chuyển nhỏ này trong thử nghiệm này cũng giống như một hành tinh nhỏ. Tất cả các ảnh hưởng phải được cộng lại, để ra độ nghiêng.

Bạn sẽ nói, "OK rồi, tại sao ông không làm toán cho độ nghiêng này, như họ đã làm? Nếu ông có thể hợp với dữ liệu tốt hơn, chúng tôi sẽ xem xét lý thuyết của ông nghiêm túc hơn, có lẽ." Nhưng tôi không cần phải làm điều đó để chứng minh họ đã gian lận. Mọi thằng ranh con đều có thể làm toán cho phù hợp với dữ liệu. Chúng tôi nhìn thấy chúng làm hàng ngày. Vấn đề ở đây không phải là toán học phù hợp với dữ liệu hay không, vấn đề ở đây là bạn có các nhà khoa học trắng trợn bỏ qua các quy tắc đầu tiên của khoa học. Như tôi đã nói, một trong những quy tắc đầu tiên của bất cứ khoa học nào là chứng tỏ rằng dữ liệu của bạn không thể là bị gây ra bởi các cơ chế khác được biết đến. Nếu, ví dụ, tôi đề xuất rằng dòng nước đổ vào một thác nước là do trọng lực, điều đó là không đủ để chứng tỏ nước đổ xuống, hoặc không đủ để viết phương trình phù hợp với dữ liệu nước đổ. Tôi phải xem xét các nguyên nhân khác có thể và loại bỏ chúng. Tôi phải chứng tỏ rằng nước không bị đổ là do từ trường, không bị đổ xuống là do bị đẩy, không bị đổ vì sức hút từ dòng không khí, v,v. Đây là những điều cơ bản, và đã được thoả thuận từ thuở sơ khai của nền văn minh . Nó được gọi là phương pháp khoa học.

Ít nhất, con quay hồi chuyển này cần phải được bảo vệ khỏi các ion, và có thể đã có bảo vệ, chúng ta không biết. Điều này có nghĩa là ít nhất các kỹ sư cũng tỉnh táo. Nhưng ngay cả điều này cũng sẽ là không đủ, vì để bảo vệ các con quay hồi chuyển khỏi điện tích sẽ cần phải che chắn khỏi các photon, không chỉ là các ion. Từ khi vật lý không thừa nhận sức mạnh của các photon trong trường điện tích như thế này, không có lý do họ sẽ cố gắng để che chắn từ photon. Và điều này rất khó khăn để thực hiện, dù sao, kể từ khi các photon xuyên qua hầu hết vật chất mà không gây ra lắm vấn đề. Để che chắn trường điện tích sẽ cần đến một vệ tinh quá nặng để xuất phát với chất đẩy hiện tại.

Một câu hỏi khác khẩn thiết là tại sao lại cần đến một vệ tinh nào đấy. Tại sao không đo con quay hồi chuyển trên mặt đất? Francis Everitt của Stanford cho biết: Hãy tưởng tượng trái đất như thể nó ngập mình trong mật ong. Khi hành tinh xoay quanh trục của nó và quay quanh Mặt Trời, mật ong xung quanh nó sẽ nó sẽ trũng xuống và xoáy, và đó là tương tự với không gian và thời gian.

Vâng, ngay cả khi điều đó là đúng, thì cũng có đủ mật ong trên bề mặt trái đất. Trong thực tế, sẽ có ít mật ong trên gần quỹ đạo, vì hấp dẫn là yếu ở đó. Tại sao không đo trên mặt đất? Có thể là do NASA có liên quan, và NASA không nhận được nhiều tiền hơn cho các thí nghiệm nhàm chán trên mặt đất? Tôi được nghe kể là vì các thử nghiệm cần thiết được đặt ở nơi mà vệ tinh có thể được hướng đến một ngôi sao (IM Pegasi) trong toàn bộ thời gian. Nếu các thử nghiệm diễn ra trên mặt đất, các ngôi sao sẽ bị chặn nhiều thời gian. Điều này không đúng sự thật. Bất kỳ ngôi sao nào cũng là tốt như bất kỳ ngôi sao nào khác cho việc này, nên chọn ngôi sao ở cực và đặt thiết bị ở cực. Quá lạnh, tôi sẽ được thông báo. Ô, thế không phải là trong quỹ đạo cũng lạnh? Đây không phải là một nhiệm vụ có người điều khiển. Quá khó để tìm thấy địa điểm ở phần còn lại liên quan đến các ngôi sao, tôi sẽ được thông báo. Nhưng vị trí không phải là ở phần còn lại bất chấp, kể từ khi trái đất quay xung quanh Mặt Trời. Và, chúng tôi được kể chúng ở trong quỹ đạo cực nào đó, vì vậy đây không phải là vấn đề. Họ hoặc là bỏ qua thị sai hoặc sửa chữa nó.

Sau đó chúng tôi được nghe kể các con quay hồi chuyển trong quỹ đạo để nó có thể tránh được lực hấp dẫn và trôi nổi mà không va chạm với thành hộp chứa nào. Vấn đề ở đó? Vệ tinh cảm thấy bị kéo, và con quay hồi chuyển sẽ trôi dạt về phía trước. Giải pháp, một vệ tinh "không bị kéo". Chúng ta biết rằng điều đó là không thể, vì vậy họ nêu chi tiết:

Bên trong xe vệ tinh, thiết bị theo dõi khoảng cách một trong những con quay hồi chuyển và thành của nó với độ chính xác phi thường đến mức chưa đầy một nanomet. Động cơ đẩy của tàu vũ trụ phản ứng với bất kỳ thay đổi nào trong phân ly này. Kết quả, vệ tinh đuổi theo các con quay hồi chuyển và bay dọc theo quĩ đạo "không bị kéo" như hiện nay.

Bạn có tin điều đó không? Tôi thì không. Các vệ tinh thực sự có sử dụng động cơ đẩy để điều chỉnh quỹ đạo cho chính nó. Không có vệ tinh nào có thể bay mà không có "dẫn hướng". Dẫn hướng đó phải can thiệp với độ chính xác này để “đuổi theo” con quay hồi chuyển, và ngược lại. Nếu vệ tinh không làm gì khác ngoài đuổi theo con quay hồi chuyển, nó sẽ đạt đến quá nhiều gia tốc và thoát khỏi quĩ đạo. Nếu vệ tinh chỉnh theo quỹ đạo riêng của mình, nó sẽ làm các con quay hồi chuyển va chạm với thành hộp chứa của nó. Bạn không thể giải quyết cả hai cân bằng cùng một lúc.

Trong bài viết này từ Stanford, chúng ta có được xác nhận vấn đề này. Hệ thống vệ tinh đã bị tê liệt bởi bão mặt trời cũng như các bất thường ở nam Đại Tây Dương. Điều này phải ảnh hưởng đến khả năng theo các con quay hồi chuyển của vệ tinh. Ngay cả khi con quay đã được đánh bóng đến mức chói mắt, nó liên tục đâm vào thành hộp chứa sẽ phải gây ra các vết xước. Nếu không có "miếng vá" trên con quay để bắt đầu với nó, thì cũng phải có các bản vá lỗi sau những rủi ro.

SSX 18-08-2013 09:18

Gravity Probe B - NASA chứng minh Einstein
 
Và điều này đưa chúng ta đến vấn đề khác. Nếu vệ tinh trong quỹ đạo cực, nó vượt qua cả hai cực. Vâng, tất nhiên ở cực là những khu vực hoạt động E/M lớn nhất, cả về cường độ và sự thay đổi. Điều này được biết đến ở tất cả các học sinh, vì chúng ta có thể nhìn thấy cực quang. Hơn nữa, biết rằng các cực là không giống nhau. Chúng ta không chỉ có mặt phẳng và hiệu ứng E/M khác nhau trên bề mặt, chúng ta có hiệu ứng khác nhau trong quỹ đạo. Một lần nữa, điều này có thể thấy qua sự khác biệt giữa bắc cực quang và nam cực quang. Nó cũng có thể thấy bằng cách nghiên cứu hình dạng của từ quyển, mà không phải là như nhau ở bắc và nam. Vì vậy, các vệ tinh đi qua sự thay đổi này trong quỹ đạo, và nó bị hoàn toàn bỏ qua? Chúng ta có thể thấy một ví dụ về sự cẩu thả quá mức của khoa học?

Vâng đúng, có lẽ chúng có thể, vì chúng ta được nghe kể:

Làm thế nào để ngăn chặn từ trường hành tinh? "Chúng tôi sử dụng túi siêu dẫn", Kolodziejczak nói. "Bộ con quay hồi chuyển được đặt trong túi chì, sau đó đặt bên trong một thùng đông lạnh lớn được gọi là"Sương-Dewar" trữ 400 lít chất lỏng heli. Heli làm mát túi siêu dẫn đến 1,7 độ K (hoặc -271 độ C). Ở nhiệt độ này chì trở thành chất siêu dẫn, do đó ngăn chặn từ trường Trái đất. Cường độ từ trường xung quanh trong túi giảm xuống dưới 3 micro gauss, cũng giống như trong khoảng không giữa các vì sao.

http://img-fotki.yandex.ru/get/9507/...c76a4a27_M.jpg
dewar

Vì vậy, chúng ta có được một câu trả lời cho câu hỏi trước của chúng ta. Một số nỗ lực ngăn chặn. Ai đó nhìn thấy vấn đề ở đây? Vệ tinh trong quỹ đạo trái đất, nơi mà từ trường là rất lớn (đặc biệt là trên các cực). Và những gì một chất siêu dẫn thực hiện trong trường hợp này là sức đề kháng bên trong túi đưa từ trường về không, do đó tất cả các điện tích bên ngoài đi qua mà không cần bất cứ ngăn chặn nào cả. Đó là những gì có nghĩa là siêu dẫn. Nó dẫn. Nó cho phép E/M vượt qua, cả hai điện tích và từ tính. Dòng siêu dẫn không giảm thiểu từ tính, nó cực đại từ trường! Nói cách khác, không có photon hoặc các ion nào bị chặn, ngoại trừ những thứ bị chặn bởi thành dewar hoặc bởi các nguyên tử hoàn toàn vẫn là chì. Nhưng vì các nguyên tử chì lạnh vẫn còn, cho phép điện tích thấm qua dễ dàng hơn khi nó có nhiệt độ cao hơn. Làm lạnh là phản tác dụng ở đây, điều đó cho thấy một lần nữa các nhà vật lý bối rối như thế nào. Một chất siêu dẫn chỉ đẩy từ trường cục bộ qua hiệu ứng Meissner nếu từ trường là rất yếu. Nhưng chúng không phải là đẩy từ trường cục bộ, mà là ngăn chặn từ trường của trái đất, trong khi đó, một vệ tinh quỹ đạo, liên tục bay bên ngoài và được làm mới từ.

Bạn sẽ nói, "Trường E/M biến đổi đã không bị bỏ qua, vì chúng tôi đã được biết về nó từ nhóm nghiên cứu tại Đại học Stanford. Vấn đề đã được giải quyết." Vâng, có lẽ các máy tính đã được cắm điện trở lại, để giữ cho các vệ tinh khỏi bị rơi, nhưng vấn đề này đã không được giải quyết. Chỉ vì họ thừa nhận rằng bất thường nam Đại Tây Dương tồn tại không có nghĩa là họ che chắn cho nó, hoặc có thể che nó một cách đúng đắn từ dữ liệu. Vấn đề là, họ không biết kích thước của hiệu ứng từ trường tại tất cả các điểm, vì thế họ không thể che chắn nó. Họ thậm chí không biết nhiều nhặn gì về trường ion, như rõ ràng từ các thông cáo báo chí, và họ biết ít hoặc không biết gì về lĩnh vực photon.

Báo cáo này tại Tạp chí kỹ thuật số (Digital Journal) thừa nhận rằng, bất chấp tất cả các mánh khóe kỹ thuật câu khách nhiều triệu đô la trong các bài viết, "đã có những rung động bất ngờ làm lẫn lộn dữ liệu, các nhà nghiên cứu đã phải làm sạch"; nhưng ngay cả ở đó chúng ta cũng không được nói chúng là gì. Có thể những dao động cực là "bất ngờ"? Và thậm chí nếu có, làm thế nào để họ che chắn nó? Các nhà vật lý biết rằng trường E/M ảnh hưởng đến con quay hồi chuyển, nhưng họ không có phương trình trường để tính toán chính xác định lượng. Điều này có nghĩa là họ không thể chỉ trừ ra những tác động điện tích. Vấn đề này nằm ngoài khả năng của họ, hãy tha thứ cho tôi nếu tôi nghi ngờ rằng họ giải quyết nó trong vòng cái lông mi của nguyên tử một lần nữa, như họ luôn luôn tuyên bố thế.

SSX 18-08-2013 09:20

Gravity Probe B - NASA chứng minh Einstein
 
Đáng ngạc nhiên, một bài viết tại ScienceNews cho chúng ta một bức tranh rõ ràng hơn về những rung động làm lẫn lộn dữ liệu.

Phân tích đầu tiên của dữ liệu này cho thấy sự bất thường không chờ đợi. Các con quay hồi chuyển đã xử sự tồi-lang thang xung quanh và chỉ vào hướng kỳ lạ. Các bản vá lỗi bất thường trên bề mặt của quả cầu bị đổ lỗi. Everitt biết về các bản vá lỗi và các tương tác dự kiến với vỏ bảo vệ sẽ tạo ra xung lực nhỏ, hoặc mômen xoắn. Nhưng các bản vá lỗi bất ngờ trên vỏ tự khuếch đại các tương tác tĩnh điện. "Các mômen xoắn là 100 lần lớn hơn chúng tôi mong đợi," Everitt nói. "Đó là một cú sốc khủng khiếp." Bất chấp trở ngại này, năm 2007, đội Gravity Probe B xác nhận dự đoán của thuyết tương đối rộng. Theo Anhxtanh, hấp dẫn trái đất làm cong không thời gian như một quả bóng bowling trên tấm bạt đàn hồi. Hiệu ứng trắc đạc này được đo với sai số khoảng 1 phần trăm.

Thế còn hiệu ứng E/M, bởi họ có "bản vá lỗi bất ngờ trên vỏ làm khuếch đại tương tác tĩnh điện." Vẫn không có một lời nào về trường E/M của Trái đất, mà cần đáng ra phải dự đoán trước. Cũng không có thêm một lời nào về những "bản vá khuyếch đại" được che chắn. Làm thế nào để bạn có thể tạo ra phương trình cho những bản vá lỗi tương tác với các bản vá lỗi tương tác trên các miếng vá con quay hồi chuyển, khi bạn thậm chí không biết gì về chúng trước đó? Họ thậm chí có thể vào các bản vá lỗi trên thành, hay họ chỉ trực giác? Tôi đoán là họ "tính toán" sự tương tác bằng cách đơn giản là trừ đi các dữ liệu mà họ không thích, sau thực tế.

Phóng viên tại ScienceNews, Devin Powell, cũng mâu thuẫn với những tuyên bố của các bài báo khác khi nói, Các thí nghiệm khác đã khẳng định hiệu ứng “vặn xoắn" này, dự đoán bởi lý thuyết tương đối rộng của Anhxtanh. Các kết quả mới, bị hư hại bởi những khó khăn kỹ thuật, sẽ không thiết lập bất cứ dữ liệu nào chính xác.

Ngoài ra, ông ta thừa nhận rằng Gravity Probe B là một "dự án bị bao vây". Đợi đã, tôi nghĩ đây là điều chính xác nhất từng đạt được, theo khoảng một chục cách khác nhau! Hầu hết các bài báo trực tuyến hoặc trong các bài luận chính bắt đầu với một cái gì đó như thế này, "trang bị 13 công nghệ mới và 4 quả cầu hoàn hảo nhất từng được tạo ra… " Đó chỉ là nghệ thuật quảng cáo? Powell tiếp tục,

Sau khi NASA đã rút phích cắm năm 2008, tài trợ tư nhân được thu xếp bởi ban điều hành Capital One Financial và gia đình hoàng gia Arab Saudi thêm một thời gian để làm sạch các dữ liệu. Bằng cách so sánh sự rung động tổng thể của mỗi quả cầu với những biến động từ trường nhỏ trên bề mặt của nó, nhóm nghiên cứu đã làm rõ các bản vá lỗi bị tương tác như thế nào. Các nhà nghiên cứu đồng thời cũng phát hiện ra rằng sự chuyển động xoay vòng của tàu vũ trụ thỉnh thoảng có thể đá quả cầu quay vào hướng mới.

A ha, tôi đã chứng minh là đúng một lần nữa, trong khi tôi đang viết. Tôi chỉ nói rằng đó là cách họ đã làm điều đó, và với một chút nghiên cứu thêm, tôi đã có bằng chứng. Họ "làm sạch dữ liệu." Họ làm điều đó như thế nào? Họ phát hiện ra các bản vá lỗi đã tương tác như thế nào đó từ chính các dữ liệu. Họ làm ngược trở lại từ các dữ liệu để tìm ra làm sao mà các dữ liệu đã bị mất tích lý thuyết của họ! Đó không phải là khoa học, thưa các quý ông. Bạn không thấy điều đó sao?

Chỉ cần được làm sạch, bạn không thể làm ngược trở lại từ các dữ liệu, vì đó là lừa dối. Không có gì để ngăn cản bạn chỉ trừ ra bất cứ cái gì bạn không thích. Bạn tìm thấy một "bất thường", và sau đó đo lường sự bất thường trong các dữ liệu, và sau đó nói rằng những biến động không được tiên đoán và không được đo lường gây ra sự bất thường. Đó là gian lận. Để làm điều này mà không gian lận, bạn sẽ phải đo lường biến động trực tiếp, không phải từ các dữ liệu. Bạn sẽ phải mang một số thiết bị điện tử E/M trên vệ tinh để đo lường sự tương tác giữa các bản vá lỗi. Bạn không thể chỉ làm sạch các dữ liệu bằng cách áp dụng một số mô hình máy tính vào nó, hoặc một số sự giảm bớt trừu tượng khác. Bạn không thể làm điều đó bởi vì nó hoàn toàn làm tổn hại cả dữ liệu và thử nghiệm của bạn.

Nó cũng làm tổn hại tất cả số liệu. Tôi đã nói ngay từ đầu rằng tôi có thể nói các con số đã bị thúc, và bây giờ bạn thấy như thế nào. Các nhà toán học cần độ nghiêng là một con số nhất định, và họ biết con số đó từ phương trình trường. Họ nói với chúng ta rằng bản thân họ, trong các bài viết. Họ cần tìm 39 milliarcseconds mỗi năm. Vì vậy, nếu độ nghiêng trung bình của con quay hồi chuyển của họ là 100 marcsecs mỗi năm, nói rằng, họ hình dung sự tương tác bản vá gây ra khoảng 60 trong sồ đó. Họ không thể đo lường sự tương tác bản vá bởi vì họ không có các thiết bị trên khoang vệ tinh để làm điều đó. Nghĩa là cần phải hạ cánh và trang bị lại. Cũng sẽ có yêu cầu họ phải cần đến phương trình tính toán độ nghiêng của con quay hồi chuyển trong trường tĩnh điện, và tôi sẽ cho bạn biết một bí mật: họ không có bất kỳ phương trình nào như thế. Không có phương trình nào hiện có cho bạn biết một con quay hồi chuyển cho trước khối lượng, bán kính và mô men quay sẽ nghiêng là bao nhiêu trong một trường điện tích tĩnh điện nào đó. Tất cả những gì họ có là phương trình Coulomb cũ, và một số cập nhật thô về điều đó, nhưng chúng không có gì để nói cho họ biết độ nghiêng của một con quay hồi chuyển trôi nổi tự do. Và ngay cả khi họ đã có phương trình như vậy, những phương trình này sẽ phụ thuộc không chỉ vào điện tích trong con quay hồi chuyển và điện tích trong thành thiết bị, chúng sẽ phụ thuộc vào trường xung quanh, thứ mà, như chúng ta đã thấy, họ hoàn toàn không biết gì. Họ nghĩ họ có thể loại trừ trường xung quanh với chất siêu dẫn và hiệu ứng Meissner, và thế là khi vệ tinh di chuyển vào không gian mới, trường đã không trở lại. Họ nghĩ rằng chất siêu dẫn sẽ đóng vai trò như một chất cách điện! Điều đó giống như đặt nút trong tai để bạn có thể nghe được tốt hơn. Vì vậy, họ đã có hoặc là mô hình tương tác, dựa trên không có gì là thực tế, hoặc là họ chỉ ấn định 60 marcsecs là của tương tác bản vá, không có gì là toán học hay lý thuyết tương đối nào cả.

http://img-fotki.yandex.ru/get/9349/...c6bfcc48_M.jpg

SSX 18-08-2013 09:23

Gravity Probe B - NASA chứng minh Einstein
 
Và điều này đưa chúng ta trở lại với trường E/M của Trái đất. Trong việc phân định lỗi của họ đối với những tương tác tĩnh điện giữa các bản vá lỗi trên các con quay hồi chuyển và các bản vá lỗi trên thành chứa, họ tất nhiên thừa nhận rằng con quay hồi chuyển sẽ bị ảnh hưởng bởi trường E/M. Tương tác tĩnh điện chỉ là lớp con của tương tác điện từ, do có sự sự tương đồng giữa những cái tên. Vì vậy, họ cố gắng để nói với chúng ta rằng lỗi của họ gây ra bởi các tương tác tĩnh điện giữa con quay hồi chuyển và thành chứa, nhưng mà dù sao trường điện từ của trái đất cũng có thể được bỏ qua. Họ sẽ trả lời, "Không, chúng tôi che chắn trường của Trái đất bằng những cái túi siêu dẫn." OK, thế những cái túi siêu dẫn loại trừ hay che chắn trường Trái đất, mà không làm ảnh hướng đến điện tích giữa thành chứa và con quay hồi chuyển? Điều đó thực hiện như thế nào? Chúng ta phải hiểu rằng các túi siêu dẫn được dán vào mặt ngoài của thành chứa? Làm thế nào bạn có thể cho rằng như thế đã vô hiệu hóa trường E/M bên trong vệ tinh, rồi sau đó lại quay ra tuyên bố rằng điện tích tĩnh điện giữa thành chứa và con quay hồi chuyển gây ra lỗi của chúng? Bạn đang nói đến các điện tích tĩnh điện và không còn cần đến trường E/M? Chúng ta được kể là có sự hiện diện của một số vật lý mới mang tính cách mạng ở đây, nơi tĩnh điện thấm qua giữa các đối tượng không trong trường nào?

Một điều khôi hài khác, chúng ta thấy nếu tìm ra là ngôi sao IM Pegasi được theo dấu liên quan đến các chuẩn tinh, với kính thiên văn vô tuyến và giao thoa kế. Đó là kỳ lạ bởi thông thường bạn lại theo dấu một cái gì đó ít được biết đến so với một cái được biết đến nhiều hơn. Bạn không dùng thứ gì đó với một dấu chấm hỏi bên cạnh làm cơ sở của bạn. Đó là lẽ thường. Nhưng đúng là đã biết rõ dữ liệu của chúng ta từ các chuẩn tinh là không vững chắc. Nó không vững chắc bởi vì nó dựa trên giả định dịch chuyển đỏ. Chúng ta không chắc chắn cái gì là chuẩn tinh, và chúng ta thậm chí không chắc chắn là chúng ở đâu. Vì vậy, sẽ phải hoặc nên nhướn mày để sử dụng chúng như điểm tham chiếu cho bất cứ cái gì.

Cũng là giá trị khi chỉ ra rằng thông báo này từ NASA được công bố trên tạp chí Physical Review, một lá cờ đỏ khác. Physical Review đã là kẻ giữ nhà kể từ thời Anhxtanh. Anhxtanh thậm chí không làm việc với những con người này (hay những người tiền nhiệm của họ), vì vậy sẽ là mỉa mai khi xem họ tuyên bố đã chứng minh lý thuyết tương đối của Anhxtanh.

Chúng ta cũng được nói rằng nhiệm vụ này chứng tỏ Anhxtanh đã đúng về các hố đen. Có 3 vấn đề:

1) Anhxtanh đã chẳng hề ho he gì về các hố đen. Ông ta thậm chí không tin vào chúng.

2) Đây rõ ràng vẫn là nghệ thuật quảng cáo, kể từ khi các nhà văn khoa học biết hầu hết mọi người thích đọc về các hố đen. Họ giờ cố gắng để nói hố đen lỗ sâu đục và du hành tức thời trên tất cả các bài viết trong mọi tờ tạp chí.

3) Nhiệm vụ này chẳng chứng tỏ gì về hố đen, khi mà nó chẳng chứng tỏ gì về hấp dẫn. Nhồi tất cả rác rưởi vào trong các dữ liệu, nó thậm chí còn không chứng minh được bất cứ điều gì về E/M, hơn là E/M tồn tại. Tất cả các nhiệm vụ này chứng minh là vật lý đã đổ sụp vào một hành tinh xa lạ, nơi mà khoa học đã tuyệt chủng.

Cuối cùng, chúng ta được kể bởi nhiều nhà văn rằng GPB đã chứng minh một cái gì đó không cần phải chứng minh, hoặc đã được chứng minh. Lại sai một lần nữa, vì nếu bạn xem xét các bằng chứng trước kia, chúng hóa ra là “cũng vững chắc” y như thế này. (Bạn đừng bắt tôi phải bắt đầu bắn tia laser vào cái gương để trên mặt trăng – nó quá khó). Tất cả những gì được cho là bằng chứng của thuyết tương đối rộng, nếu xem xét kỹ, thì chỉ là chứng minh rằng hấp dẫn có tồn tại, điều chúng ta thực sự đã biết, hoặc tồn tại sự khác biệt về thời gian, điều mà tôi chấp nhận (như hiệu ứng Sagnac); nhưng chúng chưa bao giờ ngay cả là đến gần với chứng tỏ, không gian bị cong hoặc không gian-thời gian là một cái gì đó thực tế. Chúng không thể, bởi vì cả hai không gian cong và không-thời gian là hệ thống toán học, không phải là cái gì đó thực sự tồn tại. Thậm chí Minkowski cũng hiểu. Như tôi đã chỉ ra, bạn có thể viết phương trình trường của bạn với tensor đường cong nếu bạn muốn, và nếu bạn có đủ phấn và bảng đen đủ lớn. Bạn cũng có thể viết chúng bằng đại số trung học và đường thẳng, sau đó ghi chú. Nhưng sẽ chỉ là ngu xuẩn khi làm vệ tinh để đi tìm một bằng chứng toán học. Nó cũng giống như đi tìm bằng chứng về sự tồn tại của con số 2. Nói lại lần nữa, CONG LÀ TRONG TOÁN, KHÔNG PHẢI TRONG VŨ TRỤ.

Miles Mathis http://milesmathis.com/long.html

http://img-fotki.yandex.ru/get/9257/...62012fb_XL.jpg

SSX 21-08-2013 10:28

Anhxtanh -thiên tài trộm cắp
 
http://img-fotki.yandex.ru/get/9060/...c8666957_L.jpg

Albert Einstein được tâng bốc lên thành "thiên tài hiếm có," người thay đổi quyết liệt lĩnh vực vật lý lý thuyết. Tuy nhiên, bằng cách sử dụng kỹ thuật Goebbels được gọi là 'Nói láo thường xuyên-lặp đi lặp lại = Chân lý", ông ta đã thành thần tượng cho giới trẻ, và tên tuổi ông ta đã trở thành rất đồng nghĩa với thiên tài.

SỰ THẬT, tuy nhiên lại rất khác. Anhxtanh là một kẻ lạc lõng và khờ khạo, kẻ thậm chí không thể buộc dây giày của mình, ông ta đã đóng góp CHẲNG GÌ CƠ BẢN cho bất cứ khoa học nào. Ngược lại, ông ta đã ăn cắp mọi ý tưởng và truyền thông bị Do Thái kiểm soát đã biến ông ta thành “thiên tài”, thành “người hùng” của thời đại.

Khi xem xét cuộc đời thực của Anhxtanh, chúng ta thấy ông ta chỉ "lỗi lạc" ở khả năng của mình để ĂN CẮP và ĂN CẮP ý tưởng của người khác, biến chúng thành của riêng mình. Một bản luận văn, luận án, thuyết trình… lẽ thông thường bao giờ cũng có tham chiếu đến các tác giả, các đề tài liên quan. Nhưng ở Anhxtanh thì không bao giờ. Ông ta nói lý thuyết của ông ta là hoàn toàn mới, nên không cần trích dẫn bất cứ ai khác. Giáo dục của Anhxtanh, hoặc thiếu điều đó, là một phần quan trọng của câu chuyện này. Bách khoa toàn thư Britannica nói về giáo dục ban đầu của Anhxtanh rằng ông ta "đã cho thấy ít có khả năng học tập". Nó cũng nói rằng ở tuổi 15, "với điểm số kém trong môn lịch sử, địa lý và ngôn ngữ, ông ta bỏ học không có bằng tốt nghiệp". Anhxtanh đã tự viết trong một bài học ở trường về sự "thiếu trí tưởng tượng và khả năng thực tế" của mình. Năm 1895, Anhxtanh đã trượt một kỳ thi đơn giản để vào trường kỹ thuật Zurich.

Kỳ thi này bao gồm chủ yếu là các vấn đề toán học, và Anhxtanh đã tỏ ra là kiến thức toán học vớ vẩn trong kỳ thi này. Sau đó ông ta vào học trường nhỏ hơn hy vọng sẽ sử dụng nó như một bước đệm cho trường kỹ thuật mà ông ta đã không thể vào được, nhưng sau khi tốt nghiệp Zurich vào năm 1900, ông ta vẫn không thể có được một vị trí tại trường kỹ thuật!

Không thể học như mình muốn, ông ta có công việc (với sự giúp đỡ của một người bạn) tại văn phòng cấp bằng sáng chế ở Bern. Ông ta là chuyên viên kỹ thuật hạng 3, điều này có nghĩa rằng ông ta đã quá thiếu năng lực cho một vị trí có trình độ cao hơn. Ngay cả sau khi công bố cái gọi là bản luận văn mang tính đột phá năm 1905 và sau khi làm việc trong văn phòng bằng sáng chế sáu năm, ông ta cũng chỉ cao đến hạng 2. Hãy nhớ rằng, công việc ông ta đang làm tại văn phòng cấp bằng sáng chế, trong đó ông ta chỉ xếp hạng 3, không phải là cơ học lượng tử hay vật lý lý thuyết, nhưng đã được xem xét các tài liệu kỹ thuật bằng sáng chế hàng ngày, nhưng ông ta hầu như không đủ trình độ.

Ông đã làm việc tại văn phòng cấp bằng sáng chế cho đến năm 1909, tất cả các cố gắng liên tục để có được một vị trí tại một trường đại học, đã không thành công. Tất cả những sự việc này là đúng sự thật, nhưng cũng từ đó bắt đầu huyền thoại.

Được cho là, trong khi làm công việc đủ giờ, không cần sự trợ giúp của các đồng nghiệp trường đại học, của sinh viên tập sự, phòng thí nghiệm, hoặc bất kỳ những điều gì liên quan đến môi trường học thuật, Anhxtanh trong rảnh rỗi của mình đã viết bốn tiểu luận mang tính đột phá trong lĩnh vực vật lý lý thuyết và cơ học lượng tử được xuất bản vào năm 1905.

Nhiều người đã nhận ra sự bất khả của một chiến công như vậy, kể cả chính Anhxtanh, và do đó Anhxtanh đã khiến mọi người tin rằng rất nhiều những ý tưởng này đến với ông ta trong giấc ngủ của mình, từ trên trời, bởi vì thực sự đó là lời giải thích hợp lý duy nhất làm thế nào mà một kẻ thừa nhận là khờ khạo dớ dẩn lại có thể viết văn bản đó ở tuổi 26 mà không cần bất cứ học vấn nào.

SỰ THẬT LÀ: ÔNG TA ĐÃ ĂN CẮP Ý TƯỞNG VÀ ĐẠO VĂN

Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét từng ý tưởng và khám phá nguồn gốc của mỗi một trong đó. Nên nhớ rằng những ý tưởng này được trình bày bởi tín đồ (worshiper) Anhxtanh như là chúng hoàn toàn mới và hoàn toàn khác biệt, mỗi trong số đó sẽ thay đổi cảnh quan khoa học. Bốn luận văn đề cập bốn ý tưởng tương ứng:

1) Cơ sở của lý thuyết photon ánh sáng;
2) Sự tương đương năng lượng và khối lượng;
3) Giải thích chuyển động Brown trong chất lỏng;
4) Thuyết tương đối hẹp.

Chúng ta xem số 4, thuyết tương đối. Đây có lẽ là ý tưởng nổi tiếng nhất được gán ghép nhầm lẫn cho Anhxtanh. Cụ thể, năm 1905 luận văn về cái mà Anhxtanh gọi là thuyết tương đối hẹp (Lý thuyết rộng sẽ đến vào năm 1915).

Lý thuyết này mâu thuẫn với cơ học Newton truyền thống và được dựa trên 2 tiên đề:
1) Trong trường hợp không có gia tốc, quy luật tự nhiên là như nhau cho tất cả các nhà quan sát, và
2) Bởi vì tốc độ của ánh sáng là độc lập với chuyển động của nguồn của nó, khi đó khoảng thời gian giữa hai sự kiện là dài đối với người quan sát trong qui chiếu các sự kiện xảy ra ở các vị trí khác nhau hơn so với người quan sát trong qui chiếu các sự kiện xảy ra ở cùng một vị trí. Ý tưởng này về cơ bản là thời gian trôi chậm hơn khi vận tốc đạt tới tốc độ ánh sáng, so với vận tốc chậm hơn thì thời gian trôi qua sẽ nhanh hơn. Nhưng 2 tiên đề này còn xa mới là khởi đầu của Anhxtanh. Trước hết, ý tưởng rằng vận tốc ánh sáng là một hằng số và độc lập với chuyển động của nguồn của nó đã không hề chút nào là của ANHXTANH, ít nhất nó là đề xuất của nhà khoa học Scotland James MAXWELL năm 1878, lúc Anhxtanh vẫn chưa có mặt trên đời.

Maxwell đã nghiên cứu rộng hiện tượng ánh sáng và đầu tiên đề xuất rằng nó là bản chất điện từ. James Maxwell đã viết một bài về hiệu ứng này cho phiên bản 1878 của Bách khoa toàn thư Britannica. Ý tưởng của ông gây nhiều cuộc tranh luận, và năm 1887, từ kết quả nghiên cứu của ông và các cuộc tranh luận sau đó, cộng đồng khoa học, đặc biệt là Lorentz, Michelson và Morley đi đến kết luận rằng vận tốc ánh sáng là độc lập với vận tốc của người quan sát.

Do đó, phần này của thuyết tương đối hẹp đã được biết đến 27 năm trước khi Anhxtanh viết bài luận của mình.

Cuộc tranh luận về bản chất của ánh sáng này cũng dẫn Michelson và Morley đến tiến hành một thí nghiệm quan trọng, kết quả có thể không giải thích được bằng cơ học Newton. Họ quan sát thấy hiện tượng nhưng họ không giải thích được. Họ đã cố gắng để phát hiện các chuyển động của trái đất qua ether, một phương tiện được cho là cần thiết để truyền ánh sáng.

Để đối phó với vấn đề này, năm 1880, nhà vật lý Ailen george Fitz Gerald, người cũng đã lần đầu tiên đề xuất cơ chế sản sinh các sóng vô tuyến, đã viết một bài báo trong đó nói rằng các kết quả của thí nghiệm Michelson-Morley có thể giải thích được nếu ".. . chiều dài của vật chất thay đổi, phù hợp khi chúng di chuyển tùy thuộc vào bình phương vận tốc của chúng với ánh sáng. ĐÂY LÀ lý thuyết tương đối, 13 NĂM TRƯỚC BÀI LUẬN Anhxtanh!

Năm 1892, Hendrik Lorentz, Hà Lan, đề xuất giải pháp tương tự và bắt đầu mở rộng đáng kể ý tưởng. Mặc dù trong suốt những năm 1890, cả hai Lorentz và FitzGerald nghiên cứu những ý tưởng này và viết các bài báo lạ tương tự như thuyết tương đối hẹp Anhxtanh, được gọi là Co rút Lorentz-Fitz Gerald.
Năm 1898, Joseph Larmor Ireland viết phương trình giải thích sự co Lorentz-Fitzgerald và hậu quả tương đối của nó, 7 năm trước bài luận Anhxtanh. Năm 1904, "phép biến đổi Lorentz", một chuỗi các phương trình giải thích hiện tượng tương đối, đã được Lorentz công bố. Họ mô tả sự gia tăng khối lượng, rút ngắn chiều dài, và giãn nở thời gian của một vật thể di chuyển với tốc độ gần với tốc độ ánh sáng. Nói tóm lại, đến năm 1904, tất cả mọi thứ “trong bài luận của Anhxtanh" về lý thuyết tương đối hẹp đã được công bố. Poincare Pháp đã, vào năm 1898, có bài viết thống nhất nhiều trong số các ý tưởng. Ông nói 7 năm trước bài luận Anhxtanh: "... chúng tôi không có trực giác rõ ràng về sự ngang bằng của 2 khoảng thời gian. Sự đồng thời của 2 sự kiện hoặc thứ tự kế nhau của chúng, cũng như sự ngang bằng của 2 khoảng thời gian, phải được xác định theo như cách mà các quy luật tự nhiên thể hiện là đơn giản nhất có thể. " Bất cứ ai đã đọc bài báo năm 1905 của Anhxtanh sẽ ngay lập tức nhận ra sự giống nhau và thiếu tính nguyên gốc ở phần của Anhxtanh.

Do đó, chúng ta thấy cái duy nhất nguyên gốc về bài luận là thuật ngữ "Thuyết tương đối đặc biệt". MỌI THỨ KHÁC LÀ ĐẠO VĂN hay đã ăn cắp ý tưởng. Vài năm sau, Poincaré đã trở thành một trong những giảng viên và cây viết quan trọng nhất về thuyết tương đối, nhưng ông không bao giờ, trong bất kỳ bài viết nào hay các phát biểu nào, đề cập đến Anhxtanh. Vì vậy, trong khi Poincaré bận rộn đưa phần còn lại của thế giới học thuật đến với sự phổ biến của thuyết tương đối, thì Anhxtanh vẫn còn làm việc trong văn phòng cấp bằng sáng chế ở Bern và không ai trong cộng đồng khoa học nghĩ rằng cần thiết phải để tin tưởng hay đề cập nhiều lắm đến công việc của Anhxtanh. Hầu hết các nhà vật lý sớm biết ông ta là một kẻ lừa đảo.

Chúng ta xem số 3, giải thích về chuyển động Brown, một chủ đề trong bài luận Anhxtanh năm 1905. Chuyển động Brown mô tả chuyển động bất thường của vật thể sinh ra bởi năng lượng nhiệt các phân tử vật liệu mà chúng ngập chìm trong đó. Chuyển động này lần đầu tiên được quan sát bởi nhà thực vật học người Scotland Robert Brown vào năm 1827. Giải thích về hiện tượng này đã được thực nhiện bởi lý thuyết động học của vật chất, và đó là người Mỹ Josiah Gibbs và người Áo Ludwig Boltzmann, những người đầu tiên giải thích điều này xảy ra như thế nào, không phải Anhxtanh. Trong thực tế, các phương trình toán học mô tả chuyển động có chứa hằng số Boltzmann nổi tiếng k. Hai con người này đã giải thích từ năm 1890 tất cả mọi thứ trên giấy Anhxtanh năm 1905 về chuyển động Brown.

Chúng ta xem số 2, tương đương khối lượng và năng lượng chứa đựng trong công bố thứ ba của Anhxtanh năm 1905. Khái niệm này được thể hiện bằng phương trình nổi tiếng E = mc2. Người viết tiểu sử Anhxtanh cho rằng nó là "kết luận nổi tiếng nhất và ngoạn mục nhất của ông ta." Mặc dù ý tưởng này là một kết luận rõ ràng của lý thuyết tương đối trước Anhxtanh, thực ra E = mc2 không có trong bài luận mà được công bố như là một lời giải thích đến sau vào cuối năm đó. Tuy nhiên, ý tưởng tương đương năng lượng-khối lượng không có nguyên gốc từ Anhxtanh.

Đó là có một sự tương quan giữa khối lượng và năng lượng đã được chứng minh trong phòng thí nghiệm vào những năm 1890 bởi cả JJ Thomsom ở Cambridge và W. Kaufmann ở Göttingen. Năm 1900, Poincaré đã chỉ ra rằng có một mối quan hệ phổ biến cho mọi dạng năng lượng, không chỉ là năng lượng điện từ. Đúng là, nguồn có thể xảy ra nhất từ đạo văn của Anhxtanh là Friedrich Hasenöhrl, một trong những nhà vật lý xuất sắc nhất, nhưng vẫn không được thời đó đánh giá. Hasenöhrl là bậc thầy của nhiều nhà khoa học Đức, người sau này trở thành nổi tiếng trong nhiều chủ đề. Ông đã nghiên cứu dựa trên ý tưởng về sự tương đương khối lượng và năng lượng trong nhiều năm và đã công bố bài báo về chủ đề này năm 1904 trên cùng tạp chí mà Anhxtanh công bố phiên bản ăn cắp ý tưởng năm 1905. Vì công lao lỗi lạc của mình trong lĩnh vực này, Hasenörhl đã được trao năm 1904 giải thưởng uy tín từ Viện khoa học Vienna.

Hơn nữa, mối quan hệ toán học của khối lượng và năng lượng là một suy luận đơn giản từ phương trình nổi tiếng của nhà vật lý Scotland James Maxwell. Các nhà khoa học từ lâu đã hiểu rằng mối quan hệ toán học thể hiện bằng phương trình E = mc 2 là kết quả hợp lý từ công trình của Maxwell, họ chỉ đơn giản là đã không tin nó.

Như vậy, các thí nghiệm của Thomson, Kaufmann, và cuối cùng, và quan trọng nhất, Hasenöhrl, đã xác nhận công trình của Maxwell. Thực sự lố bịch khi tin rằng Anhxtanh đã phát triển định đề này, đặc biệt là dưới góc độ thực tế là Anhxtanh chẳng có phòng thí nghiệm cần thiết để tiến hành các thí nghiệm thích hợp. Trong cùng bài viết ăn cắp ý này của Anhxtanh, ông ta đề nghị cộng đồng khoa học, "Có lẽ nó sẽ chứng tỏ có thể kiểm tra lý thuyết này sử dụng các vật thể mà chứa đựng năng lượng có thể thay đổi đến mức độ cao (ví dụ, muối radium)." Nhận xét này thể hiện Anhxtanh ít hiểu biết về khoa học như thế nào, vì đây thực sự là một nhận xét lạ lùng. Bằng cách nói này, ông ta đã cho thấy mình thực sự không hiểu các nguyên tắc khoa học cơ bản và rằng chính ông ta đã viết ra một chủ đề mà ông ta không hiểu. Bạn đã thấy ông ta loay hoay lúng túng 7 lần không thể nào chứng minh nổi thứ mình đã phát minh ra. Trong thực tế, để đáp trả bài viết này, J. Precht nhận xét rằng một thí nghiệm như vậy "nằm ngoài lĩnh vực của kinh nghiệm có thể."

Chúng ta xem số 1, Chủ đề cuối cùng trong bài luận Anhxtanh năm 1905 là cơ sở của lý thuyết photon ánh sáng. Anhxtanh đã viết về hiệu ứng quang điện. Hiệu ứng quang điện là các electron từ một số kim loại hay chất bán dẫn được giải phóng do tác động của ánh sáng. Lĩnh vực nghiên cứu này là đặc biệt quan trọng đối với hoang đường Anhxtanh bởi vì nó mà ông ta nhận một cách bất công năm 1922 1 giải Nobel. Giải Nobel chả dành cho Anhxtanh vì công lao 2 thuyết tương đối vĩ đại.

Nhưng một lần nữa nó không thuộc về Anhxtanh, mà Wilhelm Wien và Max Planck là người xứng đáng. Điểm chính của bài viết Anhxtanh, và là điểm mà ông ta được cho là có công lao, là ánh sáng được phát ra và hấp thụ bới các phần hữu hạn gọi là lượng tử. Đây là lời giải thích cho hiệu ứng quang điện. Hiệu ứng quang điện đã được giải thích bởi Heinrich Hertz năm 1888. Hertz và những người khác nữa, bao gồm cả Philipp Lenard, đã nghiên cứu dựa trên kiến thức về hiện tượng này.

Lenard là người đầu tiên chứng tỏ, năng lượng của các electron được giải phóng trong hiệu ứng quang điện đã không bị ảnh hưởng bởi thay đổi cường độ ánh sáng, mà bởi tần số ánh sáng. Đây là một bước đột phá quan trọng. Wien và Planck là đồng nghiệp và họ mới là cha đẻ của lý thuyết lượng tử hiện đại. Đến năm 1900, Max Planck, dựa trên nghiên cứu của mình và của Wien, đã chứng tỏ năng lượng bức xạ được hấp thụ và phát ra theo các đơn vị hữu hạn gọi là lượng tử. Sự khác biệt duy nhất trong nghiên cứu của họ năm 1900 và của Anhxtanh năm 1905 là Anhxtanh giới hạn mình để nói về một dạng đặc thù năng lượng của năng lượng ánh sáng. Nhưng các nguyên tắc và phương trình mô tả quá trình nói chung đã được đúc rút từ Planck năm 1900. Chính Anhxtanh tự thừa nhận rằng kết luận rõ ràng của công trình Planck là ánh sáng tồn tại trong các phần tử năng lượng rời rạc. Do đó, không có gì trong bài báo này là nguyên gốc của Anhxtanh.

Năm 1905, chả có trời long đất lở gì cả - như đám bồi bút Do Thái huyên thuyên khoác lác. Cộng đồng khoa học sau bài luận Anhxtanh năm 1905, chẳng mấy chú ý đến thứ họ đã biết rõ trên giấy Anhxtanh và ông ta tiếp tục công việc của mình tại văn phòng cấp bằng sáng chế. Cho đến 1909 khi Thế giới Do Thái thu xếp cho ông ta một chân giảng dạy ở một trường học. Tích cực vung tiền và vận động hành lang, bơm vá trên báo chí lá cải Do Thái kiểm soát, ông ta làm viện sĩ năm 1909, tuy nhiên, cũng phải đến tận 1919 ông ta mới nổi tiếng như toại nguyện. Vị trí viện sĩ + bơm thổi giúp ông ta tiếp tục thuổng mọi công trình của người khác một cách công khai hơn.

Ông tuyển nhiều sinh viên để tìm cách chứng minh lý thuyết của ông ta là do ông ta tự mình phát triển, hoặc tìm cách để áp dụng những lý thuyết này, và sau đó ông ta có thể trình bày các nghiên cứu như là của riêng mình hoặc ít nhất là mình có công lao một phần (như nhận vơ nghiên cứu chung với Borh). Trên tinh thần đó, năm 1912, ông ta bắt đầu cố gắng và thể hiện nghiên cứu hấp dẫn của mình theo khái niệm mới, gần đây giải tích đã phát triển , đó là công cụ có lợi cho hiểu biết thuyết tương đối. Và cũng là khởi đầu của thuyết tương đối rộng, mà ông ta sẽ xuất bản vào năm 1915.

Theo nguồn Google: Einstein+Plagiarist

CindyNg 22-08-2013 14:11

Mối quan hệ giửa khối lượng và năng lượng
 
Trích:

SSX viết (Bài viết 124360)
mối quan hệ toán học của khối lượng và năng lượng là một suy luận đơn giản từ phương trình nổi tiếng của nhà vật lý Scotland James Maxwell. Các nhà khoa học từ lâu đã hiểu rằng mối quan hệ toán học thể hiện bằng phương trình E = mc 2 là kết quả hợp lý từ công trình của Maxwell, họ chỉ đơn giản là đã không tin nó.

Theo nguồn Google: Einstein+Plagiarist

Chào bạn SSX,

Bạn có thể cho tôi một đường link, hoặc bạn có thể trình bày cho tôi quá trình dẫn đến phương trình E = mc2, từ các phương trình điện từ của nhà vật lý James Maxwell, hoặc từ bất cứ người nào khác mà không dựa trên các quan điểm của thuyết tương đối hẹp.

Cám ơn nhiều,

Cindy

SSX 23-08-2013 12:55

Trích:

CindyNg viết (Bài viết 124378)
Chào bạn SSX,

Bạn có thể cho tôi một đường link, hoặc bạn có thể trình bày cho tôi quá trình dẫn đến phương trình E = mc2, từ các phương trình điện từ của nhà vật lý James Maxwell, hoặc từ bất cứ người nào khác mà không dựa trên các quan điểm của thuyết tương đối hẹp.

Cám ơn nhiều,

Cindy

Không có gì, mình sẽ trả lời trong trình độ và khả năng có thể.

Điều này dễ thôi, nếu chấp nhận các quan niệm cơ học cổ điển: ánh sáng là hạt - photon, hạt phải có động lượng, cho dù có khối lượng hay không; vận tốc ánh sáng là hữu hạn để đảm bảo biểu thức có ý nghĩa; và cuối cùng là định luật bảo toàn động lượng; Những điều này là từ nghiên cứu của Maxwell những năm 1850.

Đã có rất nhiều người trình bày cách tính E=mc^2 theo Maxwell này, người đầu tiên có lẽ là Thomson năm 1888. Đây là cách trình bày ngắn gọn:

Biểu thức động lượng photon của Maxwell:

http://img-fotki.yandex.ru/get/6719/...5ba8f55_XL.gif

Cách chứng minh qua Maxwell cần các khái niệm cơ học cổ điển. Vì Anhxtanh tuyên: lý thuyết của tôi mới tinh, do tôi phát minh ra không liên quan gì đến những thứ cũ như cơ học cổ điển nên không thể dựa vào khái niệm cổ điển. Ông ta thất bại, không chứng minh được công thức “của mình”. Về sau, Plank có cách chứng minh khác, độc lập, qua hệ thức chuyển đổi Lorentz, nó có vẻ “gần giống” thuyết tương đối hơn.

Tuy nhiên, chúng ta thấy, đã có nhiều người trước đó có những nghiên cứu về vấn đề này: Newton, Preston, Thomson, Poincare, Olinto de Pretto, Hasenöhrl, Plank...

Newton, dù không viết ra tường minh công thức, nhưng trong các nghiên cứu về ánh sáng ông cũng cho rằng ánh sáng có tính hạt và trong sách “Quang học - Optiks” đã viết như sau: “Các vật thể có khối lượng và ánh sáng có thể chuyển đổi sang lẫn nhau…”

Tolver Preston là người có những tiên đoán rất sớm dựa trên cơ sở E= mc2. Trong cuốn sách “Physics of the Ether” năm 1875, ông viết rằng có thể tạo ra năng lượng từ “vật chất” có khối lượng. Ông còn tính toán khối lượng 1 grain (0,0648 gam) có thể nâng được vật nặng 100 ngàn tấn lên cao 1,9 dặm. Điều đó về sau cho thấy là tương đương công thức E = mc2.

Poincare năm 1900 đã có tính toán “động lượng” ánh sáng bức xạ dựa trên Maxwell và đi đến công thức mv = (E/c^2)c. Ông cho rằng (E/c^2) có vai trò như “khối lượng”, có nghĩa là E=mc^2;

Hasenohrl người Đức công bố biểu thức tương quan khối lượng năng lượng qua nghiên cứu bức xạ nhiệt năm 1904. Tuy nhiên thực nghiệm nhiệt thời đó là quá khó nên đã có một số sai sót. Thí dụ, ông viết m = (8/3)E/c^2 và sau đó đính chính m = (4/3)E/ c^2; Về sau người ta chỉ ra, ông đã có sai sót trong tính toán thực nghiệm, nên mới có con số lẻ 4/3, nếu không đã có công thức hoàn chỉnh E = mc2.

Ông Olinto De Pretto người Ý là một trường hợp kỳ lạ, như đã đề cập ở trang 2 topic này; Năm 1903 ông đã đăng bài viết trên tạp chí của Ý “Reale Instituto Veneto di Scienze” có nghĩa là “Viện khoa học Hoàng gia Veneto” trong đó nêu tường minh công thức E=mc^2. Năm sau ông lại đăng lại 1 lần nữa. Năm 1921 thì De Pretto chết trong 1 vụ ám sát bí hiểm khi đang chuẩn bị công bố cuốn sách các công trình nghiên cứu của mình. Ông chết, các nghiên cứu của ông cũng mất tích luôn và chẳng còn ai biết đến. Rất bí hiểm.

Ngày nay, rất nhiều fan Anhxtanh, coi E=mc2 là toàn phần, là tuyệt đối nên vẫn cứ sai. 3 phương trình phân rã phía dưới, cũng như đề xuất dùng muối phóng xạ, hay bom nguyên tử nổ, không có cách nào áp dụng hay chứng minh Anhxtanh cả, hoặc ít nhất cách đó quá khó không thực hiện được.

Khoan hãy nhìn vào những gì quá phức tạp như bom nguyên tử, ở phản ứng phân rã số 1 , số 2, phân rã beta, gama nhưng nguyên tử He, Ba vẫn còn nguyên. Vậy viết E=mc2 như thế nào? Làm thế nào để bảo toàn năng lượng 2 vế? Hóa ra, E không phải là năng lượng toàn phần, vẫn còn động năng của hạt, kể cả momen quay, cả chuyển động nhiệt nữa. Vì thế mà trong những phản ứng, e- hay bức xạ photon thoát ra có động năng hoàn toàn khác nhau.

1. Phân rã beta: He-3 -> He-3 + e- + ev- (+Q)

2. Phân rã gama: Ba-137 -> Ba-137 + gama

3. Phân rã U-235: U-235 + n -> Ce-140 + Zr-94 + 2n + Q (208 MeV)

1784 MeV < 1173 MeV + 815 MeV + 208 MeV

CindyNg 23-08-2013 18:35

E = mc2
 
Trích:

SSX viết (Bài viết 124385)
Đã có rất nhiều người trình bày cách tính E=mc^2 theo Maxwell này, người đầu tiên có lẽ là Thomson năm 1888.

Cám ơn bạn đã có câu trả lời nhanh chóng. Quả thật, thí nghiệm "cái hộp" có thể dẫn đến phương trình E = mc2, mà không hề cần đến bất cứ ý tưởng nào trong thuyết tương đối. Sự thật này là một luận điểm để có thể nói rằng thí nghiệm "cái hộp" đã xuất hiện trước năm 1905.

Nhưng hiện nay, trong một số sách giáo khoa, vẫn ghi thí nghiệm đó là của Einstein (Einstein's box). Vậy yếu tố thuyết phục nhất, có lẽ là phải tìm được những tư liệu khoa học xuất bản trước 1905 có viết về thí nghiệm này. Bạn có thể tìm được không?

Về các phương trình phân rã hạt nhân mà bạn đã đăng lên, mình không rõ là có phải bạn đang muốn chứng minh rằng phương trình E = mc2 là có vấn đề?

1. Nếu như phương trình này có vấn đề thì tất cả mọi người đều sai, từ Maxwell, Thomson cho đến Stephen Hawking, Trịnh Xuân Thuận, Đàm Thanh Sơn,...

2. Còn nếu phương trình này không sai, mà muốn bác bỏ thuyết tương đối hẹp cũng mệt lắm, bởi vì nó cũng dẫn đến phương trình này. Trong các thí nghiệm kiểm chứng thuyết tương đối, còn có một vài thí nghiệm mà chưa thấy bạn nhắc đến. Đó là thí nghiệm đếm số hạt muon, và thí nghiệm đo sự khác biệt tần số ánh sáng từ trên nóc tháp và trên mặt đất (red/blue shift). Đây là hai thí nghiệm mà vật lý lớn (main stream?) bảo rằng kết quả thực nghiệm là hoàn toàn phù hợp với thuyết tương đối. Bạn phản bác hai thí nghiệm này như thế nào?

CindyNg 26-08-2013 09:57

Gravitational Blue Shift
 
Chào các bạn,

Các bạn có thể tham khảo Harvard Tower Experiment tại đây:

http://www.mrelativity.net/papers/29...ound_rebka.pdf

Khoảng 50 năm trước tại đại học Harvard, người ta có làm một thí nghiệm đo sự khác biệt tần số của ánh sáng trên đỉnh tháp và đáy tháp để kiểm chứng thuyết tương đối.

Cụ thể là như vầy (theo link trên):

Nếu tần số ánh sáng đo được trên đỉnh tháp là fo, thì tần số ánh sáng đo được tại đáy tháp sẽ là f,
f = fo (1+gh/c2)

Với kết quả thu được từ thực nghiệm phù hợp với kết quả tính theo phương trình trên, người ta nói rằng thuyết tương đối một lần nữa đã vượt qua một thử nghiệm.

Người ta đã không sai khi nói về thuyết tương đối như trên, tuy nhiên họ chỉ nói có phân nửa sự thật. Bởi vì, tần số ánh sáng ở đáy tháp tính theo phương trình ở trên, thực chất là suy ra từ phương trình thế năng của cơ học Newton:
PE = mgh,
chỉ cần thay m= E/c2, và nhớ rằng năng lượng E của ánh sáng tỉ lệ thuận với tần số, thì chúng ta có ngay phương trình f ở trên.

Như vậy, nói cho đầy đủ về kết quả thực nghiệm Harvard Tower, thì phải nói như vầy: Thuyết tương đối đã vượt qua thử nghiệm này, VÀ cơ học Newton cũng thế.

================================

Với những thực nghiệm mà thuyết tương đối vượt qua được thì cơ học Newton cũng vượt qua. Còn các thử nghiệm khác cho thuyết tương đối, thì như người bạn SSX đã trình bày, bị vướng vào nghi vấn sửa đổi dữ kiện.

Theo các nguyên tắc khoa học, thì chỉ cần một thực nghiệm cho kết quả khác với lý thuyết, thì lý thuyết là có vấn đề. Nhưng trong thực tế đời sống, cái gì cũng có ngoại lệ. Thuyết tương đối là ngoại lệ! Có nhiều thực nghiệm không kiểm chứng được điều gì cho thuyết tương đối như là thí nghiệm Sao Thủy, thí nghiệm đó độ lệch của tia sáng, thí nghiệm Gravity Probe B, GPS,... nhưng vẫn được người ta thổi lên là chúng hoàn toàn đúng như thuyết tương đối đã tính toán!!!

Tại sao thuyết tương đối lại được "đối xử" khác? Xin thưa, đó là vì Ngày Albert Einstein đã được phong thánh. Mà thánh nói thì không thể sai. Cho nên, có thêm bao nhiêu thử nghiệm nào nữa, thì người ta cũng bảo là chúng phù hợp với thuyết tương đối.

(Khoảng 2 năm trước, người ta thấy có một số neutrino bay nhanh hơn ánh sáng. Một sự kiện có thể ảnh hưởng rất lớn đến số phận của thuyết tương đối. Một thời gian sau, người ta nói đó là kết quả của một sự trục trặc kỹ thuật. Thế là thực nghiệm trên ...qua phà, thuyết tương đối và ngài A.E. vẫn vững vàng trên ngai thánh.)

==================

Chúng ta sẽ trở lại với thí nghiệm đếm hạt moun.

Saomai 26-08-2013 20:35

SM có quen một GS TSKH và hỏi ý kiến ông về vấn đề mà topic này đề cập. Ông nói, vài câu thì không nói được hết ý. Ông chỉ nói gọn như sau: "Thuyết tương đối hẹp là do Anhxtanh tổng hợp kho tàng kiến thức vật lý. Nhiều cái giới khoa học đương thời không tin, nhưng ông tin và không phải ai cũng có khả năng tổng hợp như thế. Còn thuyết tương đối rộng thì là kết quả nghiên cứu của riêng Anhxtanh. Và thiên tài của ông bộc lộ ở đó, kể cả những điểm cho đến nay chưa chứng minh được". Là người ngoại đạo, xin không bình luận gì thêm.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:56.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.