![]() |
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
- Так продолжалось два года = Như thế đã trôi qua 2 năm (tức là: cái việc mình đang nói đó (có vai trò chủ ngữ) đã trôi qua trong 2 năm (2 năm là bổ ngữ cho nó). Trong bài như cháu nói, có nghĩa là : "Anh thanh niên đã 2 năm định ngỏ lời..." - Так прошли два года = 2 năm đã trôi qua như thế. Còn nếu gặp trường hợp "продолжался два года" thì phải cẩn thận, xem chủ ngữ (giống đực) nằm ở đâu đó trong câu. |
Trích:
|
chào các bác
em đọc truyện thấy người ta viết là шел я однажды лесом, останавливался, кормил пташек орешками. ở đây sao lại dùng cách 5 la "лесом" :emoticon-0100-smile |
Trong khi các cao thủ lăn ra ngủ thì tôi thử đưa ra phương án nhé. Tất nhiên là nhờ mạng rồi, chứ về ngôn ngữ tôi kém lắm.
Cách 5:Творительный падеж. Trường hợp bạn hỏi ít gặp, nhưng sau khi tra cứu nhờ cụ Gúc thì tôi thấy vẫn dùng: Trích:
Ví dụ "Nếu anh đi đến đảo X. thì phải đi đường thủy"-ta dùng ехать морем: Ехать морем до острова Анзерского надо еще часа полтора.. Còn trong ví dụ bạn dẫn, шел лесом có lẽ nên dịch là đi đường rừng. Ví dụ: Trích:
|
Trích:
mới liên kết với nhau bằng liên từ чтобы Chỉ cần chuyển một chút là bạn hiểu ngay :Когда ты родился,ты один плакал,а все вокруг радовались. Проживи свою жизнь так, чтобы , все вокруг плакали, а ты один улыбался,когда ты будешь умирать. |
Hatdecuoi đang tìm tài liệu viết về cách sử dụng giới từ B và Ha, sự khác biệt trong cách sử dụng. Các bác có thể cho hatdecuoi vài tên sách được không ạ? Cảm ơn các bác nhiều!
|
Hatdecuoi chắc về VN rồi, nếu còn ở bên Nga thì mình khuyên vào Thư viện Lê-nin (Moskva) tra cứu tại thư mục các luận án về tiếng Nga, thể nào cũng tìm được cái bạn cần. Trước đây, tại đó mình đã nhìn thấy một luận án PTS viết về đề tài này, nhưng vì không liên quan đến lĩnh vực của mình nên không ghi chép lại.
Hatdecuoi làm khóa luận hay luận văn tốt nghiệp? Bạn cứ đọc các sách ngữ pháp, từ điển giải nghĩa v.v... có trong tay viết về 2 giới từ này, sau đó liệt kê tất cả các ý nghĩa của chúng ra và so sánh, tìm các ví dụ sử dụng để chứng minh cho những lập luận của mình. Các ví dụ sử dụng bạn hãy tìm trong tác phẩm của các nhà văn Nga, báo chí Nga (đừng tự nghĩ ra ví dụ). Tối hôm qua, mình vào gramota.ru thử tra nghĩa của "B" và "HA", đã thấy có thể viết khóa luận được rồi. Bạn thử xem nhé. Chúc thành công! |
Cháu vẫn đang ở Nga. Cháu đang tìm tài liệu để thử viết một bài về cách sử dụng hai giới từ này (vì cháu hay bị nhầm). Cháu muốn tìm tài liệu, tự đọc, tự chép ví dụ ra để so sánh. Cháu định khi nào viết xong thì mới dám xem luận án của các tiền bối đi trước, cháu sợ xem bây giờ rồi, thấy các bậc tiền bối viết hay quá rồi lại bị lệ thuộc vào thì chết :">
Rất cảm ơn bác vì đã cho cháu những lời khuyên quý giá!!!!!!!!!!!!!!! |
Ôi, hatdecuoi nghĩ thế là không nên đâu, học tập phải có sự kế thừa chứ, chẳng nhẽ ai cũng phải phát minh bánh xe hay sao?
|
Có lẽ cô hiểu lầm ý hatdecuoi rồi ạ :(
Hatdecuoi muốn tự đọc tài liệu, tự chọn lọc, tự phân tích để rút ra kết luận cho bản thân. Sau đó thì mới đọc tài liệu của các bậc tiền bối vì lúc đó hatdecuoi sẽ biết rõ mình sai chỗ nào, kiến thức mình hổng chỗ nào. Nếu vừa mới bắt tay vào viết mà đã đọc luận án của các bậc tiền bối đi trước chắc chắn sẽ bị phụ phụ thuộc. Hơn nữa hatdecuoi muốn tránh để không phải đi vào vết xe đổ của một bộ phận sinh viên khi mới viết bài khóa luận đã đi đọc các luận án của người đi trước để rồi sau đó thấy người ta viết hay quá và gần như là chép nguyên luận văn của người ta vào bài khóa luận của mình :( |
Các luận văn, luận án cũng là kho tài liệu cả đấy. Mình không nên mất công và mất thì giờ một khi đã có những thứ có sẵn. Tất nhiên là không sao chép lại, mà rút ra, tìm được cho mình những cái cần thiết.
Nếu hatdecuoi còn ở bên Nga thì thuận lợi hơn nhiều vì có thể tham khảo được nhiều tài liệu. Bạn thử tìm quyển sách này và lướt qua xem có cái mình cần không: "Лексические и фразеологические предлоги в современном русском языке: Учебное пособие для студентов, аспирантов, преподавателей-филологов (под ред. Мокиенко В.М.) Изд. 2-е, испр., доп." Còn nghĩa của 2 giới từ "B" và "HA" (bằng tiếng Nga, lấy từ gramota.ru) mình gửi cho bạn qua PM. Bạn hãy chọn lọc những nghĩa cần thiết mà hay nhầm nhất, tìm ngữ cảnh sử dụng, tìm ví dụ minh họa (có thể so sánh với tiếng Việt) là được bài báo rồi đấy. |
Thế thì có thế là do cách học và làm việc của mình ngược với hatdecuoi rồi - gặp vấn đề gì chưa hiểu thì mình phải đi tìm tài liệu, đọc chán chê rồi mới động não - để giữ cho não đỡ bị nhăn ấy mà.
|
Cô Nina khéo đùa làm bọn trẻ như bọn cháu đôi khi cảm thấy sợ :">
|
Trích:
Điều quan trọng là bạn nên đưa ra cái mà núii tài liệu kia chưa có hay chưa rõ ràng. Ví dụ hai giới từ này có thể đảo vị trí dùng thông dụng do đặc thù danh từ đi liền sau nó, và do lịch sử hay tập quán đời sống. Hoặc đơn giản nhưng ít ai để ý là các giới từ này gắn với hình ảnh nhận biết: cái gì đi với B thì mắt không hoặc khó "nhìn" thấy, còn với HA thì nhìn thấy và nổi bật đi kèm các hành động xác định khác về tọa độ.... Đấy chỉ là vài gợi ý ví dụ, bạn nên đọc cái đã có để làm sao tránh đừng trùng lặp với họ thì mới không sợ "phụ thuộc" hay "đụng hàng" :D |
Thời gian thật đáng quý, do vậy cách tiếp cận, nghiên cứu mà các bác Nina và Muzhik gợi ý là chuẩn đấy Hatdecuoi à. "Các luận văn, luận án cũng là kho tài liệu cả đấy. Mình không nên mất công và mất thì giờ một khi đã có những thứ có sẵn. Tất nhiên là không sao chép lại, mà rút ra, tìm được cho mình những cái cần thiết". Không nên "phát minh lại bánh xe"...
Bạn hãy đọc tất cả những gì người ta đã làm. Và một khi có ý thức tốt như bạn, thì SM tin bạn sẽ không sao chép, mà tìm được một cái gì đó của riêng mình. Nhưng với đề tài bạn chọn thì chắc chắn người Nga đã cày nát rồi, nên cái riêng của bạn nếu có chắc sẽ rất nhỏ. Nhưng dù sao cái riêng bé nhỏ đó thực sự là niềm vui, là sáng tạo. Cũng không tránh khỏi trường hợp bạn không tìm được cái gì mới, khi đó bạn tính sao cho luận văn của mình? Chắc là vẫn phải viết, nhưng sẽ viết ra sao? |
Có thể hatdecuoi đi sâu vào những trường hợp người Việt học tiếng Nga hay bị nhầm do khác về tư duy và tâm lý ngôn ngữ, ví dụ như: на заводе, на фабрике nhưng lại в цеху chẳng hạn. Hay những trường hợp trong tiếng Việt dùng là "trên", nhưng trong tiếng Nga lại là "в" và ngược lại.
Một vài gợi ý thế thôi kẻo hatdecuoi loạn đầu mất. Trong thế giới phẳng vẫn có thể "tìm ra châu Mỹ" được đấy! Cái "mới" trong luận văn tốt nghiệp không có gì khủng khiếp lắm đâu. Viết về cái cũ nhưng từ cái nhìn mới cũng rất "mới". Nếu bạn có những dự định phát triển tiếp trong tương lai thì đúng là cần lựa chọn những vấn đề có перспектива ngay từ bây giờ. |
Các bác ơi làm sao để học 100 từ mới 1 ngày đây ạ?(Đừng nói cháu tham nhé)
|
Trích:
Đùa tí thôi. Cái gì bắt bạn phải đặt ra chỉ tiêu "khiêm tốn" như vậy? |
Trích:
|
Trích:
Để sử dụng ngoại ngữ được trong giao tiếp và học tập được ở bậc đại học (hiểu và lưu loát đến đâu cũng tùy, đáp ứng cỡ > 80% về giao tiếp là bắt đầu học tốt được rồi), vốn từ cần thiết vào chừng 5-10 ngàn từ (cũng tùy lĩnh vực, học văn học và các môn khoa học xã hội thì cần nhiều hơn, các môn khô khan như toán thì có khi ít hơn - tất nhiên ở đây không nói sâu vào yêu cầu sinh sống hòa nhập với dân bản xứ, mà cái này cũng tùy hoàn cảnh - là sống cô độc với người bản xứ hay sống trong cộng đồng tiếng mẹ đẻ giữa cộng đồng bản xứ). Vì vậy, các chương trình dạy tiếng cho người ngoại quốc ở các nước nói chung thường cố gắng cung cấp cho người học tiếng trong năm đầu tiên (ngang với mức intermediate) chừng 8-10 ngàn từ, hơn một nửa trong đó là từ sách học, phần còn lại để cho giao tiếp trong cuộc sống tự cung cấp. Vì vậy, mỗi ngày chỉ cần nhồi chừng 25-30 từ là khá đủ (sau một năm có rơi rụng chút ít - nhường chỗ cho khả năng sử dụng chúng ngày một phong phú - là vừa). Quan trọng hơn cả không phải là thuộc bao nhiêu từ như một con vẹt mà biết từ nào chắc từ đó, nghĩa là biết sử dụng từ đó càng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau càng tốt, khi đó ngôn ngữ mới thành sinh ngữ, các từ ta thu lượm được mới trở thành các tế bào sống động trong cuộc sống giao tiếp, đọc/học/trao đổi và viết. Càng sống lâu với người bản xứ, vốn từ sẽ tự nhiên ngày càng phong phú, cả về số lượng lẫn cách dùng. Không có phép lạ nào cho ta biết nhanh biết giỏi quá đối với một ngôn ngữ mới nào đâu ngoài việc năng trao đổi/sử dụng chúng trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau. |
Trích:
|
Trích:
Sau 6-7 năm sống ở Hung, vốn từ của tôi - sử dụng được không phải là thật thành thạo cũng chỉ chừng 5-6000 từ là cùng, trong đó chừng 3000 từ là dùng khá tốt (chủ yếu là các từ thông dụng, có được do sống với người Hung trong nhà họ hàng năm trời và buôn bán chợ búa mà biết). Ấy là do tôi không được học chuyên môn trên lớp bằng tiếng Hung mà làm việc bằng tiếng Anh, lại sống chủ yếu ở ký túc xá giữa một ốc đảo Việt (2 tầng ký túc xá toàn quân cộng sống), với lại tiếng Hung khó bủa mịa ạ. Những người được học ở trường bằng tiếng nước ngoài, sống cùng phòng ký túc với người bản xứ sẽ có nhiều cơ hội giỏi tiếng hơn - he he, bên Nga thì người ta hay nói là tiếng dài hơn thì phải. |
Hehe, các bác nói thế cũng thú vị thật, vì em cũng chịu, chẳng biết vốn từ tiếng Việt hoặc tiếng Nga của em là chừng bao nhiêu từ cả. Có cách nào ước lượng sơ bộ không các bác nhỉ, chứ bảo ngồi viết các từ mình biết ra rồi đếm thì không được :)
Trước đây, em có một thói quen rất xấu. Chẳng hiểu tại sao, nhưng khi gặp một từ rất dài, thì thường em chỉ nhìn được đầu và đuôi, không nhìn được khúc giữa. Phần không nhìn được thì em thường phỏng đoán, xác suất cũng khoảng 50%. Thành ra nhiều khi đọc cả câu xong thấy cực kỳ vô nghĩa, kiểm tra lại thì hóa ra mình đoán nhầm! Mãi khi về Việt Nam mới bỏ được tật này - vì từ trong tiếng Việt thì không dài. |
Trích:
Song cũng có một cách ước tính, thường được giới khoa học gọi là phương pháp tính Fec-mi* (đặt theo tên của Enrico Fermi, 1901-1954). Nói chung, các ngôn ngữ trên thế giới, cái giàu hơn, cái kém hơn, đều có quãng chừng 150-200 ngàn từ/thuật ngữ (hô hô, tính theo số entries trong tự điển bách khoa thư chẳng hạn thì có thể hơn, say 250-270 ngàn). Đơn vị từ thì có thể ít hơn, 100-150 ngàn, hơn kém tùy sự phát triển của chính từng ngôn ngữ. Hầy dà, ta cứ cho là chừng 15-20 ngàn từ gốc đi, ngoài ra là các từ phái sinh - chẳng hạn một từ trung bình sẽ tạo ra chừng dăm (~5) từ khác: từ danh từ ra tính từ, trạng từ, động từ, thêm tiền tố, vĩ tố... Ngoài những từ kiểu có thể tạo từ mới từ chúng ra, cũng có nhiều từ có rất ít từ tạo từ chúng. Tổng số từ gốc không thể tạo từ từ chúng và các từ có thể tạo từ, cùng các từ phái sinh như vậy sẽ tạo nên con số chừng 100 - 150 ngàn đơn vị từ nói trên kia. Một người cầm lấy một tờ báo/một tài liệu/một văn bản nói chung hiểu và đoán tương đối chính xác nghĩa các từ/thuật ngữ, tính trung bình (nhớ là trung bình tính trên tập mọi tài liệu có thể có) vào cỡ trên 50% là khá giỏi ngôn ngữ đó rồi. Nếu tính rằng số từ biết sử dụng khá tốt với một ngoại ngữ của một người là vào cỡ 50% số từ gốc, thì đó sẽ ra con số 7-10 ngàn từ thôi. (trong các sách học ngoại ngữ, ta có thể thấy, nói chung người ta sẽ chỉ tập trung trang bị cho chúng ta những từ gốc thông dụng thôi chứ các từ phái sinh hay từ ghép sẽ ít hơn nhiều, các từ phái sinh khác thì thường được để cho người học sẽ tự tìm hiểu trong quá trình sử dụng ngôn ngữ). Vậy, ta có thể tự đánh giá mình hiểu chừng bao nhiêu phần trăm ngôn ngữ để luận ra được số từ ta biết và số từ ta hoàn toàn làm chủ, phải không Nhi-nốt-trơ-ca? *) Enrico Fermi có cách (ước) tính riêng của ông (Fermi problem hay Fermi estimate), được gọi rộng ra cho các phép tính ước lượng dựa trên các suy luận trung gian. Ngày thử quả bom nguyên tử đầu tiên, các nhà khoa học cha đẻ của quả bom ấy đều nấp ở căn hầm cách xa chỗ quả bom nổ. Vào lúc quả bom nổ và sóng xung kích tới chỗ hầm trú ẩn, Fermi thả một nắm giấy (đã xé vụn trước đó từ sổ tay của ông) xuống, bằng cách đo chiều dài của dải vụn giấy bay ra xa dưới tác động của sóng xung kích, ông nhẩm tính được khá gần đúng đương lượng nổ của quả bom. Fermi was present as an observer of the Trinity test on July 16, 1945. Engineer Jack Aeby saw Fermi at work: As the shock wave hit Base Camp, Aeby saw Enrico Fermi with a handful of torn paper. "He was dribbling it in the air. When the shock wave came it moved the confetti. He thought for a moment." Fermi had just estimated the yield of the first nuclear explosion. It was in the ball park. Fermi's strips-of-paper estimate was ten kilotons of TNT; the actual yield was about 19 kilotons. nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Enrico_Fermi Một thí dụ khác của kiểu tính Fermi là tính bán kính trái đất. Một người Mỹ có thể không thuộc giá trị bán kính trái đất (~6400 km) song có thể tính như sau: Từ bờ đông sang bờ tây nước Mỹ là khoảng 4500 km, trải trên 3 múi giờ, vị chi mỗi múi giờ quãng 1500 km. Trái đất gồm 24 múi giờ, vậy chu vi trái đất chừng 36 000 km, vậy R ~ 36 000 km/6 (~2.pi) ~ 6000 km. Sai số 400 km/6400 km là chừng 6%. Có thể kể ra vô số thí dụ về cách tính như vậy. |
Cháu nghĩ là cô Nina đùa thôi chứ làm gì mà cô lại không tự ước lượng được số từ mình biết ạ. Dù sao thì cháu cũng xin hiến một kế thế này. Cô giở ngẫu nhiên 10 trang trong cuốn từ điển tiếng Nga của C. Ожегова, đánh dấu những từ cô chưa biết rồi đếm xem ở các trang ấy có bao nhiêu từ, tính % ra, được 17%, 21%, 15%, 19% v.v...Lấy trung bình cộng của 10 kết quả này, được 18% chẳng hạn. Như vậy tức là cô biết 82% x 57 nghìn từ = 46,7 nghìn từ.
|
Sau khi tính theo phương pháp của cháu masha90 bày, hóa ra số từ tiếng Nga Gà mờ tôi biết được là quá khủng, chính xác là...6.677, 028 từ:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0150-hands
|
Chú Gà Mờ cứ khéo đùa! Theo cháu thì số từ tiếng Nga mà các bậc trưởng lão trên NNN (bác Micha53, bác Phanhoamay, bác Chaika, bác Bản Đồ, bác baodung, bác LyMisa, bác Vidinh, cô USY, cô Nina, cô Dang Kim Dung, cô Hoa May, chú MU, chú OT, chú Gà Mờ, chú Kóc Khơ Me, chú Nhnam, chú ADAM, chú Dienkhanh v.v...) nắm vững phải vào quãng 35-45 nghìn.
|
Trích:
|
Em thì thấy dự đoán rất khó, kể cả theo phương pháp Fecmi Fecmơ gì đó cũng vậy. Cứ như cá nhân em suy ra thì thấy:
- Nếu lúc nào thích "sĩ", cứ giở trang nào có từ chính trị xã hội thời sự quốc tế ra, giờ trang có đầy các loại danh từ trạng từ tính từ... theo gốc đó - em sẽ thấy mình khá giỏi - biết nhiều, có đến 60% trang đó. - Nếu dính trang vật dụng, từ ngữ sinh hoạt đời sống thường ngày - em thấy mình rất "đuội" - chỉ biết khoảng 30% - Nếu lâm vào trang nào có thuật ngữ y học hay điểu học gì đó - chắc hiểu biết chưa đến 1% - xong hẳn!:emoticon-0136-giggl Như vậy có 1 lời khuyên: các bác cứ chép lại tất cả các từ mình biết ra để luyện chữ và luyện đếm, sẽ có kết quả tương đối chính xác, có thể đăng ký bản quyền, sau này ai dịch mà dùng từ tiếng Việt của bác, bác có thể đưa претензия ra NNN và phạt uống trà, nghe giao hưởng....:emoticon-0157-sun: |
Em thì em chỉ thấy giở quyển карманный словарь ra có khoảng 5000 từ thì hầu như từ nào em cũng biết....cộng với số từ trong từ điển này không có mà em biết, bù vào với số có trong từ điển này mà em không biết thì em chỉ chắc chắn biết và sử dụng thông thạo khoảng 5000 từ! :emoticon-0111-blush . Còn giở quển 2 tôm hay những từ điển mới nhất ra thì thấy số lượng từ mình biết còn rất hạn chế ạ!hic!:emoticon-0107-sweat
|
Trích:
P/s : Biết ít từ nhưng bạn có thể dựa trên cơ sở nắm chắc ngữ pháp, vận dụng thành thục các từ đó trong thực tế, tức là chỉ bằng đấy từ thôi nhưng qua lời nói, tư duy của bạn, bạn có thể tạo ra một hội thoại chẳng hạn .Còn hơn biết nhiều từ nhưng nó chẳng để làm gì cả. Cũng giống như trong tay bạn có hàng nghìn viên gạch (từ mới) nhưng bạn không có vôi vữa (ngữ pháp), bạn không biết vận dụng chúng, thì trong tay bạn vẫn mãi mãi là đống gạch vô tri vô giác. Nhưng nếu bạn biết cách vận dụng những viên gạch một cách linh hoạt, hợp lý, biết sử dụng vôi vữa (ngữ pháp) cho các viên gạch đó, bạn có thể xây nó thành một ngôi nhà khang trang sạch đẹp. Đây là những chia sẻ hết sức chân thành của tôi, tùy vào bạn áp dụng như thế nào cho bản thân thấy hay, thấy hợp với bạn thì bạn áp dụng:emoticon-0150-hands |
@nguyentiendung_83
Bác dịch cụm từ "открытые районы мирового океана = hải phận quốc tế" coi chừng chưa chính xác đâu. Bởi vì khái niệm "hải phận quốc tế" là khá mơ hồ đấy! :emoticon-0150-hands |
Nina nghĩ rằng có lẽ cụm từ "hải phận quốc tế" dịch sang tiếng Nga thành "Открытое море" thì sẽ hợp lý hơn.
Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Liên Xô http://slovari.yandex.ru/%D0%9E%D1%8...E%D1%80%D0%B5/ Открытое море (международно-правовой режим), часть Мирового океана, расположенная за пределами территориальных вод какого-либо государства и находящаяся в общем пользовании всех государств. Còn theo Конвенция ООН по морскому праву Открытое море — морское пространство, расположенное за пределами территориальных, архипелажных и внутренних вод какого-либо государства и находящееся в свободном и равноправном пользовании всех государств в соответствии с принципами и нормами международного права. Như vậy, Открытое море là không gian biển, nằm ngoài giới hạn vùng nước lãnh thổ, quần đảo và nội địa của bất kỳ quốc gia nào, và được sử dụng tự do, bình đẳng bởi tất cả các quốc gia tương ứng với các nguyên tắc và thông lệ quyền quốc tế. Do đó, em nghĩ rằng nó tương đương với khái niệm hải phận quốc tế trong tiếng Việt. Còn khái niệm mơ hồ thì ... giữa lý luận và thực tế luôn có khoảng cách phải không các bác? |
Trích:
Hôm nay lọ mọ vào đây mới thấy cháu nhắc đến tên chú. Không dám, không dám...đâu. Các cô bác khác, nhất là các bậc tiền bối nghiên cứu về ngôn ngữ thì có thể đạt được con số ấy, thậm chí còn nhiều hơn, còn chú thì sau khi học xong chỉ biết đọc, viết, dịch các tài liệu về kinh tế- chính trị- văn hoá xã hội thông thường thôi, các từ- thuật ngữ chuyên ngành như cơ khí máy móc, y học, xây dựng, giao thông vận tãi...thì bó tay.com luôn cháu ạ. Chú tự lượng sức mình chắc chỉ đạt vài ngàn từ là nhiều, từ ngày về nước đến nay không sử dụng nó lại rơi rớt đi một ít nên thấy các chuyên gia ngôn ngữ vào cuộc là phải đứng xa mà nhìn thôi. |
Trích:
Trích:
Mà thú thật em cũng chả biết dịch thế nào nếu nó không phải là hải phận quốc tế. Mà khái niệm chị NINA đưa ra thì nó cũng không xa vời với cụm từ của em lắm. :emoticon-0150-hands Trích:
|
Bạn nguyentiendungrus_83 à, dù 2 cụm từ gần nghĩa với nhau, nhưng cụm từ nào đã được ghi vào luật quốc tế thì sử dụng nó sẽ chính thông hơn chứ?
|
Chào tất cả, Chào anh nguyentiendung_83 và Chào chị Nina!
- iem viết như vậy chỉ để lưu ý đây là topic Hỏi-Đáp và chủ yếu là để tránh cho các bạn mới biết tiếng Nga nhập tâm một số khái niệm chưa hoàn toàn thôi. Đối với người đã biết tiếng Nga thì tự họ có thể kiểm lại việc dịch nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. - Cụm từ "открытые районы мирового океана" dùng trong lĩnh vực đánh bắt hải sản, được hiểu như "vùng tự do khai thác hải sản trên các đại đương". Cụm từ này có thể tương đương với cụm từ "открытые воды мирового океана" trong lĩnh vực đánh bắt, khai thác hải sản. - Hai cụm từ trên chưa chắc tương đương với từ "открытое море" nếu sử dụng ngoài lĩnh vực khai thác thủy sản... - Nhưng nếu cách hiểu "открытые районы мирового океана" là "hải phận quốc tế" thì có thể phải dời sang topic Tiếng Nga kỹ thuật để bàn tiếp. Iem có 2 hình sau mô tả cái gọi là "hải phận quốc tế" theo các định nghĩa mà chị Nina đã dẫn: http://i1203.photobucket.com/albums/...20Waters/_.jpg http://i1203.photobucket.com/albums/...ionalWater.png - Như vậy rõ ràng là có khoảng cách rất xa khi dịch "открытые районы мирового океана" là "hải phận quốc tế". Ý nghĩa của từ "hải phận quốc tế" thường chỉ dùng trong lĩnh vực hàng hải, chỉ nơi mà tàu bè tự do qua lại mà không cần xin phép ai cả. Iem cũng chỉ biết vậy thôi, tất nhiên cũng chưa hẳn đã vậy! (Hình như trong tiếng Anh, hải phận quốc tế là international Waters) |
Ở đây có nhiều giải thích em thấy khá thú vị, mời các bác tham khảo:
http://xuan2011.phapluattp.vn/275967...-dai-duong.htm |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:12. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.