![]() |
Bạn doremon nhớ dùng tiếng Việt có đầy đủ dấu nhé. Nội quy của Diễn đàn yêu cầu như vậy.
Chắc bạn mới biết phương án này, đúng không: наша встреча с другом в клубе была интереcная (tính từ để ở Cách 1) Sau động từ "быть" ở thời quá khứ tính từ, danh từ có thể dùng được cả ở cách 1 và cách 5. наша встреча с другом в клубе была интереcной. Còn vì sao thì vì bạn mới học nên rất khó giải thích. Trước mắt cứ chấp nhận và dùng như vậy. Nhưng bạn nhớ là nếu sau động từ "быть" ở thời tương lai thì chỉ được dùng cách 5 thôi nhé! Chúc bạn thành công! |
Cảm ơn bác мужик nhiều lắm. À bác cho em hỏi câu он хорошо знает и русский и англиский язык có đúng không ạ. Hay là dùng языки
Trong câu на чёрном небе было много звёзд thì много звёзд quy định từ было hả bác . có phải cứ sau много thì bất cứ giống nào cũng dùng было không bác. cảm ơn bác nhiều. |
Câu của bạn về biết các ngôn ngữ thì mình thấy người ta hay nói
Он хорошо знает языки - русский и английский Он хорошо знает русский и английский язык |
Trích:
Он хорошо знает русский и английский языки cũng được. Phần sau bạn hiểu như vậy là hoàn toán chính xác. Bổ sung thêm: Không chỉ sau много mà sau những từ chỉ số lượng không xác định (như мало, сколько, несколько, столько v.v...) đều dùng như vậy. |
Quay trở lại câu em đã nhỡ đố ở trên, thì em rất ngạc nhiên khi Google lại cho thấy, phương án "Это две большие разницы" cho nhiều kết quả hơn
Thực tế là ngay hồi mới sang Odessa, các bà giáo tiếng Nga đã giải thích cho bọn em - đấy là ở Odessa người ta nói thế, nhưng không đúng đâu, vì разница thì chỉ dùng dạng số ít. Thế nhưng hình như cách nói này tỏ ra có sức sống mạnh mẽ, nên lan truyền rộng chăng? Vậy xin công bố đáp án - trong tiếng Nga chuẩn thì phải nói "Это большая разница". Xin hoan nghênh các bạn có đáp án đúng (không có thưởng)! |
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
|
@Anya : Mình không học Tiếng Nga, chỉ học Tiếng Anh thôi nhưng qua đó, mình có 1 kinh nghiệm như thế này về nghe :
- Mình là người nước ngoài, không thể nào nghe 100% tiếng của người ta ngay được, do đó nên bắt đầu nghe theo từ khóa. Khi nghe bạn đừng qua tập trung vào cả đoạn, mà hãy chỉ chú ý vào mấy từ khóa thôi (có nó đủ để hiểu đoạn văn và trả lời câu hỏi). - Tập nói và nghe thường xuyên để tạo phản xạ, lâu dần mình sẽ nghe nói gần như người bản xứ. - Tập với chính mình và bạn bè trước khi thực hành với người bản xứ. |
Trích:
Khi đã có "lưng vốn" về từ vựng và câu (phát ngôn) thì bắt đầu nghe băng (tin tức...) và làm như RaketRu. |
Bác Trans-Over nói mình thấy rất đúng. Khi học bất kỳ từ gì em cũng phải tìm trọng âm của nó ở đâu. Trong tiếng Anh cũng có trọng âm nhưng mình hồi đi học hồi phổ thông thì không bao giờ thấy thầy cô giáo dạy về trọng âm bao giờ, nhiều khi chính các thầy, cô nói cũng không có trong âm. Vậy nên khi mình học tiếng Nga sau đó nhìn lại cách phát âm tiếng Anh của mình thì thấy thật buồn cười, từ nào nói, đọc cũng đều đều từ đâu đến đuôi như trong Tiếng việt luôn.
|
phân biệt giới từ "om" va "из-за"
em thường bị nhầm lẫn giữa 2 giới từ này:
ví dụ khi nói về nguyên nhân thời tiết : mùa màng bội thu nhờ thời tiết tốt. cây cối khô héo vì nắng gắt. hay những câu như: em đi học muộn vì xe đạp hỏng. ..v...v.. mọi người có thể phân biệt giúp em hai giới từ này không ạ |
Mấy câu trên của bạn mình chả thấy giới từ nào :), đùa thôi nhé :)
Tuy nhiên, trong câu "mùa màng bội thu nhờ thời tiết tốt" thì mình nghĩ là nên dùng chữ "благодаря". |
Các giới từ chỉ nguyên nhân có sắc thái như sau:
благодаря: chỉ nguyên nhân mang lại hiệu quả mong muốn (tích cực); из-за: chỉ nguyên nhân gây ra hậu quả không mong muốn (tiêu cực); om: chỉ nguyên nhân chung, thường không thể hiện 2 sắc thái nói trên. |
Trích:
В связи с заменой и настройкой оборудования, доступ к сети Интернет абонентов, работающих по кредитной схеме оплаты, может быть затруднен. |
vậy nhìn chung thì những nguyên nhân mang tính chất không tốt đều dùng "из-за" phải không ạ
em nghĩ rằng vì thời tiết không phải do mình gây ra nên nó là nguyên nhân khách quan nhưng trong câu "cây khô héo vì nắng gắt" thì thầy lại dùng "из-за" nên em chẳng hiểu sao cả. |
Trích:
из-за: Употребляется при указании на 1) место, от которого или из которого начинает движение или перемещение кто-либо, что-либо 2) предмет или лицо, от противоположной стороны которых направлено движение кого-либо, чего-либо 3) причину или на виновника какого-либо действия 4) цель действия, соответствуя по значению словам: ради, во имя 5) лицо или предмет, являющиеся поводом к какому-либо действию, соответствуя по значению слову: по поводу. Vì thế, thày bạn xử lý "vì nắng gắt nên cây khô héo" trong trường hợp này là hợp lý rồi. |
Trích:
Nếu ai đó cảm thấy khoái chí trước cảnh cành khô, lá úa thì người ta có thể dùng "благодаря". Khi sang tiếng Việt, "из-за" thường được dịch là "vì/tại vì", còn "благодаря" thường được dịch là "nhờ/nhờ có". Ngay trong tiếng Việt cũng thấy sự khác biệt về sắc thái của các giới từ này, phải không bạn? |
Trích:
|
Trích:
Ở đây chúng ta không bàn đến nguyên nhân khách quan hay chủ quan vì giới từ này có thể biểu thị cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Quan trọng là: Эта причина вызывает изменение в физическом и психическом состоянии лиц или предмета. Сочетания с предлогом ОТ чаще всего употребляются: 1. при глаголах, обозначающих гибель, смерть или заболевание: умереть, погибать, болеть...от болезни, от голода, от раны.... 2. при глаголах, указывающих на изменение цвета, внешнего вида, состояния, переход от состояния к другому: побледнеть, покраснеть, пожелтеть, позеленеть, побелеть...от стыда, от радости, от сырости, от жары, от холода... Như vậy, câu ví dụ của thầy bạn là thuộc vào trường hợp sử dụng thứ 2. Ngoài ra bạn cũng cần lưu ý rằng, cùng với 1 từ nhưng chúng ta vẫn có thể dùng với các giới từ chỉ nguyên nhân khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh cụ thể. Mời bạn xem 3 ví dụ sau; - Дедушка умер от тяжелой болезни. - Наша экскурсия была отложена из-за болезни старосты. - По болезни он пропустил занятия. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:54. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.