![]() |
@nguyentiendungrus_83.
Có thể em đã hơi quá lời với anh, nhưng chỉ là "hơi" thôi, chứ chắc chắn là không "quá" đâu. Anh đã biết rằng mình có tính tự ái hơi cao thì nên giảm bớt nó đi, cho nó ở mức vừa phải thôi. Chẳng có ai mà không có tính tự ái, có điều là nên nhớ rằng những người khác cũng có tự ái chứ không phải tự ái là đặc quyền của riêng mình. Khách quan mà nói thì anh rất có năng khiếu về tiếng Nga, không phải ai ở Nga vài năm cũng có thể viết tiếng Nga được như anh. Anh đẹp trai, thông minh (em thỉnh thoảng vẫn gặp anh ở trường và biết rõ anh học ở lớp nào, có những người bạn thân nào), nếu anh giảm bớt một chút cái nhược điểm ấy thì thật là tuyệt vời! Em kém anh 7 tuổi, nhưng mong anh đừng khó chịu khi cảm thấy tiếng Nga của anh hình như không bằng em. Điều này không có gì lạ cả vì em từ nhỏ sống ở bên Nga, học phổ thông ở Nga. Và em thoải mái chấp nhận một sự thật là tiếng Việt của em kém xa anh. Chúc anh vui. "Thuốc đắng giã tật" mà. Đôi khi đắng một tí cũng có lợi, phải không anh? |
Trích:
|
@masha90 & nguyentiendungrus_83:
Hai bác đi xa chủ đề rồi đấy. Nếu còn tiếp tục là em xóa những bài "lệch hướng" của cả 2 bác đấy. |
em xin phép nói luyên thuyên 1 tí
Em thấy hình như ai cũng đang quan trọng hóa vấn đề quá thì phải:( |
xin cho em hoi
khi nao thi dung "нет" ? khi nao thi dung "да нет" ?
|
Trích:
|
Trích:
Theo tôi thì: "да нет" dùng giống "нет" chỉ trả lời cho câu hỏi ИК3 nhưng có sắc thái khác hơn,hay nhiều trường hợp "mạnh" hơn "нет" một chút! Trường hợp 1:hay dùng khi mình chưa nghe rõ câu hỏi Nếu tìm một tương đương trong tiếng việt thì tôi xin đề xuất:"ah không" Ví dụ: -ты есть будешь? -что? -ты что - нибудь есть будешь? -да нет, не буду. -Cậu ăn không? -hả? -cậu ăn cái gì đó không? -ah không, tớ không ăn đâu Trường hợp 2:Hay nó còn có sắc thái như kiểu của một câu phủ định nhưng trong đó hàm chứa sự nũng nụi, sự trách cứ, hoặc đôi khi là sự bực tức khi người nói,người hỏi trêu mình hay áp đặt mình vào tình huống mà họ đưa ra tương đương trong tiếng việt là "không phải" nhưng nói với giọng kéo dài...hay giọng hằn học. Với ý nghĩa này người ta dùng "да нет" với ngữ điệu lên cao, kéo dài,đồng thời nhấn mạnh từ нет...(cũng giống trong tiếng việt) TRường hợp 3:Hay có thể dùng thêm tiểu từ ж,же như"да нет ж", "да нет же" nếu người nói cứ mè nheo nhắc đi nhắc lại,câu hỏi yêu cầu một cách kỳ kèo, hay cố tình trêu tức mà ta không đồng ý ta dùng câu này đối lại với thái độ dứt khoát. Câu này theo tôi tương đương trong tiếng việt là : Đã bảo không mà lại hay phủ định điều của người nói một cách dứt khoát : Không phải thế! Đây chỉ là những cảm nhận của tôi trong quá trình sử dụng tiếng nga. :emoticon-0150-hands Chứ không thông qua sách vở nào cả, có thể nó không chính xác hoàn toàn, hay còn các sắc thái khác nữa, vậy mong bạn hãy tự tìm hiểu thêm.:emoticon-0150-hands |
Tuy nhiên, theo chỗ mình hiểu thì thông thường người ta dùng "да нет" trong văn nói, hoặc những sáng tác văn chương nghiệp dư dễ dãi. Trong những hoàn cảnh long trọng, cũng khó gặp kiểu nói này.
|
Trích:
- Không phải như nguyentiendungrus giả thiết là: ""да нет" dùng giống "нет" chỉ trả lời cho câu hỏi ИК3 nhưng có sắc thái khác hơn,hay nhiều trường hợp "mạnh" hơn "нет" một chút!" mà ngược lại. Cụm từ "да нет" để chỉ KHÔNG nhưng yếu hơn, có ý lưỡng lự, phân vân. Nghĩa của câu: - Да нет, не буду. - À không, tớ không ăn đâu. (Thú thực, tôi không hiểu từ 'ah" dùng ở trên có nghĩa là gì, như là "ạ" hay "à"...) 2. Cách dùng 2 từ đó hoán toàn không như giải thích "...còn có sắc thái như kiểu của một câu phủ định nhưng trong đó hàm chứa sự nũng nụi, sự trách cứ, hoặc đôi khi là sự bực tức khi người nói,người hỏi trêu mình hay áp đặt mình vào tình huống mà họ đưa ra tương đương trong tiếng việt là [B]"không phải" Đây là phương pháp phân tích của mấy ông thầy dạy ngoại ngữ VN, hay làm phức tạp hóa vấn đề theo suy luận "hàn lâm" của mình để doa học trò. Người Nga đơn giản hơn nhiều!!!. Và Nina nói rất hợp lý "... thông thường người ta dùng "да нет" trong văn nói, hoặc những sáng tác văn chương nghiệp dư dễ dãi. Trong những hoàn cảnh long trọng, cũng khó gặp kiểu nói này.". Không phải vì "да нет" thấp kém hay "thiếu văn hóa" hơn từ "нет", mà vì trong giao tiếp long trọng không nên diễn tả ý mình kiễu lưỡng lự, phân vân!. |
Trích:
-Ух ты! сегодня такая нарядная, как будто, хотела выразить себя как звезда попсы перед публикой??!! -да неттт, я просто хотела обновить себя. hay: - У Тани есть парень? - Нет.Она тебе нравится да?? я вижу это в твоих глазах. -да нет, ты че? она мне как друг, я так просто спрашиваю. Nhìn chung viết lên thế này không thể hiện hết đc ý nghĩa, cần phải nói trong tình huống để có thể thấy hết sắc thái của nó qua ngữ điệu của người nói! |
Trích:
Trong mọi trường hợp (kể cả trong 2 ví dụ vừa nêu), cụm từ "да нет" có nghĩa như tôi nói, nếu có thêm nghĩa phụ gì khác thì phải có từ thêm nữa hoặc ngữ cảnh đặc biệt. Bạn cứ yên tâm đi, tôi học và hiểu tiếng Nga cẩn thận, nhiều tài liệu tôi dịch cấp Nhà nước, dùng cho cả NCS và SV Việt Nam học ở Nga..., và đã hơn 10 năm ở "cố định" với người Nga. Nói như người Nga "Не надо усложнять себе жизнь!" - hiểu đúng, cứ thế mà nói, đừng quá sa đà vào phân tích các tình tiết phụ.... |
Trích:
|
Tiếng Nga 'hiện đại"
Bạn hiểu như thế nào nghĩa của các từ tô đậm trong các câu sau:
1. Мне всё это по барабану. 2. Мне всё давно до лампочки. 3. Я полный чайник в компьютерных делах! (Cho biết xuất xứ của chúng, việc này tôi không rõ lắm) |
Trích:
|
Trích:
1. Мне всё это по барабану. = ...все равно, все безразлично 2. Мне всё давно до лампочки. http://www.askguru.ru/list.ghtml?ID=361037 http://www.echo.msk.ru/programs/rusa...h/718917-echo/ 3. Я полный чайник в компьютерных делах! = новичок http://origin.iknowit.ru/paper1178.html |
Trích:
Forum là nơi mọi người cùng thảo luận, ai biết gì thì nói ra, mọi người chọn lưa ý kiến có ích cho mình và chúng giúp cho bản thân người đó hoàn thiện thêm. Theo tôi. chữ "Forum" dịch sang tiếng Việt là diễn đàn cũng không đạt lắm (tức là có người diễn thuyết và người nghe rạch ròi), nó là hình thức trung gian, giữa Diễn đàn và Hội thảo. Vì vậy, nói "chiến" và "cổ có gân" như trên là quan niệm phiến diện, vì không ai dạy (hay cố gắng dạy) ai ở đây cả. Và bạn nguyentiendungrus, khi đưa ra nhận xét, đã viết rõ: "Có lẽ chỉ những người đã từng sống bên Nga mới cảm nhận đc sắc thái của nó!" và "Đây chỉ là những cảm nhận của tôi trong quá trình sử dụng tiếng nga. Chứ không thông qua sách vở nào cả...". Người biết nói ra để người chưa biết hiểu - điều này rất đáng hoan nghênh! Thứ hai, trong nhiều lĩnh vực, nếu nhiều người nói ra những hiểu biết của mình, người nghe biết chọn lọc thì tất cả đều có ích. Đơn cử, chỉ riêng trong 2 chuyên mục "Tiếu lâm" và "Thành ngữ", tuy tôi biết tiếng Nga vào loại tốt, nhưng nhờ nhiều post của nhiều người am hiểu (hơn 20 trong vòng 2 tuần) tôi hiểu rõ thêm cách dùng, hành văn... tiếng Việt trong những trường hợp đó. Thật là nhẹ dạ, nếu không là ngốc, khi bỏ qua hay coi nhẹ những ý kiến bổ sung cho hiểu biết của mình. Tất nhiên, người hiểu biết trong từng lĩnh vực cụ thể cần chấn chỉnh lại nếu phát hiện thấy ý kiến nào đó có thể gây ra nhầm lẫn. Nhưng phải trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng sự hiểu biết của nhau thì tất cả mới trở thành có ích cho mọi thành viên!. |
Trích:
|
Trích:
Còn cụm 3 bác USy nói cũng có ý đúng. Tương đương câu này là : я не разбираюсь в компьютерных делах! я не хорошо знаю про компьютерные дела!!:emoticon-0150-hands |
Trích:
Em có thấy một chỗ thảo luận về các dạng này, các bác tham khảo xem nhé http://forum.lingvo.ru/actualthread.aspx?tid=80300 Còn câu thứ ba, theo em nó xuất phát vào thời kỳ ... tin học hóa nước Nga, đại loại là khi Windows95 bắt đầu được cài đặt trên các máy tính. Các bác cũng biết đấy, máy tính phát triển rất nhanh cả về chất lượng lẫn số lượng, mà số lượng máy tính tăng thì số lượng người sử dụng cũng tăng (theo cấp số nào thì em không dám nói). Rất nhiều người - chủ sở hữu máy tính, khi đó được coi là một vật rất sang trọng, đẳng cấp, - lại hầu như không biết cách sử dụng máy. Và cũng thời kỳ đó, một loạt sách dành cho đối tượng này ra đời, một số lớn trong đó được dịch từ tiếng Anh, đại loại - Word For Dummies, Windows for Dummies, Excel for Dummies http://img.amazon.ca/images/I/51QPDv...SH20_OU15_.jpg Và phiên bản tiếng Nga thì người dịch đã dùng chữ "для чайников" để dịch loại sách này. Em cũng không hiểu tại sao, nhưng những cuốn sách ấy khá phổ biến, thậm chí bây giờ vẫn còn tiếp tục xuất bản, ví dụ: http://litera.by/products/images/f821e9ae.jpg Các bác cũng thấy đấy, thiết kế bìa gần như y chang nhau. Có lẽ là từ đó, từ "чайник" được dùng với nghĩa - tôi hoàn toàn không hiểu gì trong lĩnh vực này. |
"чайник" được dùng với nghĩa "tài xế tay mơ" từ lâu lắm lâu lẳm rồi Nina ơi, trước khi PC thịnh hành nhiều. Ô tô tập lái còn đính cả hình này đằng sau kính thay chữ "TẬP LÁI" ở Vn ấy chứ! Mình nghĩ từ чайник với nghĩa "tay mơ" đầu tiên dùng cho cánh mới lái xe, về sau mới dùng lẫn sang lĩnh vực máy tính.
http://static2.aif.ru/public/article...08b54d_big.jpg |
Trích:
Để tránh phạm tội xì pam, xin gài đây 1 câu hỏi: trong tiếng Việt có chữ xà-ích, chỉ người đánh xe ngựa. Vậy xuất xứ của từ này là chi vậy? |
Trích:
Loại suốt đời xiên xẹo như tui cũng phải ngả nón chào, xiên thế mới xẹo chứ! Thật là kính nể. :emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm Trích:
|
Trích:
Và để tâm phục, khẩu phục thì nhất định người trả lời phải tìm được từ gốc của chữ đó bằng tiếng nước ngoài (hoặc phiên âm nếu thứ chữ đó tượng hình). Ví dụ rau Cải xoong của tiếng Việt có gốc từ chữ cresson [cre-xông] của tiếng Pháp. |
Tìm trên Internet thì thấy có chỗ giải thích rằng từ xà ích có nguồn gốc từ tiếng Phi-luật-tân (Philippines). Cơ mà dùng công cụ dịch Google với từ xà ích, chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Phillipines thì ra những từ chả có liên quan gì tới xà ích (hao hao đồng âm) cả. Có thể một phương ngữ Philippines nào đó chăng? Mà nếu thế thì botay.com.
|
Em hỏi Google, "nó" dịch "xà ích" sang tiếng Pháp thành faisceau utile, còn "xà-ích" thì thành faisceau-ons. Vì trình tiếng Pháp của em là vô cùng bé, nên em đem chữ faisceau dịch lại ra tiếng Việt bằng Google thì được nghĩa là chùm.
Thế nên em cũng chẳng hiểu xà ích xuất phát từ đâu (từ chuồng ngựa?). Nhưng em phát hiện ra là chữ tiếng Nga кучер xuất phát từ chữ cocher trong tiếng Pháp - vì nghe nó phát âm cũng hơi hơi giống nhau thì phải. |
Tôi đã tìm theo cách như sau:
Gõ coachman, yêu cầu Google dịch sang các thứ tiếng vùng Nam Đảo (Philippines, Malaysia và Indonesia) bởi các thứ tiếng này chung một họ tiếng Nam Đảo, rất dễ gần nhau về một số từ. Rất may tới tiếng Indonesia thì được: Từ điển - Xem từ điển chi tiết danh từ 1. kusir 2. sais 3. pengendara kuda Trong đó có từ thứ hai sais gần như đồng âm hoàn toàn (1. Cùng 2 âm tiết; 2. Âm tiết đầu là sa, giống xa/xà trong tiếng Việt; 3. Âm tiết thứ 2 là is, rất giống ích trong tiếng Việt). Vấn đề cần tìm hiểu thêm ở đây là: 1. Liệu có đúng là từ xà ích có xuất xứ từ tiếng Indonesia nói riêng, tiếng Nam Đảo (gồm thêm Philippines, Malaysia) nói chung hay không (trong tiếng Malaysia sais cũng là coachman/xà-ích, có lẽ hai nước này tiếng giống nhau như Lào với Thái chăng?)? 2. Sâu hơn nữa, do dân Trung Quốc di cư rất nhiều sang vùng Nam Đảo (nhất là sau khi nhà Thanh diệt nhà Minh) nên có thể trong từ vựng của vùng Nam Đảo có thể pha lẫn từ tiếng Trung Quốc (trong tiếng Trung Quốc, từ phát âm là xa/xưa có một nghĩa là xe - từ Hán-Việt cũng là xa). Biết đâu từ sais đó chỉ là từ Hán-Indo thì sao (chỉ thêm đuôi is vào để chỉ người đánh xe - y như từ coachman = coach (xe 4 bánh, từ này gốc tếng Hung) + man (người) trong tiếng Anh vậy thôi). Bàn thêm: Từ kusir thì là một từ khá chung vùng Nam Đảo (tiếng Malaysia cũng là kusir, còn tiếng Philippines là kutsero), còn từ pengendara kuda trong tiếng Malaysia thì cũng y như vậy. |
Trích:
|
Bác nào biết tiếng Khơ-me thử xem "xà ích" có phải bắt nguồn từ đó không nhé! Xà ích dùng chủ yếu ở Nam bộ, sau này mới lan ra Bắc bộ nhưng không phổ biến lắm. Ở Nam bộ người Khơ-me nhiều, hay dùng xe thổ mộ. Biết đâu xà ích lại chẳng bắt nguồn từ tiếng Khơ-me, chứ tiếng Việt ta ít chịu ảnh hưởng bởi mấy bác Phi-líp, Mã-lai hay In-đô lắm!
|
Trích:
Truyện Kiều có câu: Trăng thề còn đó trơ trơ Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng Dám ở đây có nghĩa là đâu dám, không dám. Cũng còn có nhều từ mà ghép vào hai từ đối nghịch lại ra cùng một nghĩa. Từ mòn chẳng hạn. Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao vốn ban đầu là Chết mòn, nghĩa chẳng hề thay đổi mấy (theo phương diện ngữ nghĩa mà Nam Cao định truyền tải). --- Mà cái này có lẽ cũng có cả trong tếng Nga nữa ạ. Từ знать chẳng hạn. Đặt ở đầu câu, nó có nghĩa là Chẳng lẽ?, không dính dáng gì tới từ Hãy biết cho cả Thí dụ câu hát trong bài ca sông Volga: Знать любовь не дорога? Nghĩa là Chả lẽ tình yêu lại không quý giá sao?, sang tiếng Việt, lời ấy được dịch là Có hay chăng (ngày tháng mong chờ - ơ hơ, cái này thì dứt khoát là nhét ca từ ta vào mồm ca sĩ nhở) Cái đoạn này thì tui cũng không chắc lắm, các bác thạo tiếng Nga chỉ giáo giúp nhé. |
Trích:
Rất có thể từ xà ích đã theo về cùng với cái xe thổ mộ đó. |
Trích:
|
Trích:
Từ чайник đơn thuần Nga, nó là dụng cụ nhà bếp đơn giản nhất, trước khi chuẩn bị nấu ăn người ta thường đun ấm nước rồi mới làm tiếp các việc đòi hỏi chuyên môn khác. Ngoài ra, về hình tượng người Nga hay dùng, khi chụp lên đầu чайник thì phải "lọ mọ" tìm kiếm học hỏi như hai chú này! |
Trích:
Trích:
http://cadao.org/index.php?option=co...hong&Itemid=91 |
Trích:
Không có nhiều thời gian để gõ lại trong "CHUYỆN ĐÔNG CHUYỆN TÂY"-Quyển 1 của tác giả An Chi, tôi xin trích trong E-thuvien.com: 64. (KTTN 110, ngày 01-6-1993) Xin cho biết xuất xứ của mấy tiếng mã tà (lính cảnh sát thời trước). AN CHI: Mã tà là do phiên âm từ tiếng Mã Lai manta-mata có nghĩa là cảnh sát. Hình thức gốc ban đầu là ma tà, theo ghi nhận của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc âm tự vị. Về sau, ma đã được phát âm thành mã. Xin nhớ rằng tiếng Việt, nhất là địa phương Nam Bộ, có nhiều từ gốc Mã Lai. Thêm một ví dụ: xà ích, người đánh xe ngựa, là do tiếng Mã Lai saïs. link: http://www.e-thuvien.com/forums/show...t=6033&page=10 |
Có vẻ như đề nghị của tôi về gốc từ sais từ tiếng Trung Quốc gây hồ nghi cho nhiều người. Tôi sẽ giải thích thêm suy nghĩ của tôi như sau.
Quá trình mượn từ ngoại lai của mọi dân tộc (mọi thứ tiếng) đều diễn ra như sau: 1. Có người nước ngoài tới (buôn bán hay chiếm đóng...) mang theo các khái niệm mới, hoặc có hàng hóa/vật dụng/gia súc... mới theo chân các nhà buôn hoặc các nhà thám hiểm đi xa trở về. 2. Do mới, tức là không có khái niệm/từ ngữ trong ngôn ngữ bản địa nên người ta sẽ: a) Cố chuyển nghĩa sang gần giống với từ đã có sẵn; b) Mượn từ nước ngoài và phiên âm cho dễ đọc/nói. Có quá nhiều thí dụ như thế trong rất nhiều thứ tiếng khác nhau, không thể kể xiết. 3. Một số từ đã quá lâu sẽ được coi như và trở nên từ thuần của ngôn ngữ chịu du nhập. Thí dụ trong số từ được coi là thuần Việt, có rất nhiều từ gốc Hán chứ không phải là từ Việt cổ (có gốc từ hệ Việt-Mường trong họ tiếng Môn-Khơ-me), chẳng hạn như từ buồm, gan... có gốc tếng Hán. Khái niệm xe chắc chắn chưa có trong ngôn ngữ các dân tộc vùng Nam Đảo từ trước, bởi xe ở châu Á được làm ra có lẽ đầu tiên tại Trung Quốc (chỉ có hai bánh - có thể thấy rõ điều này từ chữ tượng hình, chữ xa/xe trên mặt quân cờ/lá bài tam cúc rất quen thuộc, khác với kocsi hay coach... của châu Âu có 4 bánh). Thế thì nó sẽ có lúc nào đó được du nhập vào các đảo vùng Đông Nam Á, tôi thiên về giả thuyết người Trung Quốc di cư mang theo, mạnh nhất là vào thời sau nhà Minh (hàng vạn/chục vạn người đã di cư tránh tàn sát/cướp bóc của quân Thanh, mang theo phong tục, ngôn ngữ... ảnh hưởng mạnh tới các vùng họ tới). Từ đó người vùng Nam Đảo mới có khái niệm về xe, và rất có thể đã mượn chữ xa (ký hiệu phiên âm thành sa) trong tiếng Trung Quốc, y như người Việt đã mượn chữ xa (phiên và biến âm dần thành xe, còn từ này ngày trước người TQ đọc/nói thế nào vị tất cũng đã có ai biết bởi tiếng nào cũng vậy, tiếng Trung Quốc cũng không là ngoại lệ nên đã thay đổi theo thời gian - thế nên mới gọi là sinh ngữ). Nhìn vào 3 chữ trong tự điển do Google cung cấp, ta thấy từ kusir và từ sais được đưa lên trên từ pengendara kuda (tôi đoán là từ Malaysia cổ, với từ pengendara nghĩa là người cưỡi/người điều khiển còn kuda nghĩa là ngựa, chỉ là cố chuyển nghĩa thành từ đã có sẵn trong ngôn ngữ Nam Đảo từ trước), cái này thường thấy trong các từ điển là xếp các nghĩa/từ thông dụng hơn lên trước - trong trường hợp này là các từ mượn được dùng nhiều hơn, nhất là trong văn viết, quan trọng (điều này cũng thấy tương tự trong tiếng Việt: những văn bản quan trọng, trịnh trọng thì người ta hay dùng từ Hán-Việt hơn còn trong văn nói thì lại hay dùng từ thuần Việt, thí dụ như thiếp mời đám cưới thì ghi Kính mời... tới dự hôn lễ của..., chứ không viết tới dự đám cưới, trong khi có ai hỏi ta đi đâu ta sẽ trả lời đi dự đám cưới của... chứ không mấy khi nói đi dự hôn lễ của..., có vô số thí dụ như vậy). Như vậy, ngoài từ pengendara kuda thuần Mã-lai, rất có thể các từ sais và kusir có gốc ngoại lai (kusir/kutsero thì lai từ tiếng Châu Âu - coach/kocsi/cocher/kutsche...), còn sais thì liệu lai từ tiếng nào? Lai từ tiếng TQ chăng? |
Em xin đóng góp 1 chuyện vui có thật.
Chuyện là có 1 hôm, ông Nga ở cơ quan ngày xưa của em mặt mũi nghiêm trọng hỏi nhỏ em: "Cơm lễ" là gì? Em nghĩ mãi 3 ngày không ra, kể cả tra các kiểu từ điển tiếng Việt từ cuốn của cụ Đào Duy Anh cho đến cuốn của cháu chắt cụ. Mãi sau em bực quá, mới hỏi lại: ông thấy cụm từ này ở đâu? Ông ta trả lời là ở trong giấy mời đi dự chiêu đãi. Liệu các bác có suy luận ra đó là từ gì không ạ?:emoticon-0102-bigsm Thêm 1 câu đó vui nữa (cái này em "cóp" của 1 mem cũ NNN: từ "bát phố", rồi sau là "bát tiết (học)" có gốc từ đâu? |
Trích:
Xin góp thêm một chuyện có thật như tiếu lâm về người Nga học tiếng Việt. Khi tôi mới học tiếng Nga, có tiếp xúc với 1 cậu SV Nga ở trường Phương Đông, câu ta kể lại 1 tháng thực tập ở Hà Nội: Ra chợ, anh ta thấy có người nói: "Chuối hôm nay rẻ thối", về nhà hỏi: "Rẻ thối là gì?". Các bạn VN trả lời: Có nghĩa là rất rẻ. Một tháng sau, trên sân ga, vẫy tay chia tay mọi người, anh ta gào lên: "Tôi nhớ các bạn thối ra đấy!". Còn xuất xứ của cụm từ "bát phố", "bát tiết (học)" xin chờ ý kiến mọi người. |
Bát tiết...he he, bát tiết canh chứ nhỉ, thèm quá:
Tứ thời bát tiết canh chung thủy Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang.:emoticon-0102-bigsm |
Trích:
-Phương pháp dịch này thường đc áp dụng dịch các từ đặc thù mô tả thực thể văn hóa. Em lấy ví dụ trong tiếng nga có từ Самовар. Đây là một từ đặc thù trong văn hóa nga mà việt nam không có. Với từ này người ta đã áp dụng các cách dịch như sau: -giải thích : ấm lò -phiên âm: xa-mo-va nhưng phải thêm từ chỉ chủng loại : ấm xa-mo-va để người chưa từng tiếp xúc với nền văn hóa Nga cũng có thể hiểu đc. Hay thậm chí có thể dịch ấm lò xa-mo-va Ý em là với những từ hay ngữ đặc thù kiểu này ta phải áp dụng cả hai phương pháp để giúp người tiếp nhận thông tin có thể hiểu thông tin một cách tốt nhất. :emoticon-0150-hands Đây chỉ là một ví dụ điển hình, còn rất nhiều ví dụ khác. :emoticon-0150-hands |
Trích:
Праздничный обед - bữa cơm nhân ngày lễ hội có t/c vui mừng. Поминки - đồ vật hoặc bữa cơm tưởng niệm, như kỵ giỗ của ta. Приношение - đồ vật, nghi lễ dùng tế thần trong các lễ tôn giáo, Tôi dùng trường hợp đầu vớ câu "Chắc là..." vì nó phổ thông nhất, còn có đúng với bối cảnh hay không thì tác giả câu hỏi biết. Về phương pháp dịch, để tránh nhầm lẫn xin bạn miễn bàn, và ta không nên "изобретать велосипед". Khi dịch, ngoài hiểu biết của mình, các quy tắc dịch thuật phải căn cứ vào Quy định của Viện KHXH Việt Nam nếu dịch Nga-Việt, và của Viện Phương đông thuộc Viện HLKH Nga nếu dịch Việt-Nga. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 08:21. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.