![]() |
Trích:
Một số thông tin về anh đứng giữa. Đây là một cựu chiến binh Mỹ tên là Mike Walk. Hàng năm cứ đến dịp tưởng niệm 16.3 Walk trở lại Việt Nam trong một cố gắng hàn gắn cho những tội ác đã được thực hiện đối với người dân Sơn Mỹ. Một trong các hoạt động mà Walk theo đuổi là chơi vĩ cầm, chơi cho những cư dân hiện tại và cho cả linh hồn của những người đã khuất. Mike Walk cũng là nhân vật chính trong phim Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai là bộ phim tài liệu Việt Nam được làm năm 1998, đạo diễn Trần Văn Thủy. Bộ phim đã được giải thưởng Phim ngắn hay nhất (Best Short Film Award) tại Liên hoan Phim châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 43 tổ chức ở Thái Lan năm 1999. Cũng trong năm này, phim đạt giải Bông sen bạc của Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 12. |
Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ qua đời
Nguồn: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/12/3BA24144/ Mẹ Thứ bên mâm cơm 9 người con. Ảnh: Tư Liệu. Ngày 10/12, mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ đã qua đời tại Đà Nẵng, hưởng thọ 107 tuổi. Linh cữu của mẹ đã được đưa về nhà riêng tại Quảng Nam, lễ viếng được tổ chức từ 19h cùng ngày. Lễ truy điệu mẹ Thứ sẽ được UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức lúc 8h ngày 14/12, di quan lúc 9h cùng ngày. An táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn. Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904, tại xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Mẹ Nguyễn Thị Thứ có 9 con ruột, một con rể và 2 cháu ngoại lần lượt hy sinh. Cuộc đời mẹ đã trở thành huyền thoại, thành tượng đài của lòng yêu nước, đức hy sinh. Hình ảnh đau thương và anh hùng của mẹ là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà điêu khắc, các nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo trong cả nước khai thác, sáng tạo nhiều tác phẩm hùng tráng. Tại khu vườn nhà mẹ Thứ có 5 hầm bí mật, nơi mẹ và con gái đầu là Lê Thị Trị - cũng là mẹ Việt Nam Anh hùng, từng nuôi giấu nhiều cán bộ, bộ đội, du kích. Năm 1994, mẹ Thứ đã được Chủ tịch nước và Quốc hội trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng. Bức tượng của mẹ được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Con gái của mẹ Nguyễn Thị Thứ là Lê Thị Trị (nay đã ngoài 80 tuổi) cũng được Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 30/4/2007, vì có chồng và 2 con gái là liệt sĩ . Nhà điêu khắc, họa sĩ Đinh Gia Thắng là người thực hiện công trình tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng lấy nguyên mẫu từ mẹ Thứ, được khởi công từ ngày 27/7/2007 tại Núi Cấm, thuộc thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tỉnh Quảng Nam có hơn 6.000 mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ Thứ là mẹ Việt Nam anh hùng sống thọ nhất tỉnh Quảng Nam. Trí Tín - Thu Phong OT có vinh dự được vài lần đến thăm Mẹ Thứ. Từ cái hồi còn đi đẽo đá, khác tranh đá kiếm sống OT đã tự hứa với lòng mình sẽ quyết tâm làm một bộ chân dung khắc đá các con cháu liệt sỹ của Mẹ để tặng Mẹ. Nhưng rồi thời gian cứ trôi đi, cuộc sống mưu sinh xô đẩy, đã hơn cả chục năm trôi qua từ cái ngày tự hứa ấy mà giờ vẫn chưa làm được. Biết mình có lỗi với lòng mình, có lỗi với Mẹ nhưng giờ đây biết làm thế nào? Mẹ đã nằm xuống. Nhưng thà muộn còn hơn không! Xin thắp một nén nhang thành kính viếng hương hồn Mẹ! :emoticon-0106-cryin |
Truông Bồn
1. 2. 3. http://i772.photobucket.com/albums/y...n/DSC_0011.jpg Các Liệt sỹ TNXP đã anh dũng hy sinh tại Truông Bồn 4. 5. Khu 4 năm xưa, hàng chục ngàn thanh niên Việt Nam đứng trong hàng ngũ TNXP đã vượt mọi khó khăn, gian khổ, chịu nhiều hy sinh, mất mát, nối thông tuyến đường tiếp viện vào Nam. Ác liệt nhất là những năm 1967-1968, vùng giáp ranh Khu 4 trở thành vùng trắng, hàng ngàn TNXP đã nằm lại Truông Bồn, Truông Kè, Ngã Ba Đồng Lộc, ngầm Long Đại. |
6.
7. 8. 9. TNXP không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng là những người chịu nhiều bom đạn, gian khổ, hy sinh. |
10.
11. Khu di tích lịch sử Truông Bồn thuộc xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Đây là nơi 13 nữ TNXP (Thanh niên xung phong) thuộc Đại đội 317 thuộc Tổng đội TNXP Nghệ An đã hy sinh vào lúc 5 giờ 30 ngày 31/10/1968 chỉ vài giờ trước khi Mỹ ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc. |
12.
Hơn 40 năm trước, trên các “Đoạn đường kiểu mẫu” do Khu QLĐB 4 quản lý như đường Hồ Chí Minh, QL7, QL15, vị trí những cánh đồng lúa xanh mướt Truông Bồn, Truông Kè, Ngã Ba Đồng Lộc, ngầm Long Đại này là vùng giáp ranh. Cả chiến trường Khu 4 địch đánh phá ác liệt. Các tuyến đường 15, 16 lúc đó bị địch phong tỏa. |
Hải đảo Côn Sơn: Trường học Đấu tranh Cách mạng
http://i1178.photobucket.com/albums/.../P10208121.jpg Khuôn viên trường http://i1178.photobucket.com/albums/.../P10208271.jpg Giảng đường http://i1178.photobucket.com/albums/.../P10208281.jpg |
CẦu cho linh hồn các Chị được siêu thoát--thế hệ sau luôn luôn khắc ghi công ơn của các chị!
|
Thưa các bác!
Trên đường du Nam, em vinh dự được đi qua quê hương của Chị Võ Thị Sáu (Ở đây tất cả mọi người đều gọi là cô Sáu) thuộc xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thật là bùi ngùi xúc động vì từ khi chưa cắp sách đến trường đã được nghe về tấm gươm chiến đấu và hi sinh của Cô Sáu, nhưng giờ đây mới được đặt chân tới mảnh đất quê hương, căn nhà nơi Cô Sáu sinh ra và lớn lên. Được thắp nén hương và nghiêng mình tưởng nhớ người con gái bất khuất. Đặc biệt điều này rất quý giá đối với tiểu Hổ nhà em. Chia sẻ với các bác một số hình ảnh Công viên Võ Thị Sáu: Cổng công viên: Tượng Cô Sáu: http://i327.photobucket.com/albums/k.../2010/9-10.jpg http://i327.photobucket.com/albums/k...a/2010/4-9.jpg http://i327.photobucket.com/albums/k.../2010/3-13.jpg Nhà lưu niệm Cô Sáu: Bài thơ của nhạc sỹ Nguyễn Đức Toàn: Biết ơn chị Võ Thị Sáu: Chân dung Cô Sáu: http://i327.photobucket.com/albums/k.../2010/7-11.jpg http://i327.photobucket.com/albums/k.../2010/2-16.jpg Mùa hoa - lê - ki - ma nở Ở quê ta miền đất đỏ Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng đã chết cho mùa .. hoa lê - ki - ma nở Đời sau vẫn còn nhắc nhở Sông núi đất nước ơn người anh hùng đã chết cho đời sau... :emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe |
Dâng hương tưởng niệm vụ thảm sát ở Sơn Mỹ
Sáng nay 16.3, tại Khu chứng tích Sơn Mỹ, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm 44 năm ngày giặc Mỹ gây ra vụ thảm sát 504 người dân vô tội ở Sơn Mỹ (16.3.1968 - 16.3.2012). Cách đây 44 năm, 7 giờ sáng ngày 16.3.1968, sau một đợt công kích dọn chỗ ngắn bằng pháo và sung máy bắn từ trực thăng, Đại đội Charlie đổ bộ vào làng Sơn Mỹ. Các binh sĩ của đơn vị này không tìm thấy bất cứ một quân Cách mạng nào trong làng, thay vào đó chỉ có những người dân thường, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đang cố gắng tìm chỗ ẩn nấp trước cuộc càn quét của quân đội Mỹ. Trung đội của thiếu úy William Calley bắt đầu xả súng vào các "địa điểm tình nghi có đối phương", những người dân thường đầu tiên bị giết chết hoặc bị thương bởi các loạt đạn bừa bãi này. Sau đó lính Mỹ bắt đầu hủy diệt tất cả những gì chuyển động, người, gia súc, gia cầm... Chỉ trong một buổi sáng 504 người dân vô tội phần lớn là phụ nữ và trẻ em đã bị thảm sát đẫm máu, trong đó 182 phụ nữ (17 người mang thai), 173 trẻ em, 60 người già và 89 trung niên. Vụ thảm sát đã gây chấn động dư luận thế giới về tội ác mà quân đội Mỹ đã gây ra cho nhân dân Việt Nam, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam ngay trên đất Mỹ và thế giới. 44 năm trôi qua, nỗi đau vẫn còn đó, nhưng người dân Sơn Mỹ đã dằn nén đau thương, gác lại quá khứ để cùng nhau xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp. Tiếng chuông sơn Mỹ Hàng ngày, vào khoảng 5 giờ 30 phút sáng, trước lúc bình minh mỗi ngày, nhân viên trực của khu chứng tích Sơn Mỹ sẽ gõ năm hồi và bốn tiếng chuông tượng trưng cho lời nguyện cầu 504 linh hồn thường dân vô tội bị thảm sát ngày 16/3/1968. Tiếng chuông Sơn Mỹ vang lên không những để tưởng nhớ vong hồn của 504 thường dân đã nằm xuống, mà nó còn mang một thông điệp là cầu nguyện hoà bình, cầu mong trái đất không còn tiếng súng. Hôm nay tiếng chuông Sơn Mỹ cũng được cất lên với 5 hồi và 4 tiếng: |
Trích:
Cám ơn bác Hổ đã đưa thông tin và clip. Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh những người đã khuất. Nhớ lại cuộc viếng thăm đầy xúc động lần đầu tiên năm 2008 của đội quân 3N (ảnh của NNN) @Hổ: Vì sao "Hôm nay tiếng chuông Sơn Mỹ cũng được cất lên với 5 hồi và 3 tiếng"? |
Chuông vang lên 5 hồi 4 tiếng mới đúng chứ nhỉ? Em nghe giải thích đó là tưởng nhớ 504 nạn nhân vụ thảm sát Sơn Mỹ.
|
Trích:
Trích:
|
Một số hình ảnh của buổi Lễ dâng hương tưởng niệm vụ thảm sát Sơn Mỹ được tổ chức ngày hôm nay:
Đúng 44 năm trước đây trời Sơn Mỹ cũng trong xanh như hôm nay: Sau một buổi sáng những gì còn lại chỉ là: Hàng năm vào đúng ngày này Lễ dâng hương để tưởng nhớ linh hồn những người đã khuất được tổ chức: 5 hồi 4 tiếng chuông ngân lên để tưởng nhớ linh hồn của 504 thường dân vô tội đã bị tàn sát: Những người còn sống sót thắp hương cầu nguyện cho những người đã khuất: Những người một thời bên kia chiến tuyến: http://i327.photobucket.com/albums/k.../2010/7-23.jpg http://i327.photobucket.com/albums/k...10/7aaaa-1.jpg Cứ ngày này hàng năm cựu binh Mỹ Roy Mike Boehm lại sang VN, chơi vĩ cầm trước tượng đài Sơn Mỹ để cầu nguyện cho linh hồn những người đã khuất: Thông điệp của một người Mỹ: Sơn Mỹ đã hồi sinh: Thiếu nữ Sơn Mỹ hôm nay: Chắc nhiều bác còn nhớ cô gái này. Đây chính là cô hướng dẫn viên đợt các thành viên 3N vào thăm Sơn Mỹ, và cùng chụp ảnh chung kỷ niệm như các bác đã thấy trong ảnh của bac Chaika bên trên (cô gái mặc áo dài vàng): |
Trên BBC có bài này:
BBC 16-3-12 Kể lại cuộc thảm sát Mỹ Lai năm 1968 Nhân kỷ niệm cuộc thảm sát gần 500 thường dân Mỹ Lai ngày 16/3, BBC hỏi chuyện một nhân chứng sống sót, ông Phạm Thành Công, người hiện làm việc tại khu chứng tích Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi về sự việc xảy ra năm 1968. BBC: Làng Mỹ Lai hay Sơn Mỹ, trước vụ thảm sát là nơi như thế nào, bối cảnh của làng khi quân Mỹ cử người tới truy tìm Việt Cộng như thế nào? Ông Phạm Thành Công: Làng Sơn Mỹ ngày xưa là một làng quê rất hiền hòa, một vùng thôn quê, một quê hương rất trù phú, rất là đẹp và thơ mộng. Nói chung, làng Sơn Mỹ của chúng tôi lúc bấy giờ không có Việt Cộng, tức là vùng tạm bị chiếm. Ở gần làng của tôi có một đồn của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Tức là quân đội của ông Thiệu đóng. Nhân dân chúng tôi sống ở dưới làng đó. Hàng ngày, quân đội của ông Thiệu lên xuống và cũng chan hòa với nhân dân. Nhưng bỗng nhiên vào 6 giờ sáng ngày 16/3/1968, bắt đầu là pháo cối của Mỹ, từ các cứ điểm ở tỉnh Quảng Ngãi bắn xối xả vào làng của tôi hơn nửa tiếng đồng hồ. Sau đó Mỹ đổ quân xuống và thực hiện vụ giết người. Nhưng trong làng của chúng tôi lúc bấy giờ không có một người Việt Cộng nào. Lính Mỹ đổ quân tới, gom dân lại, rồi giết tập thể. Kể cả người già, phụ nữ, trẻ em, giết chết hết cả làng. Rồi sau đó đốt làng. Giết chết hết súc vật. Rồi quân đội Mỹ rút đi. Chứ ngoài ra, không có Việt Cộng nào chống lại cả, ở trong buổi sáng đó. Và trước đó cũng không có người Việt Cộng nào ở đó. BBC: Xin hỏi rằng khi đó ông có nhìn thấy lính Mỹ không? Lúc đó tôi 11 tuổi. Gia đình tôi có 6 mẹ con. Cả gia đình tôi có sáu người. Đến 8h sáng, quân đội Mỹ đã giết bà con ở trong làng của chúng tôi. Và đến lượt gia đình tôi, bắt đầu 3 người lĩnh Mỹ đến nhà tôi và gom sáu mẹ con tôi lại. Và dồn xuống một cái hầm núp pháo. Trong chiến tranh có một cái hầm. Rồi quân đội Mỹ, ba người lính Mỹ này đã đánh lựu đạn và xả súng bắt chết gia đình tôi là năm người. Trong lúc đó, tôi bị thương. Tôi sống sót trong đống xác chết của năm thi thể gia đình tôi. Mãi đến 4 giờ chiều, bắt đầu Quân đội Mỹ rút đi rồi. Bà con các làng khác tới tìm xác người để chôn. Lúc đó lật xác chết của cả gia đình tôi lên, thấy tôi còn thở, tôi bị thương và chữa trị và họ đưa tôi đi cấp cứu. Và chính tôi là nạn nhân trong vụ đó. Tôi vẫn mường tượng, bây giờ đây tôi vẫn nghĩ tới cảnh ba người Mỹ đã tới gia đình tôi, giết chết cả gia đình tôi và giết súc vật, đốt nhà. Chính lúc này, nói thế này tôi cảm thấy rùng rợn, với bản thân mình, cảm thấy rất đau khổ. Bởi vì tôi là nạn nhân, tôi là người sống sót. Lúc bấy giờ tôi 11 tuổi, tôi biết nhiều lắm rồi. Gia đình tôi chết hết và tôi sót lại, người duy nhất của gia đình trong buổi sáng ngày 16/3 đó. BBC: Một chuyện kinh hoàng. Ông sống sót nhờ lựu đạn không xuyên qua những thây người ở trên? Dạ thưa với ông, cả gia đình tôi tan thây hết. Nhưng nhờ mẹ tôi, chị tôi, em tôi đã cản hết đạn cho tôi. Tôi bị thương. Tôi không bị mảnh lựu đạn. Nhưng tôi bị súng của người lính Mỹ này bắn xối xả vào. Lúc đó tôi bị thương. Tôi bị thương ở mang tai và rất nhiều chỗ trên người. Nhưng 3 người lĩnh Mỹ này tưởng tôi chết rồi, liền bỏ đi chỗ khác, tới nhà khác giết. Do đó, may mắn mà tôi còn sống sót. Và vết thương của tôi toàn bộ là ở phần mềm. Do đó mà tôi không chết. Lúc đó tôi sợ hãi và thiếp đi luôn. Mãi đến 4 giờ chiều, tôi mới tỉnh lại. Bà con tới đó lượm xác mẹ, anh, chị tôi đem đi chôn và lúc đó thấy tôi còn thở, thì đưa tôi đi cấp cứu. Sau khi tỉnh lại và tôi biết được người bà con của chúng tôi đã cứu tôi, tôi thấy nhà cửa cháy, làng xóm cháy ngun ngút. Và người ta khênh tôi đi. Tôi thấy là đi qua những đống xác chết, đi qua đường xá, đi qua từng ngôi nhà, để đi đến một cái làng khác. Tôi thấy toàn là xác người chết, xác trâu bò, súc vật và nhà cửa đang bị thiêu cháy. Một làng quê khói và lửa ngun ngút. Và dưới đất, mặt đất, người chết ngổn ngang. Thưa ông, đó là một thực tế mà tôi biết sao thì tôi nói vậy. BBC: Có bao nhiêu người sống sót thưa ông? Sau Giải phóng trở về, còn khoảng hơn 30 người sống sót, trong đó có tôi. Nhưng sau đó những người già yếu, bị thương tật, di chứng cũng chết dần, chết mòn. Hiện nay còn khoảng mấy người, sau vụ tổng kết người sống sót. Mà chúng tôi thống kê sống sót không phải là gia đình có năm người chết hết bốn, còn một, gọi là sống sót. Không phải thế. Chúng tôi kiểm nghiệm lại và điều tra, kiểm tra lại, nạn nhân được công nhận sống sót là những người nằm dưới đống xác chết. Chứ không phải là nhà 5-7 người, mà chết 6-7 người, còn một gọi là sống sót. Người sống sót chính là ở đống xác chết và chính là Mỹ gom lại giết, nhưng người ta còn sống lại, thì đó gọi là sống sót. BBC: Có chuyện phụ nữ bị hãm hiếp, ông có nhìn thấy không, hoặc ông có nghe được những người sống sót kể lại về cảnh phụ nữ bị đối xử ra sao? Tôi cũng chứng kiến một trường hợp là lúc quân đội Mỹ chưa giết tới nhà tôi, thì nhà kế bên, tôi cũng thấy ba người lính Mỹ bắt một phụ nữ đến một chuồng trâu của nhà gần bên tôi. Và năm đến mười người lính Mỹ hiếp người đàn bà ấy. Và người đàn bà đó nằm ngất luôn tại chỗ, mà mãi tới 4 giờ chiều, người đàn bà này cũng sống sót, nằm lại. May mắn là với người đàn bà này người ta hãm hiếp rồi, nhưng người ta không giết. Bà này hoảng chạy. Hiện nay, bà này hoảng quá, bây giờ bà bỏ quê luôn. Bây giờ bà đang sống ở TP Hồ Chí Minh. Bà không nghĩ là quân Mỹ giết người mà chỉ bắt bà hãm hiếp thôi. Tôi cũng chứng kiến nhiều vụ em bé mới 15, 16 tuổi, quân đội Mỹ đã bắt, rồi hãm hiếp, rồi lấy lê đâm chết và đâm vào cửa mình. Và nhiều trường hợp như thế. Chúng tôi thấy bắt tụm năm tụm bảy nhiều phụ nữ. Ở những nhóm ở trong làng tôi. Trước khi đến nhà tôi. Thấy kêu cứu. Và lột quần áo. Rồi hãm hiếp rất trắng trợn. Việc này chúng tôi có sao nói vậy. Chúng tôi thấy rất là dã man. Trong cái tuổi đó, tôi cũng chưa ý thức được việc hãm hiếp này. Nhưng tôi thấy là sau nhà tôi thì có một trường hợp ấy. BBC:Ông cảm thấy thế vào về cách mà quân đội Mỹ xử lý những người chịu trách nhiệm về vụ sát hại đó và về những gì xảy ra ở Mỹ Lai? Thưa ông, khi tôi nhận thức được và khi đất nước tôi được dân tộc tôi giải phóng, nhân dân tôi thoát khỏi cảnh chiến tranh ác liệt, đất nước tôi được thanh bình, bây giờ tôi nghĩ lại, về Quân đội Mỹ lúc bấy giờ sang Việt Nam, sang quê hương chúng tôi, làm những điều như thế, thì chúng tôi thấy là phi lý. Cái thứ hai nữa là quân đội Mỹ đi qua, đi tìm Việt Cộng đối phương để rồi đánh trả nhau, nhưng chúng tôi không ngờ là bắt những người già, phụ nữ, trẻ em, chẳng hạn như ở làng của chúng tôi, và giết một cách thảm thiết như thế. Chúng tôi thấy rằng đây là một cái day dứt, đau khổ nhất. Chẳng hạn bản thân tôi, khi 11 tuổi không còn cha mẹ, anh em, cô chú bác gì nữa. Là người mồ côi, cơ nhỡ, rồi trôi dạt, đi chỗ này, chỗ khác. Đi ở thầy tớ để kiếm sống. Mãi đến ngày đất nước hòa bình, chúng tôi mới được về quê hương. Và chúng tôi được nhân dân đùm bọc, nuôi nấng và cho ăn học cho đến khi trưởng thành. Khi chúng tôi thấm thoắt nhìn lại thì đây là một bối cảnh rất đau đớn. Cái giết người của quân đội Mỹ rất man rợ và khiến cho những đứa trẻ như chúng tôi phải côi cút lúc bấy giờ, trong thời buổi chiến tranh của một đất nước bị mất đi, rồi bị nồi da nấu thịt. Quê hương thì không còn nữa. Giặc Mỹ thì đánh bom, đánh mìn, rồi cà ủi, đánh phá dân. Do đó, chúng tôi sống trong cảnh chim chậu cá lồng rất là đau khổ. Bây giờ chúng tôi cảm thấy được ngẩng đầu lên. Rất hạnh phúc. Rất cảm ơn Đảng và Chính phủ Việt Nam của chúng tôi đã lo giúp cho chúng tôi nên người. Quê hương càng phát triển đi lên, xây dựng được cuộc sống mới. Nhưng người ta còn gia đình, còn anh em, còn tộc họ, còn đối với những người như chúng tôi đây, rất là day dứt. Nhất là đến những ngày này, ngày 16/3 hàng năm, đau khổ đến với chúng tôi. Một cái day dứt chúng tôi không thể quên được. Không thể quên được tội lỗi của Quân đội Mỹ mà đã gây ra cho nhân dân chúng tôi. Và trong đó có bản thân và gia đình của chúng tôi nữa. Tôi mong rằng những người cùng khổ như chúng tôi, côi cút như chúng tôi, trong những năm tháng chiến tranh như thế, bị quân đội Mỹ giết hại như thế, đến bây giờ chúng tôi rất cầu mong làm thế nào các bạn tuyên truyền, rồi các bạn giúp sao để giúp đất nước, quê hương của chúng tôi luôn được hồi sinh và phát triển. Bản thân chúng tôi và con cháu chúng tôi mai sau được hưởng một đất nước thanh bình. Chúng tôi rất sợ chiến tranh. Chúng tôi không ưa thích chiến tranh. Chúng tôi mong muốn Tổ Quốc chúng tôi luôn được hòa bình, thịnh vượng, có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đừng có một vụ Sơn Mỹ tương tự như ở đất nước chúng tôi trong những năm kháng chiến chống Mỹ vừa qua. BBC: Tôi cũng hy vọng như vậy. Xin cảm ơn. Đây là những điều tôi tâm tư thực sự và cầu mong, cầu nguyện như thế. Và bà con, nhân dân chúng tôi ở quê hương cũng mong mỏi như thế. Chúng tôi muốn một đất nước hòa bình vĩnh cửu. Chúng tôi muốn con em, con cháu của chúng tôi sau này đừng khổ như chúng tôi nữa. Và đừng có khổ sở vì chiến tranh... Cuộc phỏng vấn ông Phạm Thành Công, Giám đốc Ban Quản lý Khu Chứng tích Sơn Mỹ, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi do Neal Razzel thực hiện trực tiếp qua điện thoại với BBC Tiếng Việt dịch giúp các câu hỏi. Bài đặc biệt về ngày kỷ niệm vụ Mỹ Lai được phát trên chương trình Witness của BBC World Service bằng tiếng Anh ngày 16/3/2012. |
Video ghi âm cuộc phỏng vấn này:
|
Triễn lãm "Nét vẽ tri ân" của nữ họa sĩ Đặng Ái Việt
http://farm9.staticflickr.com/8023/7...a80f432e_b.jpg Như ghi rõ trong Pano của Triễn lãm, tôi không viết gì thêm. (Bấm vào ảnh để xem rõ) http://farm9.staticflickr.com/8014/7...e37d220f_b.jpg Lễ Khai trương Triển lãm (tôi không chụp các quan chức vì đây không phải là phóng sự ảnh, tôi chỉ muốn giới thiệu đôi nét về nữ họa sĩ) http://farm8.staticflickr.com/7115/7...bd27e0e2_b.jpg Nữ họa sĩ phát biểu, nêu rõ tấm lòng tri ân đối với tất cả các bà mẹ Việt Nam anh hùng. http://farm8.staticflickr.com/7121/7...e50e205a_b.jpg Họa sĩ trao tượng trưng số tranh của mình cho Viện bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Người nhận là Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam. http://farm9.staticflickr.com/8166/7...e6aa0d8e_b.jpg Thân nhân của Họa sĩ chụp ảnh kỷ niệm bên chiếc xe Chaly cũ kỹ mà bà đã dùng để đội nắng đội mưa đi khắp các tỉnh thành cả nước để vẽ chân dung các bà mẹ Việt Nam anh hùng. Chiếc xe nay cũng thành một hiện vật bảo tàng. http://farm9.staticflickr.com/8022/7...4053b0a8_c.jpg Chân dung nữ họa sỹ. Tôi đã chụp với tất cả tấm lòng kính trọng và quý mến bà. |
Khuya qua, em ngồi nhậu vỉa hè Phan Rang với ông anh, cả hai lan man nói về đèo Ngoạn Mục đang sửa chữa, rồi về giải thể thao đua xe đạp của HTV. Cả hai cùng nhớ về Anh Phạm Khắc, Giám đốc Đài, một NSND, nhà quay phim chiên tranh nổi tiếng một thưở. Anh rất tâm huyết với giải này, khi đích thân chỉ huy suốt cả hành trình. Năm 94 thì phải, em có dịp bám theo Anh Phạm Khắc và đoàn đua đến Vinh, chỉ thế thôi nhưng vẫn đọng lại những ấn tượng mạnh mẽ về một con người xốc vác công việc và rất dễ gần. Anh Phạm Khắc mất cũng đã vài năm...
Chị Đặng Ái Việt chính là phu nhân của Anh Phạm Khắc. Bữa qua, em rất xúc đông khi xem TV tin về triển lãm của chị nhân dịp 27/7 tại Bảo tàng phụ nữ. Những ký họa màu nước rất đẹp, sống động về những Bà mẹ VN Anh hùng. Bữa nào về lại HN, chắc chắn em sẽ đến xem ngay. |
Nhân kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh, Liệt sỹ 27/7 xin được gửi lời chúc sức khỏe và bình an đến các gia đình liệt sỹ, các bác thương binh và cựu chiến bình của Diễn đàn NNN. :emoticon-0150-hands http://i327.photobucket.com/albums/k.../DSC_3194a.jpg http://i327.photobucket.com/albums/k.../DSC_3310a.jpg http://i327.photobucket.com/albums/k.../DSC_3474a.jpg http://i327.photobucket.com/albums/k.../DSC_3496a.jpg |
Năm 2011, tập thể NNN đã có chuyến hành hương dâng hoa tại thành cổ Quảng trị thật ý nghĩa.
Thời gian có hạn, việc tìm hiểu về những người đã ngã xuống vì vậy mà chưa được đầy đủ. http://i212.photobucket.com/albums/c.../Quang_tri.jpg Hành trang người lính (Ảnh Phạm ngọc Lâm) Nhân ngày 27/7 và 40 năm “trận chiến Thành cổ” xin giới thiệu cuốn sách “ MỘT THỜI HOA LỬA” gồm những câu chuyện, tư liệu …giới thiệu nhiều hơn về chân dung và cuộc sống của “cả một thế hệ gan vàng dạ ngọc đã làm nên huyền thoại”. “Huân chương khó đủ từng viên gạch Tấc đất, từng giây, mỗi lá cành” Trần bạch Đằng http://i212.photobucket.com/albums/c...3/Mot_thoi.jpg Một thời hoa lửa Tái bản 2012 có bổ sung tư liệu mới |
Thế mà đã 40 năm trôi qua thật rồi ư? Mà sao những ngày tháng của năm 1972 đầy kỷ niệm dữ dội ấy vẫn cứ còn nguyên vẹn trong ký ức của ta, như thể mới hôm qua thôi vậy?
Thử kiểm những thành viên 3N ngày ấy còn đang ở VN, có lẽ có chị Hương hồng vàng, lão vidinhdhkt (mà tháng 8 năm ấy thì y cũng rời VN lên đường sang LX học – thằng chả dạo này mất tiêu đi đâu rồi ấy nhỉ, giận lẫy gì ta chăng?), bác NISH, bác baodung, bác Phan khi ấy mới về nước..., không nhiều lắm. Các mợ như mợ Ria với Rừng..., Mu với Hổ gừ, Gà mờ... thì lúc đó có lẽ còn khá nhỏ, chắc đâu chừng 10 tuổi hay ít hơn nữa nên không hiểu còn có cảm giác và nhớ được nhiều chăng, Nina thì chắc vừa mới sinh nhỉ. Đầu năm 1972 khá tĩnh lặng dù các lớp học cứ vắng dần, nhiều bạn bè - những bạn tôi đi học muộn, sinh chừng 1953, đầu 1954 - từ năm trước đã lần lượt chia tay với thày với bạn, khoác ba lô lên trung đoàn 5 trên Yên Tử để luyện quân rồi đi B. Lớp vẻn vẹn có 18 người, 17 thằng con trai nghịch như quỷ sứ và một nàng công chúa (Ly) nên mỗi người ra đi lớp lại vắng thêm thấy rõ. Cuối 1970 đã có bạn lên đường, Văn Khanh đi đầu tiên. Đến trước Tết 1971 thì Đào Xuân Khanh lại đi tiếp, gửi lại bạn bè rất nhiều nỗi nhớ - cậu ấy trước ngày lên đường, buổi chia tay chỉ giúi vào tay tôi một tấm bưu thiếp (mà bây giờ tôi vẫn còn giữ cùng với tấm ảnh cậu ấy bây giờ nhìn mặt non choẹt, vai đeo AK quay ngang nòng súng, tay chống nạnh trông rất "trận mạc", chụp ngày còn luyện quân trên Yên Tử), ghi vẻn vẹn "Tặng Bình thân mến, Khanh chia tay các bạn lên đường đi đánh giặc. Tan tiếng cười ‘tít tít’, ‘mục mục’ Bình ơi!", chả là cậu ấy nói lắp, lên bảng có nói "mục đích" thì thể nào cũng phải nói "mục...mục... đích"... nên trong lớp hay chế nhau như thế. Tết 1971 được về tranh thủ, đại đội vẫn còn bắt đeo 20 kg củi theo ba lô đi bộ từ Yên Tử về thành phố, bảo rằng vừa để rèn luyện và "các đ/c mang củi về cho gia đình nấu bánh chưng nhé, 1 công đôi việc", cậu ấy bảo: "Rất nhiều đứa ra khỏi doanh trại là tháo củi ném ngay đi cho khỏi nặng, hơn 60 km lội bộ về thành phố chứ có ít gì. Tớ thì nhất quyết không, nặng lắm, ứa cả nước mắt, song chỉ về đến bên kia Phà Bính tớ mới ném đi trước khi xuống phà - nhà tớ thì chỉ có bánh chưng tổ hợp tác phân theo phiếu, cần gì đến củi chứ?". Cái ngày còn học nơi sơ tán, 2 ông Khanh này có dạo chả hiểu xích mích gì, đánh nhau chí mạng, cả lớp phải xúm vào can ra, mãi cho đến tận khi Văn Khanh đi bộ đội chúng cũng không thèm nói với nhau một lời nào. Ấy thế mà tình cờ thế quái nào, hai tên đi hai đợt, ở hai đơn vị hoàn toàn khác nhau, mà vào đến mặt trận hai đứa lại gặp nhau. Xuân Khanh đang đi gùi gạo về cho đơn vị thì gặp Văn Khanh đang dong tù binh trên đường đi ra. Hai thằng, đứa quẳng súng, đứa lẳng ba lô gạo, ôm chầm lấy nhau khóc như mưa làm đám tù binh người miền Nam trố hết cả mắt thấy hai gã VC người Bắc chẳng nói chẳng rằng ôm nhau khóc ngằn ngặt. Là dân chuyên toán, Xuân Khanh đi vào chiến trường còn cố đèo theo cuốn Bài tập toán sơ cấp của Nga dày cộp và "đã giải bét nhè" tất cả các bài trong đó không chịu bài nào, "có bài tớ giải đến 3-4 cách đấy", thế nên sau khi phục viên năm 1978, cậu ấy thi ĐH đỗ ngay và đỗ rất cao, được sang Nga học hàng hải, sau về làm GV ĐHHH. Hè 1971 thì đến Trần Hữu Doanh được gọi đi khám tuyển nghĩa vụ, ông tướng đã lận đến mấy kí lô đá vào người mà rồi khi về đến đơn vị cân lại chỉ có 39 kg, thành thử lại bị đuổi về. Sang đầu năm 1972 thì cả lớp lăn vào luyện thi học sinh giỏi Toán miền Bắc, gần như cả ngày ở trường, đêm về lại cặm cụi giải toán, có vẻ như không còn ai để ý cái gì khác, có chăng chỉ mấy gã bắt đầu đang yêu. Chỉ có đầu tháng Tư, một hôm đang ăn cơm, cha tôi bảo ta vừa bắt đầu đánh rất lớn trong Nam, ngày đầu tiên ta bắn đến gần 10 ngàn phát đại bác mà địch chỉ bắn trả được khoảng 1000 trái thôi, chưa bao giờ có được như thế đâu. Lúc ấy anh trai tôi đã bắt đầu chuẩn bị hành quân vào chiến trường, song tôi cũng không để ý mấy mà chỉ tự dưng nhớ lại hè năm trước ra Đồ Sơn nghỉ. Đận ấy, có lần đi dạo với cha tôi gần bờ biển mé bên kia bán đảo, mọc rất nhiều dứa dại - tôi thì chúa sợ rắn mà nghe nói đất Đồ Sơn rắn nhiều vô kể (mắt cũng thấy rất nhiều rồi và lần nào cũng sợ cứng người) - thấy trong một bụi dứa trước mặt sột soạt có con gì bò, tôi đứng phắt ngay lại, cứ đá mà ném vô hồi kỳ trận vào đó, chữa ngượng rằng đấy là pháo bắn chuẩn bị, có đến 10 phút liền, cha tôi chỉ cười và bảo "nếu có rắn trong đó thì hoặc là nó bị ném đến chết rồi hoặc là nó chuồn lâu rồi còn gì". Thật là còn vô tâm lắm. Chỉ đến khi B52 ném bom vào HP, sau đấy có 2 tuần, thì cả lũ chúng tôi mới sực tỉnh. Mỹ đánh rát lắm, chết rất nhiều người, chủ yếu là dân thường. Những ngày đầu máy bay ném bom trở lại, dân thành phố hoảng loạn ghê lắm, ùn ùn kéo nhau ra khỏi thành phố đến nỗi tắc cả con đường xuống huyện Hải An qua lối Hồ Sen - hàng mấy nghìn con người gồng gánh, tay nải hòm xiểng, con trẻ cõng trên lưng, đèo sau xe đạp lặc lè những gạo, áo quần, xoong nồi... dồn ứ một cục lại hàng tiếng đồng hồ ngay cửa ngõ thành phố. Tôi cũng chở mẹ tôi trên cái xe đạp gấu Đông Đức có mặt trong cái đám đó mà lòng như lửa đốt (B52 ném bom, cha tôi thì mải đi chỉ huy bộ đội dân quân đánh trả, sáng 16/4 thì gã chủ tịch UBND Hải Phòng bây giờ đạp xe từ dưới huyện Hải An lên – xã nhà y giáp TP – bảo: “Nhà mày chạy đâu chưa? Bố mẹ tao bảo lên hỏi xem đã có chỗ nào chạy chưa, nếu chưa thì xuống nhà tao trú tạm đã”, tôi và mẹ tôi đã chạy xuống đó, đào hầm lật cả nhà y lên để tránh bom mấy ngày cuối tháng Tư trước khi sang Tiên Lãng để học thi tốt nghiệp phổ thông nốt, sau lại về sơ tán cùng 1 thôn ở An Lão). Sau rồi cũng ổn định dần và tổ chức đánh trả khá hiệu quả. Mấy dòng trong bút ký Thành phố chống phong tỏa - Nhật ký của Hoàng Tuấn Nhã (nxb. Thanh Niên, 1977) http://i745.photobucket.com/albums/x...60712_1120.jpg Những ngày này năm ấy ở HP thì thế này (sách đã dẫn) http://i745.photobucket.com/albums/x...60712_1121.jpg Hè năm ấy sẽ không bao giờ đi vào quên lãng với chiến dịch Trị-Thiên hết sức khốc liệt. Sau này học cùng đại đội với nhiều cựu SV là lính từ Quảng Trị về, trong những buổi sinh hoạt đại đội ôn lại kỷ niệm chiến trường, rất nhiều người lính trong đại đội đã chan hòa nước mắt, nghẹn ngào nói về những gian khổ, hy sinh, mất mát trong chiến dịch ấy. Nhiều người, rất nhiều người trong số họ còn mang thương tích trên mình. Không biết có bác nào nhớ rằng những ngày ấy suốt ngày trên đài phát thanh rất hay phát bài hát “Cùng hành quân đi giữa mùa xuân” của Cẩm La do Vân Khánh hát hay không chứ đến tận bây giờ, mỗi lần nghe thấy trên TV hát bài này tôi lại nhớ đến cái hè năm 1972 máu lửa ấy. Sau khi thi ĐH xong cho đến hết năm 1972 thì lớp tôi đã đi bộ đội gần hết, cả tôi nữa dù đã lên đến Đại Từ chuẩn bị để đi nước ngoài, chỉ còn lại vài đứa đi học nước ngoài hay đi ĐH hoặc sức khỏe không đủ (mắt cận là chính) là không nhập ngũ thôi. Ai cũng đi, các lớp khác thì cả con gái cũng đi, súng nhỏ súng to/chiến trường chật chội/tiếng cười hăm hở/đầy sông đầy cầu với lại bộ đội dân công/trùng trùng điệp điệp/chào nhau không kịp/nhớ mặt nhớ tên/câu hò nón vẫy/đội ngũ ta đi/dài như tiếng hát là như thế. Lớp tôi cũng có một cậu nhập ngũ đúng ngày B52 đánh HP (16/4/1972) sau bị thương tại Quảng Trị hè năm ấy. Mai đã lại đến 27/7. Nhiều bạn bè tôi 40 năm trước đã ra đi không về, còn có người gia đình vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Xin thắp một nén nhang tưởng nhớ các bạn, các anh em. Chúng tôi - những người lính năm ấy, nhân dân và Tổ quốc không bao giờ quên các anh. |
Trích:
http://i212.photobucket.com/albums/c...53/Motthoi.jpg Một trang trong “MỘT THỜI HOA LỬA”, NXB Trẻ - 2012 Kính cẩn nghiêng mình trước các anh, chị và các bạn cùng trang lứa! |
Trích:
Đúng 1 năm sau đó thì tôi nhập ngũ, từ Đại Từ về đến đơn vị ngày 6-9-1972. |
Những ngày này tôi cảm thấy mình đang sống bằng quá khứ. Thấm thoắt đã 40 năm trôi qua. Tôi không dự Thành cổ, mà mon men bên ngoài. Mùa hè 1972, ở Quảng Trị cũng như hè bây giờ vẫn nóng ran. Duy 1972 có khác, ngoài cái nóng rẫy của thời tiết thì còn nóng bỏng hơn vì bom đạn. Dốc Miếu vừa xong, Đông Hà cũng gọn. Mọi người chỉ nhằm hướng Thạch Hãn... và ra đi vĩnh viễn. Cảm giác của 40 năm lại ào về, nhớ như in từng khuôn mặt những đứa cùng lớp không về, nhớ những bà mẹ Vĩnh Linh tiễn các con đêm đêm vượt sông Bến Hải để qua bên kia sông làm nhiệm vụ "cơm Bắc, giặc Nam", xuống đò du kích hỏi: "Khi cần báo tin cho ai", câu hỏi đó lần đầu khi tôi được nghe cảm thấy rợn tóc gáy, sau nghe mãi cũng thành quen. Nhớ một lần, tháng 6/1969 tôi bị thương, sáng sớm hôm sau ra bờ Bắc, nghe tin thằng bạn tên Thuật cùng lớp ở Trường Mỹ thuật đang ém quân đợi chiều tối vượt sông. Ngày hôm sau nữa đã nghe tin nó hy sinh. Những lúc gặp nhau, nó tự hào về Ninh Bình lắm, cứ nói là "quê tớ có sông Vân núi Thúy đẹp lắm". Thế mà...
Rồi không chỉ có vậy, đơn vị lại cử người vượt sông làm nhiệm vụ thương binh tử sĩ lại... hy sinh tiếp. Có sống và được chứng kiến những bi tráng thế mới thấu hiểu được sự sâu thẳm tận đáy lòng của những người đã mất người thân yêu nhất. Tất cả lại ào về, đôi dòng tản mạn thay nén nhang kính cẩn trước hương hồn những người đã ngã xuống cho mảnh đất này. |
|
|
Hiện nay vấn đề lớn đặt ra trong các việc "uống nước nhớ nguồn" vẫn là các chính sách "đền ơn đáp nghĩa" đối với thân nhân và bản thân những công dân đã cống hiến xương máu và khoảng "thời gian tươi đẹp" nhất đời người cho Tổ quốc.
Những công dân này lại rất ít kêu ca, phàn nàn hoặc "công thần" này nọ. Vì thế sự chịu đựng "trong âm thầm" của họ chỉ dần được phát hiện và lên tiếng trước công luận bởi số ít người còn lòng trắc ẩn ... Thời gian qua các chế độ chính sách dù có tiến bộ và ngày càng tăng lên nhưng vẫn còn quá ít ỏi, phần nào mang tính hình thức, đôi chỗ còn bị lợi dụng... Mong sao kinh tế đất nước ngày càng phát triển, những người có trách nhiệm quan tâm hơn nữa đến các đối tượng "còn sống" này. Mấy chục năm qua mà việc "kiểm đếm" xác nhận vẫn chưa xong, còn đời người thì có dài lắm đâu để chờ để đợi! Mỗi năm cứ đến ngày này, lại tổ chức đoàn này đoàn nọ thăm hỏi quà cáp xem chừng có điều gì không ổn. Bởi vì người ta phải sống thêm ba trăm sáu bốn ngày nữa để lại có được ngày này! Sự hy sinh cũng không chỉ từ 1 phía của cuộc chiến huynh đệ này! |
Có một chuyện mà mãi mãi vẫn không tan nổi trong lòng tôi, vẫn đau đáu một điều gì đó đã không phải với người đã ra đi. Câu chuyện tôi kể lại sẽ hy vọng một điều gì đó tốt lành hơn cho người đã khuất và cả cho người đang còn hiện hữu...
Khoảng gần 38 năm trôi qua, sau bữa cơm trưa, đơn vị điều ba người chúng tôi đi làm công tác tử sĩ - chiều đó là ngày 10 tháng 8 năm 1974. Anh Vững người Hải Hưng, anh Tự và tôi người Hà Nội lập thành một tổ được cấp trên điều động bổ sung vận chuyển bộ đội đã hy sinh sau cái ngày giải phóng quận Thường Đức - Quảng Nam ( Nay là huyện Đại Lộc). Chúng tôi đến khu vực quy tập 1 - khu vực này đã được các anh bên đơn vị vận tải của trung đoàn 66 chuyển tử sĩ tử các điểm chốt về đây... Chúng tôi thấy rất nhiều túi nilon màu cỏ úa xẫm đặt san sát nhau. Anh Vững là lính cũ đã có nhiều kinh nghiệm về việc này nên bảo hai thằng tôi đứng chờ để anh ta vào trong lán gặp người quản lý để làm thủ tục chuyển tiếp tử sĩ đến địa điểm chôn cất. Sau một hồi, anh Vững chỉ cho chúng tôi cái túi tử sĩ to lớn và hướng dẫn chúng tôi dùng dây võng buộc chặt hai đầu và tiếp đó buộc hai đầu đó vào cây đòn khiêng. Thế là tôi và anh Tự khiêng anh bạn xấu số nào đó lên đường đến nơi an nghỉ cuối cùng (chưa chắc nơi ấy là nơi an nghỉ cuối cùng). Ngày ấy tôi chỉ có 53 kg, không khỏe lắm, anh Vững bảo tôi: Mày hạ xuống để tao cáng cho, mới có đi một đoạn mà cứ nôn ọe khiếp cả người... Thú thật với các bác, khiêng tử sĩ mà đi sau thì than ôi mùi thối kinh khủng, đòi cáng đằng trước để đỡ mùi, khi xuống dốc cái đầu hoặc chân của tử sĩ cứ dúi vào lưng tôi...sợ lắm! Đó là lần đầu tiên trong đời lính của tôi được làm cái việc mà không ai dạy bảo! Chúng tôi đã xuống triền sông Hinh được đặt tử sĩ xuống và nghỉ ngơi, xung quanh tôi cũng có nhiều tốp người như chúng tôi đều tạm nghỉ dọc đường... Khi đặt túi tử sĩ xuống, vô tình mép túi bị bục ra, anh Vững đến bên tử sĩ: Ông này hy sinh rồi mà vẫn còn lương khô, bi đông nước và vài băng đạn AK. Theo thông thường xem xong anh Vững nên đóng lại có lẽ hay hơn, nhưng không-anh Vững cầm mấy băng đạn vứt đi cũng với lương khô và bi đông nước...Cũng có lẽ anh tử sĩ đã hy sinh mà chưa kịp ăn luơng khô và uống nước, cũng có lẽ những băng đạn kia chứng tỏ anh chưa kịp bắn viên nào mà đã phải ra đi... anh là lính mới như chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục lên đường, có lẽ tôi quen dần chăng? tôi đã thấy đỡ mệt và trên đường đi đến bên Hiên - Khu tập kết tử sĩ là một bái cát bồi được dào thành hàng tương đối gọn mắt. Anh Vũng bảo tôi: Mày kiếm cái gì đó để khắc bia nhé, chữ mày đẹp mà, còn tao với thằng Tự đào huyệt. Tôi quay lại lán trực của đơn vị vận tải hỏi xin một mảnh thùng lương khô để làm bia tử sĩ. Các anh ấy bảo ra sau lán mà lấy. Vì là được khắc bia nên tên anh ấy mãi mãi trong tôi: Đ/C: NGÔ NGỌC VINH SINH 1954 THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN Thông tin chỉ có vậy mà không biết cho đến nay anh Vinh đã về được quê nhà chưa ??? Tôi dùng mũi dao găm tỉ mẩn viết (đột lỗ) lại những dòng chữ trên trên mảnh thùng lương khô cũng có một màu xanh cỏ ủa xẫm! khảong 30' gì đó, đồng thời cũng là lúc anh Vững bảo hai thằng tôi khiêng anh Vinh đặt vào Huyệt. Nói là huyệt cho đúng ngôn từ chứ thực tế anh Vững và anh Tự chỉ đào một cái hố nông choèn, có lẽ chiều sâu chưa được hai lưỡi xẻng quân dụng, vị chi vào khoảng 40cm. Có điều tệ hơn là chiều dài của cái huyệt ngắn hơn chiều dài của anh Vinh: Thằng này dài thế nhỉ? vừa nói, anh Vững nhảy xuống chân anh Vinh - Tiếng rắc của các khớp xương nghe khô lạnh! thật đau lòng! Kỷ niệm này mãi mãi trong tôi. Nhân dịp này, tôi xin kính cẩn thắp nén nhang cho anh Vinh cùng tất cả các anh chị đã ra đi... Còn chuyện anh Vững, anh ấy cũng ra đi sau đó chừng gần tháng tại diểm cao 383 trong một câu chuyện thảm thương đến tột độ. Viết lại điều này, có gì không phải với hương hồn các bác - mong đại xá! |
Tôi viết thêm những dòng này, dường như tôi cảm thấy vơi đi ký ức những ngày gian khổ, ác liệt mà tôi đã chứng kiến. Nhưng trên hết là tri ân những người đã ngã xuống.
Ngày 2/5/1968 là ngày tôi nhập ngũ. Tất cả những người lên đường đợt ấy là quân của Bộ Văn hóa. Sáng hôm ấy tất cả tập trung tại 51-53 Ngô Quyền Hà Nội, rồi lên xe, các xe ca lượn quanh Hồ Hoàn Kiếm 2 vòng để các chiến sỹ mới tạm biệt Hà Nội. Rồi những ngày huấn luyện trên Hòa Bình và sau đó hơn 2 tháng ròng rã đi bộ dọc Trường Sơn. Mỗi người mỗi ngả, tôi được điều về đơn vị cối của một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 270 đặc khu Vĩnh Linh. Ngày ấy, Vĩnh Linh là đặc khu chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ Trung ương, mà Trung đoàn 270 là chủ lực bảo vệ Vĩnh Linh và “chia lửa” trực tiếp với bờ Nam sông Bến Hải. Trung đoàn do đại tá Hoàng Đượm làm tư lệnh trưởng, thiếu tá Vũ Kỳ Lân (chồng của nghệ sĩ Mai Châu – đóng phim) làm chính ủy. Một thời gian ở bộ binh, tôi được điều về làm trinh sát pháo binh Ban pháo Trung đoàn, rồi lại về làm pháo thủ pháo mặt đất 85 ly. Quanh đi quẩn lại chỉ Vĩnh Linh và huyện Gio Linh (bờ Nam). Ngày ấy (1968-1972) Vĩnh Linh chủ yếu đi dưới chiến hào và sống trong hầm chữ A. Chưa ở đâu như trên đất Vĩnh Linh, hàng ngày giữa thanh thiên bạch nhật, mọi người được “ngắm” máy bay Mỹ B52 rõ mồn một và căm tức chúng, cũng như cứ chiều chưa tối hẳn nhìn lên miền tây (nơi con đường huyết mạch vào Nam), như một ông nhà đèn cần mẫn đến giờ bật điện, 365 đêm không sót đêm nào, pháo sáng Mỹ lại giăng sáng cả một vùng trời. Đúng là Mỹ cực giàu! Có một điều đau xót mà tôi không thể nào nguôi được khi chứng kiến một trận hủy diệt theo đúng nghĩa của nó. Chỗ tôi đứng là một gò đồi cao, cách trận địa đại đội pháo cao xạ của Trung đoàn không xa. Đó là lúc trời đã quá trưa, máy bay Mỹ đến oanh tạc, pháo ta nổ giòn giã, nhưng chỉ được khoảng 10 phút. Ngay sau đó, pháo từ Hạm đội 7 ngoài biển bắn vào, pháo từ Dốc Miếu (bờ Nam Bến Hải) bắn sang, bom từ trên máy bay giội xuống. Trong nháy mắt tất cả là bình địa. Khi tôi còn trên Ban pháo trung đoàn, vào một đêm tôi được lệnh cùng một chiến sỹ nữa xuống Cửa Tùng để cáng thương binh. Người mà chúng tôi cáng là một chiến sỹ đặc công nước vừa đánh trận ở cảng Cửa Việt. Anh bị cụt một chân, trong đêm tối không nhìn rõ mặt anh, chỉ cảm nhận anh có thân hình chắc nịch. Ngày ấy, tôi gầy yếu và “thanh mảnh” lắm, cân nặng 38kg, chứ không như Hongducanh chỉ mỗi 53 ký đâu. Hai thằng khiêng cáng đi dưới giao thông hào, vừa đi vừa hỏi người bị thương. Anh nói quê anh ở Thanh Hóa, có vợ và một con. Anh kể rõ trong ba lô có gì, linh tính mách bảo tôi nghĩ sẽ có chuyện chẳng lành. Hơn 10km từ Cửa Tùng đến bệnh viện dã chiến của Trung đoàn, chúng tôi chuyển anh cho bệnh viện và về đơn vị. Trời sáng rõ, chúng tôi nhận tin dữ từ bệnh viện người lính ấy đã ra đi mãi mãi. Ngày ấy ở Vĩnh Linh không có bóng một trẻ thơ (toàn bộ các cháu được sơ tán, chủ yếu ra huyện miền núi Tân Kỳ, Nghệ An), chỉ còn nam thanh nữ tú gia nhập du kích, nhiều ông bố, bà mẹ quyết xin ở lại chiến đấu không chịu đi sơ tán. Nhiều lính đánh trận trong Nam còn sống ra đến bờ sông Bến Hải vẫn còn hãi. Đây là lúc cái chết đến thường xuyên và bất chợt hơn lúc nào hết. Các bến vượt sông đều đã vào vòng ngắm của những người bên kia chiến tuyến. Chỉ một quả pháo từ Cồn Tiên hay Dốc Miếu bắn tới thì thôi rồi Lượm ơi. Năm 1972, năm mà Mỹ ném bom bắn phá trở lại, tất cả những gì trước đây Mỹ chưa phá nổi, nay nhờ công nghệ lase Mỹ đã thực hiện phá được. Trước đây, duyên hải khu 4, nghe tiếng đạn pháo từ Hạm đội 7 bắn vào đã ghê. Nay, để tránh tầm bắn hiệu quả của pháo binh ta, Mỹ cải tiến công nghệ, gọi là pháo tăng tốc (dạng tên lửa đẩy – ý của MX), khi bắn, giờ đây ta còn nghe được tiếng nổ thứ hai, đó là lúc đạn pháo được đẩy xa hơn. Năm 1972, Trung đoàn tôi bố trí một trận địa pháo ở sát địa đạo Vĩnh Mốc. Lúc đó nhìn qua kính viễn vọng của đài chỉ huy, tầu của Hạm đội đội 7 cứ như trêu ngươi, vì nhờ đạn tăng tốc, nên mình cũng khó mà vươn tới được bắn cho chính xác. … Bây giờ ngồi nghĩ lại cứ miên man nhớ và viết lại đôi dòng… |
Chiến tranh không chỉ có người lính mới hy sinh mà cả các cán bộ chỉ huy cao cấp cũng ngã xuống ngoài mặt trận.
Hôm nay có đám cưới con chị Đặng Mai Phương, cùng tiểu đội cũ của tôi từ ngày mới đi bộ đội, anh em đại đội cũ ai còn ở Hà Nội biết tin đều đến chia vui cùng gia đình đồng đội cũ, gặp nhau tay bắt mặt mừng, có người đã cả 35 năm mới gặp lại. Chị Mai Phương là con gái liệt sĩ, đại tá Đặng Tính, nguyên chính ủy quân chủng Phòng Không - Không Quân, chính ủy đoàn 559 (binh đoàn Trường Sơn - binh đoàn duy trì và bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại). Trong kháng chiến chống Pháp, ông là chỉ huy cũ của cha tôi - năm 1947 ông là Tỉnh đội trưởng Hải Dương, khi đó cha tôi là huyện đội trưởng đầu tiên của huyện Ninh Giang, sau khi ông lên làm chính ủy mặt trận đường số 5 (1950-1951) thì cha tôi lên làm tinh đội trưởng Hải Dương (thay cho bác Vũ Hắc Bồng vào miền Nam kháng chiến, bác Bồng là tỉnh đội trưởng Hải Dương kế nhiệm của bác Đặng Tính, sau này là Đại sứ VN tại nhiều nước và là giám đốc sở ngoại vụ Tp HCM). Đại tá Đặng Tính hy sinh ngày 4.4.1973 do trúng mìn trên đường Trường Sơn, cùng với một số sĩ quan cao cấp khác. Mộ tưởng niệm ông hiện vẫn có trên nghĩa trang Trường Sơn, bên cạnh mộ của bao nhiêu người lính dưới quyền ông của đoàn 559 mà lần nào vào đó (gần đây nhất là đi cùng đoàn 3N tháng 4-2011, Hổ gừ cũng có ảnh chụp đã gửi lên 3N thì phải - cám ơn Hổ gừ nhiều nhé) tôi cũng đến viếng, kính cẩn chào một vị chỉ huy quân đội xông xáo, rất được bộ đội quý mến, cha của bạn đồng ngũ và là chỉ huy cũ của cha mình. Ảnh cũ 4.2011 (Hổ gừ chụp), bên mộ liệt sĩ, Đại tá Đặng Tính, ngày ông mất tôi mới chỉ là binh nhì http://i327.photobucket.com/albums/k.../DSC_3279a.jpg Ngày ông mất, chúng tôi đang ở Hà Nội, trên đống đổ nát do bom B52 của xí nghiệp may quốc phòng X20 gần ga Giáp Bát và sân bay Bạch Mai, làm công tác xây dựng doanh trại chuẩn bị chỗ ở cho bộ đội đang tập từ sân bay Hòa Lạc về tổng duyệt trước duyệt binh ngày 1.5.1973. Chị Mai Phương cũng đang tham gia công việc cùng cả trung đội thì nhận được tin cha hy sinh. Có lẽ tôi không đủ lời để diễn tả nỗi đau xé ruột của một người lính, một người con gái trẻ mới chưa đầy 20 khi đột ngột nghe tin cha mình tử trận. Tìm trên Internet, thấy cái ảnh này chụp trước ngày ông (hàng đầu, thứ 3 từ trái sang) lên đường vào mặt trận, chị Mai Phương khi đó mới 18, vừa mới đi bộ đội, đứng cạnh cha http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha...5144331750.jpg Nếu ông không hy sinh thì sau ngày giải phóng ông chắc cũng sẽ được phong vượt cấp lên trung tướng cùng với Tư lệnh đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên. Ảnh chụp hôm nay trong đám cưới con chị Phương. Bên cạnh chị là trung đội trưởng cũ của chúng tôi ngày mới vào bộ đội, anh Tuấn "Mốc", 7 năm lính Trường Sơn từ 1964 đến 1971 - gọi như vậy là vì tóc anh bị ảnh hưởng của chất độc hóa học rụng hết, ngày ra Bắc không sao mọc lại được, đầu mốc trắng, mãi sau này mới mọc lại được 1 ít. http://i745.photobucket.com/albums/x...70712_1450.jpg |
Trời Hải Lăng - Quảng trị rực nắng cuối tháng tư, nắng như đổ lên đầu của tất cả những người tham gia thả hoa trên mặt sông Ô giang (Mỹ chánh). Nắng chói chang mà đầu trần không mũ, nhưng đang ở giữa dòng sông chạy ngược lên khoảng 2 km nên đành chấp nhận cái nắng dữ dội ấy. sau khi tất cả các thuyền dừng lại và đồng loạt thả hoa xuống mặt sông, bỗng dưng trời tối sầm, lác đác đâu đó vài hạt mưa lấm tấm trên mặt như thể ai đang khóc... Diều kỳ lạ đó đã đem lại cho chúng tôi bầu không khí mát mẻ cho đến khi tất cả thuyền tham gia thả hoa đậu bến, người cuối cùng lên bờ cũng là lúc trên mặt sông Ô giang lại rực nắng gắt gao, rực màu vàng đỏ của hoa trên mặt sông...
Hầu như những con người đang yên nghỉ dưới lòng sông Ô giang đều không được vớt lên. Họ đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng sông quê hương. Có một điều hầu như chưa ai nhắc đến: chính nơi đây xác của bộ đội giải phóng, bộ đội địa phương, dân quân du kích và rất nhiều những xác mang quân phục của chính quyền Sài gòn... Họ cũng có dòng máu đỏ, da vàng như chúng ta. Xin cầu mong cho những linh hồn đã khuất nơi cõi tuyền được an nghỉ, siêu thoát miền cực lạc. http://i223.photobucket.com/albums/d...ps410aafb3.jpg http://i223.photobucket.com/albums/d...ps6114f3e2.jpg http://i223.photobucket.com/albums/d...ps6329ec3e.jpg http://i223.photobucket.com/albums/d...ps9b970e67.jpg http://i223.photobucket.com/albums/d...ps1c4b40fb.jpg http://i223.photobucket.com/albums/d...psbc8f0ad0.jpg http://i223.photobucket.com/albums/d...ps7b6e60a9.jpg Dưới đây là bức ảnh của chúng tôi chụp đẻ kỷ niệm sau một thời gian 38 năm chúng tôi gặp lại nhau sau cuộc chiến. đó là những thủ trưởng cũ trực tiếp chỉ đạo chúng tôi khi giáp trận. Bên cạnh tôi, chính ủy Thân. tiếp theo là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Hữu Bào... Chúng ta ngược thời gian của lịch sử sẽ rõ hơn. Năm 1966, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ đã anh hùng chiến đấu chống lại quân Mỹ ở Khe sanh - 1 người tiêu diệt 20 lính Mỹ. Xin mời các bạn giải lao nghe bài hát: Ơi Dòng Suối La La sáng tác Huy Thục do ca sĩ Lan Anh thể hiện. Những đến năm 1968 chúng ta đã có thêm những gương mặt khác như chiến sĩ Trần Hữu Bào, khi đó 19 tuổi đã anh dũng giữ vững điểm cao 595 khu vự sân bay Tà cơn của mỹ. Và dưới đây là những ghi chép của tư liệu tôi sưu tầm về sự kiện lịch sử của trung đoàn 66 sư 304: Một tiều đoàn thuộc lữ 3 ky binh đổ xuống Làng Cát ngày 2 tháng 4 thì ngày 3 tháng 4 đánh ra Làng Khoai. Chúng định diệt chốt Làng Khoai, sau đó cùng với bọn ở Động Che Riêng, điểm cao 471 và bọn từ Tà Cơn đánh ra, tạo thành thế hợp vây để diệt các lực lượng chốt của ta ở tây nam và đông nam Tà Cơn. Suốt ngây hôm đó, địch tiến công 7 lần nhưng không vượt qua được Làng Khoai, ta diệt 70 tên (có 2 thiếu tá), bắn rơi một trực thăng. Đại đội phó Bùi Ngoãn bị thương vào chân vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Ngày 5 tháng 4, ta lại bẻ gãy 5 đợt tiến công của địch, diệt 170 tên. Trong lúc đó, ở Tà Cơn địch cũng cho lực lượng đánh ra các chốt của ta; 59 tên thuộc tiểu đoàn 37 biệt động quân bị diệt. Qua hai ngày 6 và 7 tháng 4, chốt Làng Khoai vẫn đứng vững, bộ phận thương binh ta nằm phía sau chốt đã dùng tiểu liên và lựu đạn bẻ gãy một cánh quân vu hồi của địch. Tiều đội trưởng Nguyễn Văn Ngọc chỉ còn một mình nhưng khi thấy địch cụm lại, đồng chí đã bí mật luồn sâu đánh vào trận địa của chúng. 14 giờ 50 phút ngày 7 tháng 4, trên chốt Làng Khoai ta chỉ còn 4 đồng chí. Bọn địch cơ bản đã chiếm được trận địa, nhưng chúng không dám lùng sục mà chỉ gọi trực thăng đến lấy xác đồng bọn. Đồng chí Phó lúc ấy đã bị thương, khi tỉnh lại thì thấy trực thăng hạ cánh, địch đang tranh nhau lên máy bay. Phó đã ném ba quả lựu đạn và bắn một tràng tiểu liên diệt cả máy bay và bọn địch. Chốt Làng Khoai với 20 tay súng, sau được tăng cường thêm một bộ phận của tiểu đoàn rút từ chốt 1 và 2 về, đã quần nhau với địch suốt 5 ngày đêm; địch bị diệt gần 400 tên, trong đó có hai tên thiếu tá Mỹ. Nồi bật nhất trong các trận đánh giữ chốt là chiến công của 5 dũng sĩ trên đồi 595. Điểm cao 595 có hai mỏm nằm ở phía tây cụm cứ điểm Tà Cơn 1 ki-lô-mét, trước kia là nơi trú quân của địch, nên chúng đã làm đường xe tăng đi qua yên ngựa. Trung đội 1 đại đội 5 được giao chốt ở đây: tiểu đội 1 và 2 có 3 đồng chí chốt ở mỏm thấp; 2 khẩu 12,7 ly và 1 khẩu cối 60 bố trí ở khu vực yên ngựa cạnh đường xe tăng; còn tiểu đội 3 có 5 đồng chí do đồng chí Ninh trung đội phó chốt ở mỏm cao nhất, tiểu đội này chia làm hai tổ: tồ một gồm 4 đồng chí có 1 trung liên do tiểu đội trưởng Đợi và trung đội phó trực tiếp chỉ huy, tồ hai có 2 đồng chí. Trận địa chốt này được xây dựng từ đầu chiến dịch, nên anh em đã củng cố khá tốt, hầm ẩn nấp làm kiểu chữ A, có ba nhánh hào vươn ra 3 hướng dài từ 5 đến 7 mét, có hố bắn, có trận địa chính, phụ và dự bị. Liên lạc giữa các hầm đến tiểu đội trưởng và trung đội bằng dây buộc các ống bơ, ban đêm ngủ thì dây buộc vào chân tổ trưởng. Suốt từ đầu chiến dịch vây lấn, chốt 595 đã gây khốn đốn cho địch, nên chúng đã dùng phi pháo oanh tạc nhiều lần. Ngày 6 tháng 4 sau khi đổ quân được bốn ngày địch đã tổ chức đánh chiếm 595. Địch chết 120 tên, có 40 tên phơi xác trước trận địa của tiểu đội 3. Ta mới có chiến sĩ Thu bi thương. Ngày 7 tháng 4, chúng lại tiếp tục cuộc đánh chiếm chốt. Sau nhiều đợt xung phong bị bẻ gãy lúc 16 giờ địch lại đổ thêm một đại đội kỵ binh bay xuống cao điểm 832 đã tăng cường lực lượng tiến công. Bỏ cả quy luật ngày đánh, đêm nghỉ, địch đã đánh cả đêm và 20 giờ hôm đó, chúng đã chiếm được công sự của tỏ một và một số hầm dự bị của tổ hai. Tiều đội 3, tiểu đội trưởng Đợi hy sinh, trung đội phó Ninh và một chiến sĩ nữa bị thương. Trên trận địa chính chỉ còn chiến sĩ Trần Hữu Bào, 19 tuổi đời một tuổi quân, anh đã băng bó cho hai đồng chí bị thương và đưa các đồng chí ấy về hầm dự bị, còn một mình ở lại tiếp tục chiến đấu. Anh nhặt nhạnh 20 quả lựu đạn, súng B40, tiểu liên, để săn ở các hố bắn và một mình đánh địch, giữ vững trận ta. Địch không dám đánh tiếp. Lúc này, Bào nghĩ muốn giữ được trận địa và bảo vệ được thương binh thì phải chủ động đánh chúng. Anh đã bò ra khỏi hầm, dùng B40 và lựu đạn đánh vào cụm quân của địch. Nhờ tiếng B40 và lựu đạn của Bào mà đại đội biết rằng trận địa của tiều đội 3 vẫn còn. Đơn vị đã cho người lên đón Bào và đưa thương binh tứ sĩ về phía sau. Như vậy là hơn một tiểu đoàn địch quần nhau với 6 chiến sĩ ta suốt hai ngày mà không chiếm được mỏm cao của điểm cao 595; chúng đã bị diệt gần 200 tên. Bào diệt 79 tên, Ninh 25 tên, Bút 16 tên, Phiệt 17 tên, Thu 8 tên và Đợi 5 tên. Ta hy sinh một, bị thương bốn.Cũng trên chiến trường Khe Sanh, năm 1966 tiều đội Bùi Ngọc Đủ đánh địch ở suối La La đã nêu kỷ lục 1 diệt 20. Nay trên điểm cao 595, tiều đội Trần Hữu Bào đã nêu ký lục 1 diệt 40. Cuối chiến dịch, đồng chí Trần Hữu Bào đã được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 00:33. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.