![]() |
Bộ tư lệnh Phòng không không quân Việt Nam và lãnh đạo của chúng ta quyết định kết thúc việc huấn luyện các đội phóng tên lửa và cho phép các chiến sĩ tên lửa Việt Nam độc lập chiến đấu, chỉ để lại một sĩ quan phóng để giúp đỡ và làm đội trưởng.
- Sau khi đưa tổ hợp tên lửa phòng không CA-75 đến Việt Nam thì xuất hiện vấn đề lắp ráp hoàn thiện và sửa chữa chúng trong hoàn cảnh tác chiến và khí hậu nhiệt đới, v.v…, - Ivan Petrovich Shavkun, một người to béo râu bạc và vui tính mở đầu câu chuyện. Phụ trách nhóm hoàn thiện này, bên quân sự là đại tá – kỹ sư Ivan Ilich Ermolenco, bên chuyên gia công nghiệp là Ivan Petrovich Shavkun. Các chuyên gia đã được đào tạo không chỉ để hoàn thiện mà còn để sửa chữa phục hồi và sửa chữa tổng thể. Các chuyên gia bắt tay vào phục hồi và sửa chữa khối anten, máy nạp của hệ thống điều khiển, thân tên lửa. Trước đó những công việc này chưa được làm ở Việt Nam cũng như các nước khác (chỉ được làm ở Liên Xô - người dịch). |
Ngày thứ tư, 7 tháng 7. Máy bay tiêm kích. Bị bắn rơi trên vùng trời Hà Nội.
Không biết tại sao nhưng từ thời niên thiếu, sân bay luôn hấp dẫn tôi. Tôi đã sống cùng các phi công của một phi đội, sau đó là trung đoàn “Normandi – Neman”, từng gặp nhiều phi công thời Chiến tranh Vệ quốc, còn trực tiếp quen biết thiếu tướng Zakharov và đồng nghiệp của ông, một người Pháp trong trung đoàn “Normandie-Niémen” tên là Pier Puyat. (Tôi gặp tướng Puyat ở Moskva năm 1965 khi ông đến với tư cách là lãnh đạo một hãng thương mại. Tôi nhiều lần lo lắng dõi theo các trận không chiến của các phi công Việt Nam trên bầu trời Hà Nội. Ngay cả lúc này khi đang trên đường đi tới một sân bay quân sự tôi vẫn có cảm giác lo lắng quen thuộc. Trời về chiều. Bầu trời đỏ rực trên sông Hồng. Đây đó trên sông trồi lên những cành cây đang trôi theo dòng nước cuồn cuộn. Chúng làm tôi nhớ đến cánh buồm căng gió của những chiếc thuyền đánh cá. Chiếc phà đang vượt qua dòng nước xiết. Và đúng vào lúc đó một tốp 4 chiếc MIG bay qua trên đầu. - Máy bay ta về sân bay hạ cánh đấy, - anh Lai, chính ủy trung đoàn không quân N vừa ngước nhìn lên bầu trời vừa giải thích với tôi. Hàng ngày từ sáng sớm đến tối, máy bay tiêm kích làm nhiệm vụ vẻ vang của mình trên bầu trời Hà Nội, họ đang bảo vệ thủ đô… Ngay lúc đang đi tới một sân bay quân sự tôi chợt nhớ bản tin cuối cùng: “Trong trận không chiến bảo vệ Hà Nội, không quân Việt Nam đã bắn rơi máy bay F-4 của Mỹ…” Đã ba năm trôi qua kể từ khi trung đoàn không quân của chính ủy Lai được thành lập. Trong thời gian đó các chiến sĩ phi công đã đánh hơn 60 trận, diệt 66 máy bay Mỹ, ngày 12 tháng 7 năm 1967, trong trận ném bom tập trung vào Hà Nội, một phi công trẻ là trung úy Hoàng đã bắn rơi chiếc máy bay F-4 Mỹ do đại tá Norman lái. Lai chìa cho tôi xem chứng minh thư sĩ quan của Norman, số hiệu sĩ quan là 26772. Tên đại tá Mỹ đã kịp bay vào Việt Nam ba lần. Hắn được giao nhiệm vụ nghiên cứu chiến thuật không chiến trên bầu trời Việt Nam. Bây giờ thẻ sĩ quan của hắn thành chiến lợi phẩm của Lai. - Hắn nghiên cứu thế đấy, Lai cười, - Tôi đã được nói chuyện với Norman. Tên đại tá có vẻ hiểu ra nhiều. Không biết hắn sẽ kể gì ở Mỹ khi hết chiến tranh nhỉ? Càng ngày tài nghệ tác chiến của phi công Việt Nam càng giỏi hơn. Nếu như năm 1965 trung đoàn chỉ bắn được 3 máy bay Mỹ thì năm 1966 con số đó là 31. Nhưng chỉ sau 6 tháng của năm 1967 thì đã có 32 máy bay bị hạ. Hơn nữa chỉ trong một tháng – từ 19 tháng 4 đến 19 tháng 5 họ đã tiêu diệt 25 tên giặc trời. |
Cuối cùng thì cũng tới sân bay. Các phi công đón tôi ngay trên bãi đỗ. Tôi đã quen nhiều người trong số họ. Tôi bắt tay anh hùng, đại uý Nguyễn Văn Bảy, anh hùng, đại uý Lâm Văn Lích, tốp trưởng, đại uý Hồ Văn. Ba người bạn nối khố, ba đại uý không quân chiến đấu.
Hồ Văn vừa hạ cách, chưa kịp cởi bộ đồ bay. Máy bay của anh chỉ huy tốp MIG chúng tôi vừa nhìn thấy trên sông Hồng. Cả ba đại úy đều là người miền Nam. Hồ Văn người Đà Nẵng, nơi có căn cứ không quân lớn nhất của Mỹ. Anh Bảy người thị trấn Sa Đéc, cách Sài Gòn khoảng một trăm km. Anh Lích quê ở tỉnh Bạc Liêu huyện Cà Mau (?), điểm cực nam của nước Việt Nam. Họ đến với không quân theo những con đường khác nhau. – Năm 1846, - anh Lích nhớ lại, - khi còn là một cậu bé tôi đã liên lạc với một đội du kích ở miền Nam. Chả dám nghĩ gì đến không quân. Vì lúc đó cả đội chúng tôi chỉ có vài khẩu súng với chục quả lựu đạn. “Phương tiện kỹ thuật” chiến đấu chỉ có thế. Tôi chỉ được thấy máy bay Pháp, chúng bay trên ngọn cây. Khi ấy tôi thấy căm thù không quân. Nào ngờ bầu trời lại là nhà của tôi với máy bay là bạn thân… Ngày ấy đã xa lắm rồi. Tháng 8 năm 1964 lần đầu tiên tôi được bay lên bầu trời Việt Nam. Bức tranh kỳ vĩ của tổ quốc tôi trải ra dưới cánh máy bay. Cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, những làng quê mái ngói, các nhà máy ở Hải Phòng, Hà Nội, Hồng Gai, Thái Nguyên, Việt Trì đang nhả khói. Những thành phố ngập trong ánh điện. Nhưng chính vào lúc đó bọn xâm lược Mỹ đánh vào Tổ quốc tôi. Tôi không giấu diếm là đôi khi tôi đã ứa nước mắt khi thấy dưới cánh máy bay những thành phố bị tàn phá, những làng mạc bốc cháy, những hố bom đỏ loét trên đồng lúa. Không ít người khi biết tôi là phi công đã hỏi một câu nặng nề nhất đối với tôi: “Thế nào cậu, phải làm gì chứ?” Mà thực ra tôi phải làm gì? Phải tìm câu như thế nào để trả lời mọi người chứ. Nói chung, lời nói có cần không… – Lích chú ý! Bên trái phi đội, độ cao 4500 mét có 12 máy bay địch, - mặt đất cảnh báo. - Đang quan sát, Mây dày quá. Đã lệnh cho số 2 lấy độ cao. Trong mũ bay nghe thấy mặt đất chỉ dẫn: “Máy bay địch tách làm ba tốp, một tốp hướng về Hà Nội”. |
Cái chính là xác định máy bay nào mang bom để tấn công chúng. Vài giây đồng hồ trôi qua. Rồi cũng thấy 4 chiếc F-4. Chúng tôi tiếp cận. Bọn giặc lái Mỹ khi thấy chúng tôi liền dùng hàng loạt thủ đoạn hòng chiếm vị trí thuận lợi để tấn công. Một tích tắc, lại một tích tắc nữa. Máy bay địch và máy bay ta hầu như lướt đi song song với nhau. Thậm chí còn thấy rõ mặt bọn phi công. Sau mấy giây, chiếc Fantom Mỹ đã nằm trong kính ngắm. Bắn! Tên lửa của máy bay MIG đã bắn trúng địch. Nó lao xuống trong đám khói đen. Một chớp lửa chói lòa bùng lên dưới đất dựng lên một đám mây khói đen sì. Trong khi ấy máy bay số 2 của tôi đã hạ một chiếc Fantom khác. Bằng những loạt đạn ngày ngày 7 tháng 7 năm 1965 chúng tôi đã trả lời được câu hỏi cứ day dứt chúng tôi mãi: “Làm gì đi chứ cậu?” Và chúng tôi đã làm gì? Chúng tôi đánh giặc…
- Hơn nữa, không một phi công việt Nam nào lại không tự hỏi mình câu ấy, - Hồ Văn nhận định. Và không hiếm khi các phi công Việt Nam tìm được lời đáp cho câu hỏi ấy trong các trận không chiến. Phi công trải qua trường học dũng cảm ở trên trời. Lòng dũng cảm đích thực thể hiện khi anh mặt đối mặt với kẻ thù. Mỗi một thao tác không đúng đều nguy hiểm chết người. Tôi còn nhớ trận đánh ngày ngày 16 tháng 9 năm 1966. Lần ấy phi đội 4 chiếc MIG của Hồ Văn tấn công 12 chiếc Fantom và 8 chiếc Skyraider. Chỉ trong vài phút không chiến đã có 12 quả tên lửa phóng về phía các phi công Việt Nam. Tốp MIG tránh được bằng những động tác tránh tên lửa chính xác. Xác ba chiếc máy bay Mỹ phải nằm lại trên đất Việt Nam. Có thể giờ đây, 30 năm sau, đại tá O’Connel và các nhân viên CIA của ông ta đang tìm kiếm nó. Không quân Việt Nam đã hạ được bao nhiêu máy bay Mỹ? Con số này có trên văn bản nhưng nó còn lâu mới đúng. Vì lý do giáo dục, nhiều máy bay bị bắn rơi đã “được tặng” cho lực lượng khác “yếu” hơn, cho súng máy của dân quân chẳng hạn. Việc này giúp nâng cao tinh thần chiến đấu của họ nhưng lại làm các phi công “của tôi” phiền muộn. Nhưng họ luôn biết cách hiểu đúng. Trong số ba đại úy không quân, có lẽ tôi quen biết với anh Bảy lâu hơn những người khác. Bây giờ thì anh ấy mặc đồng phục trắng có phù hiệu hàng không xanh da trời và ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành cùng màu xanh ấy. Người phi công huýt sáo một trong những bài hát Nga anh thích: “Nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên, máy bay…”. Chắc anh đang nhớ người vợ tên là Niên cùng đứa con trai 4 tháng tuổi Phi Hùng (dịch sang tiếng Nga có nghĩa là “anh hùng bay”). |
Hôm đó tôi đề nghị Bảy kể về các trận không chiến của anh. Trong sổ sách chắc là đã tập hợp những câu chuyện tỉ mỉ về bảy chiến công của anh. Về chuyện anh đã chiến đấu ở vùng trời Hà Nội, Hòa Bình, Hải Phòng ra sao. Chúng tôi muốn nói về chuyện khác. Bảy đề nghị tôi kể về các phi công xô viết. Tôi đã kể lại chiến công của đại úy Gastello, những trận không chiến của Pokrưskin, Kozhedub, chuyến bay vũ trụ của người bạn thời thanh niên của tôi Yuri Gagarin, của anh hùng Liên Xô Komarov. Cũng ngay ở sân bay Gia Lâm này tôi đã làm quen với nhà du hành vũ trụ tương lai đầu tiên của Việt Nam là đại úy Phạm Tuân…
Xế trưa tôi chia tay với các anh phi công và lại vượt sông Hồng về Hà Nội. Mặt trời đang rải nắng xuống thành phố. Trên bầu trời trong xanh không một gợn mây một tốp 4 chiếc MIG đang bay lượn trên cao nhiều vòng. Có thể một đại úy nào đó đang ngồi trong một chiếc MIG trên kia. |
Ngày thứ năm, 22 tháng 8. Mạnh hơn bom đạn.
Sinh nhật tôi. Tôi vừa từ vùng giải phóng Lào trở về Hà Nội cùng Ruben Petrosov và nhà quay phim Oleg Arseulov. Chỉ còn cách thành phố bên sông Hồng vài km nữa thôi. Vầng trăng nhợt nhạt chiếu qua lớp mây mỏng, lờ mờ soi sáng những đoạn đê, bến phà bị phá hủy, những cánh đồng lúa nhàu nát vì bom đạn. Để kịp về Hà Nội trước khi trời sáng, chúng tôi đã làm việc cùng đội công nhân xây dựng đang sửa chữa bến phà. Chính ở đây chúng tôi nhặt được một con chó con, đặt tên cho nó là Đẹp, và nó đẹp thật. Nhưng nó lại chết sau vài ngày… Oleg có nhắc đến Đẹp trong một bút ký trên tờ “Komsomolka”. Cuối cùng Hà Nội đây rồi. Đã ba tuần tôi không được đi lại trên phố phường và gặp gỡ người Hà Nội. Thành phố chưa thức giấc, thành phố đang ngủ. Ngủ sau một ngày chiến đấu vất vả. – Chúng lại ném bom thành phố, người sĩ quan ở trạm kiểm soát nói, - Chúng lại ném vào nhà máy điện. Chúng bắn tên lửa “Shrike” vào cả nhà thờ, chùa chiền. Phòng khám bệnh ở ngay trung tâm thành phố cũng bị thiệt hại …Những khu phố đông dân… Gương mặt người sĩ quan rắn lại như đá. Mỗi lời nói đều chứa chất nỗi đau không thể kìm nén được. Bình minh. Bình minh ngày thường của Hà Nội. Những vệt nắng dài xuyên qua kẽ lá trên ngọn cây, phản chiếu hàng ngàn đốm lấp lánh trên mặt nước Hồ Tây phẳng lặng như gương. Dù phải trải qua nhiều biến cố những thành phố vẫn có vẻ bình yên. Hà Nội vẫn sống. Đây đó vẫn vang tiếng búa. Công nhân xưởng sửa chữa ô tô đang bắt đầu ngày làm việc bình thường. “22 tháng 8, 2205 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi ở trên đất VNDCCH”, - một cánh tay trẻ con chỉ lên tấm bảng đá ngay trên phố. Bất chợt, còi báo động kêu ré lên. Lại nữa rồi! Lại báo động phòng không. Chúng có vài chục chiếc. Tôi không thể đếm chính xác… Bom đạn nổ rầm rầm, pháo cao xạ khạc lửa giận dữ. Các loại súng của thành phố đều nhả đạn chặn giặc. Mấy chiếc máy bay bổ nhào xuống trung tâm. Tôi nhìn thấy cả bom rơi xuống phố Huế. Cả một khu phố thành đống đổ nát. Bụi xi măng nặng nề trùm lên khu phố. Thật khó thở. Có một hiệu thuốc trong căn nhà ở đây. Giờ thì mọi người bị chôn sống ở đó. Mặt đường Hà Nội đỏ máu. Bom lại nổ tiếp... Phố Mai Hắc Đế, nhà 49. Đúng hơn đây từng là cái nhà. Giờ đây nó chỉ là những đám khói và đống đổ nát. Phố Ngô Thì Nhậm cũng một quang cảnh như vậy. Cô ấy tên là Hiền. Nhỏ nhắn, mảnh mai trong áo choàng xanh với túi cứu thương quàng vai. Tôi gặp cô gái có bím tóc đen dài này lần đầu ở chỗ anh Cường, một bác sĩ nội khoa quen biết. Bây giờ cô đang cùng mọi người sơ cứu những người bị thương trên phố Huế. - Anh Cường có đây không? Tôi muốn nói chuyện với anh ấy. Chỉ một phút thôi. -Không có, anh ấy mất rồi… Mới vừa hôm qua. Mắt cô gái ngấn lệ. Nhưng lẽ nào ở đây, trong khói bụi chiến trường, người bác sĩ lại nghĩ về nỗi đau riêng của mình? Còi báo yên. Và dòng xe đạp lại nhộn nhịp trên phố, tiếng búa lại rộn ràng trong nhiều xưởng máy. Mọi người đội mũ rơm dọn dẹp đống đổ nát, xúc gạch vỡ, đất đá xi măng lên xe cải tiến chở đi. Cứ như vậy suốt ngày đêm. |
Ngày thứ 6, mùng 2 tháng 9. Những con người bất khuất.
Kỷ niệm lần thứ 22 ngày Quốc khánh nước VNDCCH. Tôi viết những dòng này trong một ngôi nhà tre nông dân rộng rãi trên những cái cột cao lêu đêu, giống như chân một con diệc, trong một ngôi làng nhỏ cách Hà Nội chừng 10 km. Mưa rào nhiệt đới, mưa xối xả tuôn ra từ những đám mây thấp, giận giữ gõ lên mái cọ, thỉnh thoảng lại thay đổi nhịp điệu, lúc nhanh lúc chậm. Con suối nhỏ chảy xiết dưới chân đồi dần dần biến thành một dòng nước đỏ ngầu hung dữ chảy ầm xuống cánh đồng lúa. Nước lọt qua vài nơi trên mái lá nhỏ xuống cả trang viết. Bác nông dân chủ nhà đứng tuổi ngồi đối diện bên bàn, hai tay chống cằm tư lự suy nghĩ gì đó. Khuôn mặt ông đầy nếp nhăn, mắt thâm quầng, mái đầu bạc. Bác tên là Hiển. Tiểu sử cũng bình thường. Tham gia Cách mạng Tháng 8 năm 1945, cựu đội viên xung kích trong kháng chiến, người xây dựng hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên ở làng này. Bác Hiền kể về bản thân, còn tôi thì như từng bước đi theo cuộc đời bác. Đôi mắt bác sáng lên, lôi từ cái rương tre nhẵn bóng ra một tấm ảnh đã ố vàng. Thậm chí còn không phân biệt nổi có gì trên đó. - Tôi đấy, - bác Hiền chỉ ngón tay xù xì vào hàng duyệt binh, - Còn đây là ông Tuyết bạn tôi. Chúng tôi cùng đi đánh Pháp suốt 9 năm ròng. Nhiều lần tù binh phi công Mỹ bị tạm giam trong ngôi nhà tre của ông Hiền. - Sao lại thế ? – tôi ngạc nhiên. - Mẹo quân sự mà. - bác Hiền giải thích. Trước mùng 2 tháng 9 mấy hôm, bọn xâm lược lại tăng cường ném bom cảng Hải Phòng và thủ đô Hà Nội. Đã nhiều lần chúng đánh cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, nhà máy điện, các cơ sở y tế, khu dân cư ở trung tâm thành phố. Để cứu cây cầu, người Việt Nam giam giữ tù binh phi công Mỹ ở khu vực cầu. Tình báo Mỹ biết điều này và chừng nào phi công Mỹ còn ở gần cầu thì Long Biên không bị ném bom. Đây là mẹo quân sự do bác Hiền nghĩ ra. |
…Vẫn giống như thời hòa bình trước đây, sáng sáng dòng xe đạp lại đổ về các nhà máy xí nghiệp. Các bà các cô vẫn gánh những sọt chuối, đu đủ như trước kia. Nhưng hầm hào bê tông dọc theo vỉa hè và những đoàn xe chở bộ đội đã nói rằng: đang chiến tranh. Cuộc chiến không khoan nhượng …
Đường giao thông là huyết mạch quan trọng của Việt Nam. Nó trải dài nhiều nghìn km khắp cả nước. Những con đường phải hứng chịu những trận bom ác liệt của không quân Mỹ. Cường độ đánh phá tăng lên sau từng năm chiến tranh. Nếu như năm 1965 máy bay Mỹ đánh phá cầu đường, bến phà 5 nghìn lần thì chỉ sau 6 tháng của năm 1967 không quân Mỹ đã đánh 10200 lần vào các công trình công cộng của miền Bắc Việt Nam. Có những lần, chỉ trong một ngày đánh phá các cây cầu đã có 60-80 máy bay tham gia đánh bốn năm lượt... Cầu Hàm Rồng, dịch nghĩa là “miệng con rồng”. Nó đã chứng tỏ cái tên của mình: “miệng rồng” này đã nhai không chỉ một chục máy bay Fantom, Skyraider. Có vẻ như không còn cái gì còn sống xung quanh cầu. Mặt đất nát bét vì hố bom. Bốn bề là những công trình xây dựng bị phá hủy. Nhưng cầu vẫn đứng vững. Cầu vẫn đứng vững bất chấp bão lửa, bất chấp những loạt bom đạn, tên lửa, ngư lôi. Máy bay Mỹ đã ném xuống đây vài nghìn tấn bom. Bọn xâm lược đã sử dụng hầu hết mọi loại phương tiện kỹ thuật không quân. Nhưng cầu vẫn đứng hiên ngang. Chuyện này giống như một phép mầu. Chính những người bảo vệ cầu Hàm Rồng đã làm nên phép mầu ấy. Trên một bãi bắn thử ở Mỹ có bản sao của cầu Hàm Rồng. “Cây cầu” ấy đã tan tành trong nháy mắt, còn ở đây, cây cầu thật bắc qua sông Mã vẫn đứng vững cùng năm tháng. Tôi không bao giờ quên được lá thư của một nhà thơ miền Nam viết cho một nhà văn Hà Nội bạn tôi Chế Lan Viên: “…Cần có nhiều sức mạnh tinh thần mới viết được. Ban ngày phải hành quân, - lúc thì chống càn, khi thì tránh bom, lúc lại làm ruộng. Tối đến cầm bút bỗng cảm thấy mình như kiệt sức. Vừa viết được chục dòng là cơn sốt lại ập đến”. Chế Lan Viên trả lời người bạn thơ miền Nam như sau: “Tôi rất thích ngồi bên bàn viết có lọ hoa trên cửa sổ nhìn ra mặt hồ yên tĩnh hay một vườn cây trĩu quả. Nhưng tôi rất tin rằng bạn đã viết trong những hoàn cảnh khó khăn. Người nào biết quý đốm sáng leo loét của cây đèn dầu chính là người đang làm nên những tia sáng từ trang giấy rọi vào tâm hồn người đọc. Bàn tay ban ngày gieo mầm sống trên những luống cày, một tay cầm súng để chặn đứng chết chóc đang đe dọa dân tộc, bàn tay ấy vừa cầm bút khi đêm đến không thể quên giá trị của mồ hôi, giá trị của máu đã đổ những ngày qua”. |
Ngày thứ bảy, 10 tháng 10. Hoa, súng trường và đám cưới.
Người ta không gọi mùa thu bên bờ sông Hồng là mùa thu vàng. Người ta gọi nó là mùa đẹp trời, có lẽ phù hợp hơn với mùa tuyệt đẹp này ở Việt Nam. Bầu trời trong xanh. Hàng cây xanh dịu dàng. Đêm mát rượi. Hình như không chỉ thành phố và những con người của nó mà cả thiên nhiên cũng đang nghỉ ngơi sau mùa hè nhiệt đới nóng nực. Kỷ niệm lần thứ 13 ngày giải phóng Thủ đô. Thành phố trông thật lộng lẫy. Thiên nhiên không quên góp bàn tay kỳ diệu của mình để trang trí cho thành phố bằng những đóa hoa. Ngay cả trên những đổ nát hoang tàn gợi nhớ đến những trận ném bom gần đây cũng trồi lên những mầm non xanh biếc. Nhưng dù sao thì những đống đổ nát thê lương ấy – những vết sẹo của chiến tranh vẫn đang ở giữa thành phố và vùng ngoại ô. Rạng đông, như thường lệ, tôi đi ra phố phường Hà Nội. Tôi gặp mấy người sĩ quan quen biết ở phố Hàng Bài. Họ tới dự khai mạc Triển lãm ảnh nghệ thuật về Hà Nội anh hùng. 102 tác phẩm của 50 tác giả thu hút hàng nghìn người Hà Nội đến đây. Những tấm ảnh cho thấy chiếc máy bay thứ 144 đã bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội thế nào, người Hà Nội đã bảo vệ thành phố của mình ra sao. Trên ảnh là những dãy phố yên tĩnh và những trận địa tên lửa, pháo cao xạ, những phi công trong buồng lái máy bay MIG, những chiến sĩ tự vệ, những gương mặt trẻ thơ ló ra từ hầm trú ẩn cá nhân, những nhà máy và đồng lúa ngoại ô Hà Nội. Và đây là những bức ảnh một Cụ rùa độc đáo. Cụ rùa đã hơn 400 tuổi. Cụ chết ngày 31 tháng 3 năm 1967 trong một trận ném bom. Câu chuyện cổ tích ngày xưa thần Kim Quy trao gươm chiến thắng cho Lê Lợi được kể lại theo cách mới. Tên gọi hồ Hoàn Kiếm cũng từ đó mà ra. Phố Tràng Tiền, ở đây lúc nào cũng đông đúc. Bên cạnh rạp chiếu bóng và cửa hàng Bách hóa trung tâm dựng hàng hàng dãy dãy xe đạp, có đến nghìn chiếc. Tôi đi về vùng ngoại thành thợ thuyền của Hà Nội-Gia Lâm, khu vực chịu nhiều trận ném bom ác liệt nhất. Nhân dân vùng này đã phải đào hơn 48,8 nghìn hầm cá nhân, xây dựng 900 hầm tránh bom, hơn 34200 hầm trú ẩn ở các bến phà, hơn 6 nghìn mét hào giao thông… Nhưng Hà Nội không chỉ là thành phố bị bom đạn tàn phá. Bất chấp hoàn cảnh thời chiến khó khăn, ở Hà Nội vẫn có nhiều gia đình trẻ ra đời. … Khách khứa thong thả đến. - Bao giờ cũng thế. Bạn thân đi ăn cưới thường hay đến muộn, cô Liên nói. Cặp mắt đẹp đen láy như hạt nhãn của cô hơi buồn. Hình như thoáng có nước mắt. – Thiếu Bảy, thiếu Tân, chỉ có mỗi Lan tỏ ra là người lịch thiệp. Ít nhất anh ấy cũng kịp báo trước là chỉ huy đội pháo cao xạ không cho anh đi. Bộ đội chúng mình đâu có dễ gì. Ngay cả đám cưới cũng không đến được. - Đừng buồn em ơi, bạn bè sẽ đến thôi. Không sao đâu, họ đi muộn thôi. Em biết họ rồi mà. Anh Bảy có khi cả tuần không ra khỏi sân bay. Thế còn anh Lan, anh Tân? Bên tên lửa và cao xạ nhiệm vụ không phải chuyện chơi đâu, - người bạn cũ của tôi, tiểu đoàn trưởng bộ binh Thập dỗ dành cô dâu. Tôi thấy anh thật đẹp trong bộ quân phục mới với quân hàm tươi rói. |
Mấy cô bạn Liên ở Nhà máy cơ khí Hà Nội ríu rít bên bàn tiệc. – Này, Thập, Liên ơi! Bắt đầu được được rồi đấy. Tóm lại thì hôm nay ai cưới nhỉ? – mấy cô đùa.
– Trước tiên nâng cốc vì đôi bạn trẻ, vì hạnh phúc của họ, vì chiến thắng! – Một công nhân đứng tuổi có bộ râu bạc lưa thưa nâng cốc rượu. Lại nâng cốc nữa, lần thứ hai, thứ ba … Những khuôn mặt đỏ bừng. Chàng thanh niên em trai Liên bắt đầu chơi ghita. Một người nào đó thổi sáo trúc hòa theo anh. Và từng đôi múa thành vòng tròn, Thập và Liên dẫn đầu. Gương mặt rạng ngời hạnh phúc, họ mới đẹp làm sao. Cửa mở, hai người bạn đứng ngay ngưỡng cửa: Bảy và Tân. Hai khuôn mặt lấm bụi, mệt mỏi. Trên tay là một bó hoa lớn, tươi rói với những hạt sương long lanh như kim cương trên cánh. - Chúc mừng các bạn! – Họ ôm vai Thập và bắt tay Liên chặt đến nghẹt thở. Tôi ngồi ở góc phòng hút thuốc lá Điện Biên và nhẩm đi nhẩm lại trong trí nhớ những lần làm quen với những con người tuyệt vời đang dự đám cưới Thập -Liên. Bảy tháng trước, tiểu đoàn của Thập đi vào vùng Vĩnh Linh. Tôi đã gặp Thập vào đêm anh vượt sông Gianh ở tỉnh Quảng Bình. Vừa có một trận ném bom. Cái hố trú ẩn nông choèn. Vừa hết thuốc, hai người hút chung một điếu vậy. Có vẻ như chỉ là cuộc gặp thoáng qua. Nhưng rồi điếu thuốc cuối cùng lại làm hai người gần lại nhau! Chúng tôi hẹn gặp lại nhau ở Hà Nội. Thế mà gặp thật, lại ngay trong đám cưới… - Anh sao buồn thế hả Mi-xa! Chắc là nhớ Mạc Tư Khoa hả? – Liên nói với tôi, cô gọi tên Nga của tôi và thủ đô Liên Xô theo giọng Việt Nam một cách buồn cười. - Ở với chúng tôi anh thấy thoải mái chứ? Nhà chúng tôi cũng là nhà anh mà. - Cảm ơn Liên. Tôi thấy tuyệt vời. - Này anh hãy hát chúng tôi nghe bài hát mà các nhà báo Liên Xô đã hát khi đến với Nhà máy cơ khí Hà nội sơ tán trong rừng ấy đi. - Ngượng quá Liên à. Cô biết tôi là hạng đàn gẩy tai trâu mà. Tôi mà cất giọng thì tuyết sẽ rơi ở Hà Nội đấy. - Thế mà sau đó bọn em học được bài hát này đấy. Liên cười và cất tiếng hát: Nắng sớm mai dịu dàng Tô điểm tường thành Kremli cổ kính… |
Thế người Liên Xô có lấy người Việt Nam không? – người ta thường hỏi tôi. Thời chiến thì Liên Xô không là một con người cụ thể nào cả. Với tư cách nhà báo, một trong những nhà Việt Nam học đầu tiên của Liên Xô, tôi được biết những gì có đóng dấu “tối mật”, được nghe, được tham dự vào những việc mà thời đó một số kẻ đạo đức giả gọi là “phi đạo đức”. Chúng ta sẽ bắt đầu câu chuyện từ đó, từ cái “phi đạo đức tuyệt vời”. Để dễ dàng “lấy đà” đi vào những năm tháng chiến tranh khó khăn và nguy hiểm. Tôi thấy rằng ở Việt Nam thời đó không ai bị trừng phạt là phi đạo đức vì đã “chạy theo mốt” vào thời đó, mặc dù kỷ luật Đảng và kỷ luật quân đội rất nghiêm khắc. Lý do của chuyện khó tin này là gì? Do sự khôn ngoan của lãnh đạo xô viết, do người Việt Nam khoan dung độ lượng và hiểu biết “vấn đề”, do không có người tố cáo hay do không muốn đọc những lời phỉ báng, nhưng cũng có thể, do biết giữ bí mật, khôn khéo giữ kín những quan hệ bí mật giữa công dân xô viết và người Đông Dương trên mảnh đất đang bị ngọn lửa chiến tranh bao phủ này. Hay cũng có thể do tất cả những lý do trên?
Hầu hết công dân xô viết đang làm việc ở Hà Nội đều sống thiếu vợ bên cạnh, họ là nhà ngoại giao, nhà báo, đại diện hàng không quốc tế, ngoại thương, nhà địa chất, chuyên gia dầu mỏ, xây dựng, chuyên gia quân sự, kỹ thuật viên lành nghề, v.v… Thời chiến đòi hỏi phải “hy sinh”, phải diệt dục, thời chiến đã để lại dấu ấn của mình. “Đừng ru ngủ chúng tôi bằng “Shrike”, - các chuyên gia Liên Xô hát, tốt nhất là mang “cái lỗ” đến đây, cho dù là Zinaida, là Valia, là Katia thọt chân, đêm đêm chúng tôi đều thấy ác mộng, hãy để bóng ma của “thế giới tình dục” hiện hình đến đây với chúng tôi”. (Ai cũng thích hát chệch lời và mơ về chuyện gần như không thể). Nhưng than ôi, người ta kiên quyết không gửi “cái lỗ” từ Moskva đến, viễn cảnh thoát khỏi “bóng ma đêm” không xuất hiện, chỉ còn cách hoặc là buồn bã hát bài hát này, bài hát do đại úy tên lửa (nay là trung tá nghỉ hưu) Valeri Kuplevakhsky sáng tác, hoặc là, sau khi xem xét tình hình, đi tìm những phụ nữ dịu dàng, trẻ trung, đa dạng, độc đáo và kiều diễm như tượng thần Vệ Nữ. Để làm việc tốt thì cũng cần phải được thỏa mãn tình dục. Đây là “bí mật quân sự” đầu tiên, hiện vẫn còn tính lãng mạn, của quá khứ xô viết ở Việt Nam. |
Với người Mỹ thì mọi chuyện đơn giản trắng trợn đến vô liêm sỉ. Nếu như đối với 660 nghìn người Mỹ ở Sài Gòn (quân sự và dân sự) mọi vấn đề tình dục được giải quyết đơn giản (chỉ riêng ở thủ đô miền Nam Việt Nam, trên phố Catina – Tự Do giữa khách sạn Caravella và Majestic, trên quãng dài 300 met có đến 63 quán bar có tất cả mọi “dịch vụ”, có “bướm đêm, bướm ngày”) thì đối với bốn trăm người Nga ở Hà Nội lại không có một “cơ sở giải trí” nào. (Ngoại trừ câu lạc bộ quốc tế, nơi bán bia và Lúa Mới – rượu gạo). Nếu như ở Sài Gòn, vào lúc thả lỏng thư giãn, người Mỹ bị đe dọa bởi bẫy mìn du kích, bởi súng lục và dao găm thì ở Hà Nội năm 1968 báo động phòng không hàng chục lần mỗi ngày đêm, các loại vũ khí phòng không nổ đùng đùng. Ở chỗ chúng tôi đáng sợ hơn nhiều chứ.
Đúng là địa ngục trần gian. Ai còn nghĩ đến yêu? Hoàn toàn không phải vậy! Ngược lại cơ. Báo động, những đường phố trống vắng, bóng tối và nhiều thứ khác … giúp cho việc đón các ““bạn gái chiến đấu”” Việt Nam lên những chiếc “Gát”, “U-oát”, sau đó kín đáo chở họ tới những nơi đã định trên những phố vắng vẻ, trên triền đê, trên bờ sông Hồng, hồ nước, vườn hoa và rặng cây… Lúa đó, vào năm 1967 ấy, tự mình làm quen với các cô gái trẻ của một thành phố đang có chiến sự không phải là việc đơn giản. Thứ nhất, phần lớn phụ nữ Hà Nội, khoảng 60 phần trăm, là sinh viên, công chức, v.v… đã sơ tán khỏi thành phố, chỉ có những người liên quan đến quân đội, an ninh quốc gia và bảo đảm đời sống cho thủ đô là ở lại. Đây là thành phần đặc biệt. Thứ hai, những phụ nữ ở lại thành phố đã được phổ biến rộng rãi rằng luật “10-67” sẽ trừng phạt nghiêm khắc bất cứ mối quan hệ nào với người nước ngoài, hơn nữa không có phân biệt người nước ngoài: người nước ngoài là ai? Người Nga hay người Mỹ? Người Trung Quốc hay người Pháp, người Albani, người Triều Tiên hay người Anh? Sự mạo hiểm chết người. Mạo hiểm cho mình và cho cả gia đình cô gái Việt Nam. Quá nhiều mạo hiểm cho tình yêu và tình bạn … Nếu như một phụ nữ (vì nhiều lý do) làm cái nghề “tự do yêu” và điều đó được công an làm rõ thì chị ta sẽ được đưa tới nơi được gọi là “khu Bốn” (nam Thanh Hóa và tỉnh Nghệ An), nơi không quân và hạm đội 7 Mỹ đánh phá ác liệt nhất, còn sống và khỏe mạnh trở về là hầu như không thể. Tình yêu hay cái chết? Vậy mà nhiều người lại thích chết. Chúng tôi không thể để cho bạn gái mình lại có một kết cục buồn. Nhưng làm sao bảo đảm an toàn cho họ? Trong trường hợp xấu nhất còn có nhà nước bảo vệ chúng tôi, còn họ thì sao? Không có ai, không có gì bảo vệ họ…Không tòa án, không điều tra. Lập tức đi “khu Bốn”. |
Nhưng trước tiên, làm sao tiếp xúc được với họ? Đó là thứ nhất. Thứ hai, phải biết tiếng Việt, có điều kiện làm quen thoải mái trong những cuộc gặp gỡ chính thức, có phương tiện giao thông, và cuối cùng, có chỗ để đưa người phụ nữ giả định của trái tim mình đi.
Để có những lần gặp gỡ, “những người tìm hạnh phúc” phải phân tán, chia nhỏ ra, không cần thỏa thuận, theo “nguyên tắc nghề nghiệp” – đại diện thương vụ trẻ, phóng viên tự do, địa chất, bác sĩ, quân nhân, ngoại giao, … Cũng có những nhóm hỗn hợp. Cái khó nhất là giải quyết vấn đề đưa ““bạn gái chiến đấu”” đi đâu và bằng cách nào. Ở đây cánh thương vụ có ưu thế nhất, nhà của họ ở Hà Nội nằm tại nơi khá hơn so với các khu khác, ngay trong khu ngoại giao đoàn, cách Bộ Ngoại giao và chùa Một Cột không xa… Cánh nhà báo sống ở khu vực Hồ nhỏ (?) và trong khách sạn Metropol - Thống Nhất có vẻ như ở vị trí thoải mái nhất. Quan hệ với phụ nữ Việt Nam dần trở thành “bình thường”, không phải là “bê tha” hay “trụy lạc” nữa. Bắt buộc phải sống một thời gian dài trong hoàn cảnh “sex zero”, khí hậu cực kỳ nóng và ẩm, chưa nói gì đến thời chiến, đến căng thẳng thần kinh tâm lý, đến tâm thần, con người cần được giải tỏa, cần có đôi, cần người bạn hiểu biết và dịu dàng. Và không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi họ chính xác là ““bạn gái chiến đấu”” Việt Nam. Nhưng, vì các lý do cũng dễ hiểu, không một ai có thể ca ngợi cô ấy như Gram Green Hoa trong “Người Mỹ trầm lặng” được. Chuẩn bị cho mỗi cuộc gặp với các “Hoa” Hà Nội cứ như chuẩn bị cho một “chiến dịch nguy hiểm” vậy: nào là vạch ra lộ trình phải đưa ““bạn gái chiến đấu”” đi qua, nào là kiểm tra xem có ai theo dõi cô ấy không. Để cho chắc ăn thường dùng hai chiếc UAZ. Đón cô bạn gái đang nấp ở chỗ hẹn lên xe đưa về nhà. Đảm bảo an toàn cho cô ấy là vấn đề danh dự, phẩm chất, lương tâm của người đang yêu – dù anh là quân sự hay dân sự. Những chiến dịch như vậy trong những năm 60 chưa một lần đổ vỡ, và chưa có một “phụ nữ của trái tim” nào trở thành đối tượng truy nã của cảnh sát tập quán. Đến nhà, các cô được tiếp như những khách quý nhất. Hoa tươi, rượu sâm banh, đồ nhắm mua ở cửa hàng sứ quán, món ăn nóng theo khả năng bàn tay đàn ông chế biến được, âm nhạc (chưa có ti vi). Sau đó thì các cô làm chủ tình hình. Trong quan hệ như vậy người bạn gái nhanh chóng vào vai bà chủ. Và cái chính là họ biết: ở đây người ta không phản bội. Ở đây người ta yêu họ và quý trọng họ. Vậy là có “phản ứng” dây chuyền, “các quan hệ tâm hồn” được nhân lên, trở nên vững bền, còn các cuộc gặp gỡ gần như hàng ngày. |
Còn nếu cần giúp đỡ y tế thì đã có các bác sĩ quân y ở bệnh viện quân đội ngay bên cạnh. Trong giờ làm việc họ đã làm những điều kỳ diệu (họ làm phẫu thuật trong hoàn cảnh chiến trường, không có máy Rơn-ghen, mà vết thương lại do bom bi. Đặc thù của vết thương này là, ví dụ bị ở chân, nhưng “viên bi” chỉ dừng “chạy theo xương” ở lồng ngực, ở vai, ở đầu, … Đây là “thao trường” phức tạp nhất của bác sĩ phẫu thuật quân y), còn tối tối thì các bác sĩ giúp đỡ những người anh em xô viết và bạn gái Việt Nam của họ. Giúp được gì là họ giúp tất với tay nghề cao và tấm lòng rộng mở. Những khía cạnh “đạo đức” khác tốt nhất là không bàn đến. Các cán bộ Đảng và luật sư nói gì vào thời đó thì ai cũng rõ. Nhưng về khía cạnh cuộc sống thì đó là một câu chuyện khác, những giá trị khác. Đó là tình yêu và lòng chung thủy của nó.
…Các nhà địa vật lý, địa chất cũng đã tìm thấy dầu ở Thái Bình, còn bao nhiêu mối quan hệ bạn bè chân thành đã nảy sinh giữa chuyên gia Liên Xô và những người bạn gái đã nấu ăn cho họ, đã bảo đảm cho họ những điều kiện bình thường để sống và làm việc theo khả năng của mình. Còn tình yêu, lẽ nào lại là không bình thường? Ai đã từng cống hiến cho Việt Nam thời gian đó không thể tránh được một mối tình ở Việt Nam, ai cũng từng có lần yêu… Người Liên Xô ở Hà Nội là những người láu cá, có những ý tưởng sắc sảo và khó tin nhất. Ví dụ, các cơ quan Đảng Liên Xô cấm người xô viết đi xe xích lô. Nhưng nếu gặp mưa bão và không có gì để về Kim Liên thì làm thế nào? Chẳng lẽ để những người ở Quảng trường Cũ (nơi Hội đồng nhà nước Liên Xô đóng trụ sở tại Moskva-người dịch) nghĩ đến điều đó? Một người Liên Xô đã nghĩ ra cách lách luật: trả tiền cho người đạp xích lô và ngồi lên yên, để người Việt Nam ngồi vào ghế khách rồi đạp về. Như vậy anh ta không bóc lột sức lao động của người khác và không thể bị phạt vì đã đi xích lô… Kinh nghiệm này đã đem lại ý tưởng cho một người Nga “không ngựa” ở cơ quan quân sự. Anh thuê xích lô với giá 10 đồng (năm 1967 lương tháng của chuyên gia ở Việt Nam chừng 600 -700 đồng), hứa trả xe sau hai tiếng đồng hồ, mặc quần áo như người Việt Nam, đội chiếc nón nông dân đi đón bạn gái của mình đi chơi đàng hoàng, sau đó hai tiếng đồng hồ trả xe cho người đạp xích lô ở nơi hẹn…Cách này mau chóng được làm theo nhưng sớm hết thời. Giờ đây, ba mươi năm sau, khi kể lại những chuyện phiêu lưu của “những chàng ngự lâm tình yêu ở Việt Nam thời 67-68”, chúng tôi thường tự hỏi: “ Thế những ““bạn gái chiến đấu”” có phải là “quân chìm” không? Giống như ở Sài Gòn ấy. Ở đó “bướm đêm” đã lập nên chiến công của mình. Một phụ nữ yêu nước nổi tiếng – chiến sĩ quân đội giải phóng nhân dân đã giao du với người Mỹ và làm lây bệnh giang mai cho hàng chục sĩ quan Mỹ. Còn bao nhiêu tên lính đã bị tan xác bởi những quả mìn của những phụ nữ lả lơi, những người vẫn nguyên nữ tính ngay cả khi sử dụng thuốc nổ? |
Còn “bạn gái chiến đấu” của chúng ta? Không! Bạn gái của chúng ta ở Hà Nội không phải là “quân chìm”. Họ yêu Tổ quốc, yêu cả chúng ta, những người giúp đõ Tổ quốc họ. Trong số “bạn gái chiến đấu” có đại diện của tất cả các dân tộc chính của Việt Nam - từ người Kinh đến người Ê đê. Mà người Ê đê ở Hà Nội chỉ có tất cả 22 cô. Anh Georgi bạn tôi yêu một cô trong số này. Cô đã có chồng. Mối quan hệ kéo dài gần hai năm, trong khi cô Ê đê đang yêu này chưa mất tự chủ và chưa thú nhận hết với chồng, cô đã đòi ly hôn.
Người chồng không biết những đạo luật của thế giới văn minh, đánh vợ tàn nhẫn, nhưng không đưa cô ta ra trong buổi sinh hoạt Đảng mà lại quyết định thách người bạn đại học của tôi đấu… nỏ. Tôi và một người Việt nữa làm chứng. Tôi cố thuyết phục người chồng bất hạnh đang giận dữ rất lâu, xin anh ta tha thứ cho vợ, đừng chống lại số phận và chia tay nhau một cách tử tế và khôn ngoan. Anh ta không chịu nghe. Sau đó chúng tôi liền nghĩ ra một kế. Tại sao lại đấu bằng nỏ, là thứ một người miền núi như anh ta biết từ nhỏ, còn bạn tôi thì chưa nhìn thấy bao giờ. Tại sao không tổ chức thi … trượt băng (bạn tôi vô địch trẻ Liên Xô năm 1956 và là kiện tướng thể thao), còn người Ê đê chưa nhìn thấy băng tuyết lần nào trong đời. Kẻ thách đấu hóa ra là một người đa mưu và khảng khái, anh ta hiểu hết và đề nghị thay đổi vũ khí. “Nào…ta trao đổi, - anh nói. – Các anh hãy mang vợ tôi đi đi, nhưng là mang đi hẳn, đổi lại cho tôi là …” và đưa ra một danh sách hàng hóa vật dụng dài. Chúng tôi chẳng có nơi nào để đưa cô gái Ê đê đang khóc lóc kia đi, hàng hóa theo danh sách cũng không có… Chúng tôi thua “keo” này. – Thế thì phải hứa không gặp vợ tôi nữa, ngay cả khi cô ấy tự đến, - đức lang quân tìm được giải pháp thỏa hiệp. Và rồi chúng tôi giải quyết như thế. Người ta kể lại rằng anh chồng vào Nam ra trận, chiến đấu dũng cảm và hy sinh. Người vợ vẫn thủy chung với anh ấy, mỗi khi có điều kiện, chị đều gửi tin cho cựu vô địch Liên Xô môn trượt băng, nhưng không hẹn gặp. Cả anh cũng thế. Mối tình chiến đấu có thể như thế. Một “bạn gái chiến đấu” khác mang thai, và phá thai ở một thầy lang Hà Nội nhưng bị nhiễm trùng. Sốt cao đến 40 độ. Cô cầu cứu và khi đến được nhà người bạn Liên Xô của mình thì ngất đi. Phải làm gì bây giờ? Các bác sĩ quân y chúng ta đều đi công tác hết, không có ai để nhờ cậy nữa. Ở bất cứ bệnh viện Việt Nam nào thì một phụ nữ trẻ đều buộc phải trải qua cuộc “chất vấn ngoài y học”, mà cô thì không muốn thế. Sức lực đang rời bỏ “Hoa”. Thêm một ngày nữa, người khác có thể “khủng hoảng”. Anh “Liên Xô” hiểu tất cả, anh biết mình mạo hiểm cái gì đã liều và luôn ở bên cô gái. Sau đó chợt nhớ đến một người bạn tin cậy là nhà văn Việt Nam, tìm đến và tin tưởng kể hết bí mật với ông. Hoa đã được cứu sống. Chúng ta sẽ không khám phá những chi tiết của việc cứu chữa nhưng cho đến tận bây giờ tôi vẫn hãnh diện vì anh “Liên Xô” này. Sống ở nước Nga xa xôi, đã ba mươi năm anh không gặp Hoa nhưng biết tất cả về Hoa - mẹ của ba đứa con, người phụ nữ cao thượng hào hiệp ở Hà Nội. |
…Người Mỹ ở Sài Gòn lại khác hẳn: khi hết nhiệm kỳ và trở vê Mỹ, cho dù là chuyên gia, quân nhân hay tình báo, họ bàn giao người tình cho người thừa kế và cứ tiếp tục như vậy. Nếu có con thì “bàn giao” luôn cả con. Ở Sài Gòn nhiều người đều biết chuyện một phụ nữ Việt xinh đẹp có bảy đứa con với bảy người Mỹ và sống đàng hoàng đến mùa xuân năm 1975, khi người Mỹ rút hết khỏi miền Nam Việt Nam.
Có thể chuyện này nghe đơn giản đến trơ trẽn, nhưng đúng là như vậy đấy. Cô ta không hiểu, hay là ngược lại, hiểu hết nhưng không thấy nhục nhã. Người Mỹ, trẻ, khỏe đều đeo cây thánh giá tình yêu và “gia đình” của mình… Còn chúng tôi ở Hà Nội, với quy tắc đạo đức quá nguyên tắc chi li của Ban chấp hành trung ương Đảng Công sản Liên Xô, với những nguyên tắc được “chủ nghĩa xã hội kiểu Kremli” trang bị đầy đủ của chúng ta thì công khai quan hệ và “kế thừa” là không thể. Và không hề có chuyện đó. Thế có chuyện phái yếu của giới tội phạm Hà Nội dưới vỏ bọc “bạn gái chiến đấu” khoắng chúng tôi không? Trong giới ngoại giao, báo chí, quân nhân thì không. Trong những quan hệ tình cờ thì vô khối. Bao nhiêu quý ông không quần, không ví, không đồng hồ, không áo, không giầy trở về Kim Liên? Không có thống kê. Tất cả kết thúc vui vẻ và buồn cười: “Không nghĩ, không biết, tôi lạc vào đây thôi. Giá mà biết thì…, đã học địa lý…” (lời của V. Kuplevakhski), cánh chuyên gia quân sự vừa hát vừa cười. - Thế các “bạn gái chiến đấu” thuộc tầng lớp nào trong xã hội? - Những chữ “nhân tình”, “gái bao” hay tương tự thế là xúc phạm họ. Những từ ấy không xứng đáng với chúng ta, không xứng đáng với họ. Đó là tuyệt tác dũng cảm, gan dạ đặc biệt cao thượng. Gọi là gì đi nữa thì vẫn chưa đầy đủ đối với họ. Đó là một cái gì đó thật đặc biệt. Thông thường đó là các cô gái từ các gia đình danh tiếng, khá giả theo kiểu Việt Nam, kiểu Đông Dương (kể cả con gái của các cán bộ chủ chốt của Đảng và các tổ chức quần chúng Việt Nam và Lào), từ các dòng họ vua chúa. Nhiều người trong số họ đã có đủ mọi thứ, họ chỉ cần thêm “Liên Xô” với thế giới tình cảm, quan điểm, nhân hậu của chúng ta mà thôi… Đêm khuya tôi mới từ biệt các bạn ra về. Trên cao những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời Hà Nội. Trên phố Bà Triệu đèn đã tắt hết. Thành phố đã chợp mắt. Có lẽ cửa số nhà Liên và Thập cũng đã tối đèn, những ô cửa sổ một gia đình mới... Họ đã buông màn...Giấc ngủ thời chiến thật ngắn ngủi. |
Ngày thứ tám, mùng 7 tháng 11. Truyền thống sinh động
Chiều tối trời Hà Nội nổi một cơn lốc khan. Gió rít từng hồi trên những ngọn cây um tùm, bẻ gãy cành cây, khi rơi xuống chúng mắc vào giàn lưới ngụy trang tên lửa và pháo cao xạ. Chân trời đỏ rực tựa như vừa mới có một trận bom ném xuống gần đó làm những đám mây cháy bừng lên vậy. Đến sáng thì cơn lốc đã lặng. Những đám mây trên trời tản ra về tứ phía. Những người mặc áo ngụy trang, lưng đeo súng trường đang trồng hoa trong công viên Thống Nhất, hoa hồng, hoa cúc. Khoảng hai tháng nữa, công viên sẽ được phủ một tấm thảm đẹp như tranh. Những nụ hồng tươi rói nở quanh miệng bê tông hầm trú ẩn cá nhân. Hoa và màu xanh mềm mại của công viên thể hiện lòng dũng cảm bình tĩnh của thủ đô Việt Nam. Một cô gái mơ mộng, bằng những động tác duyên dáng của một nghệ sĩ chèo, đang bày những bó lay ơn và mẫu đơn vừa mới cắt trong vườn ra quầy một cửa hàng bán hoa bên đền Ngọc Sơn. Trên phố Huế, ở khu công nghiệp Cao Xà Lá, trên cầu Long Biên, trong làng Phúc Xá bị bom đạn tàn phá, ở ngoại ô Hà Nội mọi người nói chuyện vui vẻ, những chàng trai, cô gái Hà Nội mải miết guồng chân trên những chiếc xe đạp không mệt mỏi. Họ vội vã đi làm, cứ như là chưa hề có trận ném bom hôm qua. Người Hà Nội cũng đẹp và nên thơ như hoa Hà Nội vậy. Và cũng có thể, không phải bỗng dưng mà ở Việt nam người ta lấy tên hoa đặt tên cho người. Không lẽ một lúc nào đó có thể quên được những con người này? Này là cô y tá Cúc, tên cô nghĩa là hoa cúc. Vẫn hoàn toàn còn là một cô bé với mái tóc đen dài, cô vừa băng vết thương vừa dỗ dành dịu dàng: “Anh cố chịu đựng nhé...”. Hay cô Hoa điều khiển giao thông, hướng dẫn xe cộ trên đường Cổ Ngư giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch, tên cô nghĩa là một bông hoa. Người Hà Nội thuộc loại có tư chất đặc biệt nào đó: dũng cảm, năng động, điềm tĩnh, rất lạc quan, nhân ái. Ở mọi ngóc ngách của Việt Nam không hiếm khi tôi được nghe câu nói đầy hãnh diện: anh ấy người Hà Nội đấy. Có lẽ ở Việt Nam câu này là khẩu lệnh, là sự đánh giá cao nhất phẩm chất con người và phẩm chất chiến sĩ của anh bộ đội. |
Nhiều lần tôi để ý rằng người Hà Nội không bộc lộ là họ dũng cảm đến đâu. Tôi còn nhớ gương mặt một người lái xe. Lúc đó tôi chưa kịp hỏi tên anh. Một chiếc máy bay Mỹ bị tên lửa bắn rơi khi ném bom Hà Nội, nó rơi xuống giữa trung tâm thành phố, bên cạnh chiếc xe chở xăng, cách quảng trường Ba Đình khoảng hai trăm mét, gần khu ngoại giao, ngay phía sau Đại sứ quán Liên Xô. Hôm đó là chủ nhật. Chúng tôi tụ tập nấu ăn trong sân nhà Georgi Pesherikov và Alecsandr Petrov đang ở. Chợt thấy chuyện này...
- Xuống hầm ngay! Nó nổ bây giờ! – Người lái xe kêu lên rồi trong chớp mắt nhảy lên cầm lái chiếc xe bồn. Một khoảnh khắc giữa cái sống và cái chết. Nhưng con người đã vượt qua khoảnh khắc ấy. Anh đã đưa chiếc xe bồn ra khỏi đống xác máy bay Mỹ đang bốc cháy, cứu tài sản của dân, cứu hàng chục sinh mạng người Hà Nội và chắc chắn là cả mấy nhà ngoại giao, nhà báo nữa. Cũng ngay tối hôm đó tôi lại gặp người lái xe này bên hồ Hoàn Kiếm, anh đang mua tặng mẹ những bông hoa đỏ thắm. Tổng giám đốc công ty nhà nước XUNHASABA, đơn vị tổ chức triển lãm kể rằng có 1500 người đã thăm quan triển lãm Liên Xô, Trong hoàn cảnh thời chiến triển lãm mở cửa sáng sớm và chiều tối. Ngày mùng 7 tháng 11 tại hội trường Quốc hội VNDCCH diễn ra cuộc mít tinh có toàn bộ các thành viên chính phủ đến dự và tôi đã vinh dự lần cuối cùng được bắt tay Chủ tịch Hồ Chí Minh. Về sau Chủ tịch ốm rất lâu và tất cả các cơ quan tình báo, sứ quán và cánh nhà báo đều cùng rất quan tâm một câu hỏi: “Sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh thế nào?” Vì lý do nào đó mà đối với tất cả mọi người đó là vấn đề “chính sách”. Người ta nói rằng nếu Bác Hồ không khỏe lại thì sẽ có thay đổi gì đó. Trong đường lối của VNDCCH không có gì thay đổi. Sau năm 1969 người Việt Nam đã hoàn thành mọi việc mà không hề xa rời Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. |
Có lẽ mọi người đã biết rõ về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có nhiều nguồn tài liệu kể về thời thơ ấu và thời niên thiếu của Người, nhưng tôi thích nhất bài của Mai Loan được đăng trong ấn phẩm “Sông Hồng” của Hà Nội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh năm 1890 ở làng Kim Liên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ Tĩnh, cách Hà Nội gần ba trăm km về phía nam. Đây là vùng nằm giữa dãy núi Trường Sơn và Biển Đông với những dải bình nguyên dọc theo các con sông chảy ngang nước Việt Nam từ tây sang đông với bờ biển dài 250 kilomet và những cánh rừng che phủ hơn một nửa diện tích của tỉnh. Từ xa xưa vùng này thường xuyên là mục tiêu tấn công và cướp bóc của bọn thổ phỉ. Cuộc sống vất vả đầy hiểm nguy đã rèn luyện con người nơi đây trở thành người dũng cảm, dẻo dai, có tình bằng hữu và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau. Ngay từ đầu thế kỷ XV Nghệ Tĩnh (?) đã là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Lê Lợi chống lại quân xâm lược nhà Minh ở phương Bắc. Quân khởi nghĩa đã xây dựng lực lượng của mình ở đây và từ đây đi chiến đấu giải phóng đất nước. Cuối thế kỷ XVIII, người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã đặt trạm dừng chân ở Nghệ Tĩnh trước khi tiến quân ra giải phóng đất Bắc. Ở đây ông đã bổ sung quân đội lên đến hơn 50 nghìn người và chỉ huy cuộc tấn công thần tốc vào thành Thăng Long (nay là Hà Nội) tiêu diệt quân xâm lược nhà Thanh. Hồ Chí Minh (tên thật là Nguyễn Sinh Cung) xuất thân trong một gia đình không khá giả. Người cha là Nguyễn Sinh Sắc là người theo học Nho giáo, đã đỗ phó bảng. Năm 1894 người cha đỗ cử nhân, tháng hai năm sau ông được mời làm quan triều Nguyễn. Sau khi để lại người con gái lớn cho người thân bên vợ nuôi dưỡng, vợ chồng ông cùng hai người con trai là Khiêm và Cung đi vào kinh thành Huế. Thời đó ở Việt Nam chưa có tàu hỏa, do vậy họ phải đi bộ vượt qua chặng đường hơn 300 kilomet. Họ đã đi qua nhiều làng quê, phố thị, đã phải vượt núi băng sông. Ngày nào cũng phải thay những đôi dép mo cau nát bươm. Chặng đường này đã nuôi dưỡng óc quan sát của cậu bé ham hiểu biết. |
Vừa đến Huế ông Nguyễn Sinh Sắc liền đi tìm một căn nhà thích hợp cho gia đình. Tiền không có nhiều, tìm một nơi vừa ý mà không đắt quả thật không dễ. May mà ông gặp người bạn thuở thiếu thời, người này giới thiệu cho ông một ngôi nhà gần chợ. Ông Sắc rất thích ngôi nhà: giá tiền không cao lắm.
Người cha giữ một chức quan nhỏ. Thời ấy quan lại được trả lương rất thấp, để được sống no nê và phóng đãng, họ đã vô lương tâm sách nhiễu dân đen. Ông Sắc không làm như thế, vì vậy số tiền mang theo từ quê nhà mau chóng cạn kiệt. Để sống được qua ngày cần phải tìm cách kiếm thêm tiền. Lúc việc quan rỗi rãi, ông tranh thủ làm việc chép lại văn khố và dạy học. Đến lúc này cậu Cung bắt đầu học chữ, nhưng phần lớn thời gian cậu cùng người anh lang thang khắp phố, bắt bướm trong vườn hoàng gia, đào dế dưới tường thành hay chạy đến bãi quần ngựa gần thành để xem người ta dạy voi ngựa đi trong đám rước. Một người bạn của cậu, con nhà giàu, có con ngựa non lông hồng rất đẹp. Mấy anh em thay nhau cưỡi nó. Mùa nước, các cậu đóng một cái bè bằng thân chuối, chống sào và bắt đầu những chuyến “viễn dương”. Một lần đi ngang qua cổng thành, Cung liếc vào và thấy một cung điện sơn son thiếp vàng. Cậu rủ anh vào xem, “Em nói gì, - người anh sợ hãi đáp lại, - đó là nơi vua ở đấy. Dân thường không vào được đâu”. Ý nghĩ vua là ai, ông ta khác người thường chỗ nào, nếu chưa được gặp vua cứ làm Cung băn khoăn mãi. Cậu hỏi anh: “Có sao đâu, vua cũng là người thôi mà”? Anh Khiêm không thể trả lời hết mọi câu hỏi của em. Suy nghĩ của Cung cứ quanh quẩn mãi về ông vua kỳ lạ này cho đến khi một lần cậu được tận mắt nhìn thấy vua. Một ngày nọ có những anh lính ăn mặc rất đẹp chân cuốn xà cạp vàng đứng thành hai hàng. Trống đánh liên hồi, kèn thổi inh tai, gió thổi những lá cờ đuôi nheo bay phần phật. Người mõ tuyên cáo cho dân chúng: “Đức Vua đi dạo ở Tuy Van”. Hai anh em Khiêm Cung cùng dám trẻ con chạy từ chợ lên phố để ngắm “Đức Vua”. Đàn voi ngựa đã được huấn luyện phủ gấm vóc, mặc áo thêu đường bệ đi ra từ cổng Ngọ Môn của Cấm Cung. Theo sau là một cái kiệu thếp vàng cùng nhiều người vác những cái lọng đỏ tươi. Cung không rời mắt khỏi chiếc kiệu có khảm ngà voi được che bằng một cái lọng vàng. Có đến vài chục người khênh kiệu. Trong kiệu là một người ngồi bất động, gương mặt làm ra vẻ nghiêm nghị, đầu đội khăn vàng, không khác gì một pho tượng. Mọi người xung quanh thì thầm: “Đức Vua Thành Thái”. Nhưng không một ai dám nước mắt lên nhìn vua. Câu hỏi cứ ám ảnh Cung cuối cùng đã được giải đáp. Hóa ra vua là người như thế, cũng như mọi người thôi. Buổi tối trở về nhà cậu hỏi mẹ: |
– Mẹ ơi, sao vua lại ngồi trong kiệu để người ta khênh? Ông ta làm sao, đau chân à? Câu hỏi của đứa con làm người mẹ bật cười nhưng đồng thời cũng làm bà lo ngại:
- Không đâu con ơi, ông ấy không đau chân gì đâu. Đã quy định vậy rồi, vua đi là phải ngồi kiệu .[112] - Thế sao cha không đội khăn vàng? Như thế đẹp mà? - Chỉ vua mới được đội khăn vàng con ạ, - người mẹ giải thích. Nhưng tất cả những điều đó càng làm cho cậu Cung bé nhỏ thấy lạ lùng. - Thế tại sao quân lính của ông ta lại quấn xà cạp vàng? Họ không sợ vua hay sao? – Cung không chịu. Không phải lúc nào mẹ cũng giải đáp được những thắc mắc bất ngờ của con trai. Cung rất yêu mẹ. Khi bà ốm rồi mất, cậu đã phải rất chật vật vượt qua nỗi đau quá lớn. Đúng vào ngày hôm đó trong cung vua có một nghi lễ nào đó. Theo lệnh vua, những người ở gần cung vua bị nghiêm cấm khóc. Nghe thấy tiếng khóc của Cung, một người hàng xóm vội lấy tay bịt miệng cậu lại. - Thôi ngay! Im ngay! Đây ở gần cung vua mà cháu cứ rống lên như ở ngoài chợ ấy à? Nhưng Cung không thể kìm được tiếng nức nở. Và có thể cậu là người đầu tiên phạm phải sắc lệnh hà khắc của nhà vua. Mất mát quá lớn làm cha Cung buồn bã tuyệt vọng. Cụ đã từng có thể làm tri huyện, nhưng cụ vốn không ham tước vị cao, hơn nữa do gia cảnh tha hương, ông Nguyễn Sinh Sắc từ chối mọi lời mời làm quan và trở về quê ở Kim Liên. Từ đó Cung đổi tên khác là Nguyễn Tất Thành, cậu vừa đầy mười một tuổi. Năm 1901 đi qua, hai năm sau nữa người cha lại trở vào Huế. Thành đi học trong trường Việt-Pháp lớn nhất ở An Nam. Trong trường, ngoài bốn lớp sơ học và hai lớp bậc tú tài còn có một chương trình nâng cao kiến thức. Chương trình học gồm có toán học, tự nhiên học, lịch sử, hội họa nhưng môn chính là dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và ngược lại. Tiếng Hán vẫn chưa bị loại bỏ hoàn toàn khỏi chương trình học và Thành đã giành nhiều thành tích trong học tập. |
Thời gian đầu, so với những đứa trẻ ở Huế, Khiêm và Thành chỉ là học sinh trung bình về môn tiếng Pháp, nhưng trong môn tiếng Hán họ lại không có ai sánh bằng.
Trong những năm đó kinh đô Huế thay đổi diện mạo nhanh chóng. Ở kinh thành người ta xây dựng một cây cầu lớn, bắt đầu có đoàn tàu hỏa đầu tiên, ban đầu chạy đến Đà Nẵng và một năm sau đó chạy đến Đông Hà. Xuất hiện ngày càng nhiều người Pháp và cùng họ là sự xa hoa hào nhoáng. Dân chúng nghèo khổ cùng cực nhưng chi tiêu để nuôi dưỡng cung điện xa xỉ của nhà vua lại tăng lên mỗi ngày. Bọn quan lại không chịu thua kém tầng lớp tư sản đang hình thành về sự giàu có, chúng tham nhũng ngày càng lộ liễu. Chưa có tên gọi “người Việt mới” nhưng đã có chữ nouveau riche (người mới giàu) nghe đầy tôn kính. Nó không phù hợp với Thành, Khiêm và nhiều người khác. Năm 1911, sau khi rời nhà trường, Thành đi vào Sài Gòn, ở đó mới mở một trường kỹ thuật với khóa học ba năm. Nó đào tạo công nhân đóng tàu cho nhà máy Ba Son. Thành vào học ở trường này. Chàng thanh niên vào Sài Gòn với ước mơ trở thành công nhân “điều khiển máy móc”. Với nghề nghiệp thì mọi sự đã rõ, nhưng làm thế nào để giành được tự do? Và Thành quyết định đi tìm tự do ở nước ngoài. Trưa ngày 2 tháng sáu năm 1911 Thàng đến bến Nhà Rồng, nơi có một con tàu từ Turan (nay là Đà Nẵng) ghé vào. Đó là con tàu “Latouche Tréville” của công ty hàng hải “Năm sao”. Thành lên tàu xin vào làm việc. Nhìn chàng thanh niên có bộ dạng gầy gò, thuyền trưởng không tin anh có khả năng làm được những công việc chân tay nặng nhọc, nhưng chợt nhớ một chân phụ việc trong nhà bếp còn trống, ông liền hẹn chàng trai hôm khác lại đến. Vậy là Thành đã lên con tàu thủy Pháp sau khi lấy tên là Văn Ba. …Nhà bếp phục vụ cho bảy tám trăm người là thủy thủ đoàn và hành khách. Vì thế chàng trai nhỏ nhắn không có một phút nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng lại nghe thấy: - Ba, mang nước lại đây! - Ba, rửa nồi! - Ba, xúc than! Công việc trong bếp thường kết thúc vào chín giờ tối. Đến lúc đó thì Ba đã hoàn toàn kiệt sức. Tuy thế nhưng khi một số người đi ngủ, một số đánh bài thì Ba lại đọc sách hay viết gì đó. Anh giúp những người bạn không biết chữ viết thư về nhà. Anh luôn lễ phép và sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Một lần Ba suýt chết đuối. Mặt biển bỗng nổi lên một cơn bão. Sóng biển trùm lên cơ thể nhỏ nhắn của cậu bé và cuốn cậu khỏi boong tàu. Anh thoát được nhờ một sự kỳ diệu, vào khoảnh khắc cuối cùng anh đã kịp túm được sợi dây chão… |
Trong số khách đi tàu có hai người lính Pháp trẻ, họ mới được giải ngũ và đang trở về quê hương. Họ đã kết bạn với Ba.
- Mai biết không, - Ba nói với người bạn Việt Nam của mình, - hóa ra trong số người Pháp cũng có những người rất tốt… Khi tàu đến Marseille họ mới phát tiền công cho mọi người. Tiền công của nhân viên người Việt Nam khoảng chừng một hai trăm phrăng. Người phụ bếp Ba chỉ được mười phrăng. Nhưng từng ấy thôi cũng làm anh vui rồi. Chuyến đi đã mang lại cho anh nhiều điều thú vị. Ở Marseille tàu điện làm cho anh ngạc nhiên. Đây là lần đầu tiên anh nhìn thấy “ngôi nhà biết đi” này. Mọi thứ đều làm anh chú ý, có vẻ như mọi thứ đều mới lạ. Ba thường nói: “Lần đầu trên đời tôi thấy cái này…” Sau giờ làm việc, anh thay quần áo và đến một quán cà phê trên phố, theo anh phát âm là Cannebier. Đây là quán cà phê Pháp đầu tiên mà anh đến. Ở đây Ba để ý thấy người Pháp ở nhà, ở quê hương cư xử tốt hơn, lịch sự hơn so với ở Đông Dương. Sau đó anh ở Le Havre, nơi con tàu dừng lại sửa chữa. Mọi người chuyển sang con tàu khác sắp đi Đông Dương. Nhưng Ba không muốn trở về. Thuyền trưởng bèn đưa anh ấy về nhà mình và từ đó tôi không biết tin tức gì về Ba nữa… Các thuyền viên khi ấy sao có thể nghĩ được là chàng trai nhỏ nhắn, sáng dạ, yêu lao động ấy nhiều năm sau lại là người đứng đầu chính phủ, là người khai sinh một quốc gia độc lập ở Đông Nam Á, người sáng lập quân đội, hạm đội, mọi lực lượng của quốc gia ấy. Tóm lại, - Hồ Chí Minh là “hồ nước có chí khí trong sáng”… Nhưng chuyện đó phải hơn 30 năm sau mới diễn ra… |
Ngày thứ chín, 31 tháng 12 năm 1967. Trái tim nóng bỏng của Ngọc
Họ mang hoa đến tặng tôi, những bông hoa đủ màu: đỏ, trắng, xanh trong bình hoa trên ban công. Gió nhè nhẹ thổi vào phòng lay động rung rinh những cánh hoa tuyệt đẹp. Tôi rời khách sạn Thống Nhất đi ra phố phường Hà Nội. Tôi yêu thành phố này, thành phố hoa, thành phố của hầm hào. …Cách thủ đô Việt nam vài km, dưới bóng những cây đa cây nhãn cao lớn, giữa những quả đồi và khóm tre lúp xúp rải rác mấy cái nhà của một làng quê nhỏ. Đây rồi, ngoài rìa làng có hai ngôi mộ. Một ngôi dưới cây đa – loài cây trăm tuổi, ngôi kia dưới cây nhãn, nghĩa là “mắt rồng”. Hai ngôi mộ này là kết cục bi thương của hai sinh mạng: một người đã dâng hiến đời mình cho dân tộc, trở thành tấm gương cho nhiều người. Ngôi mộ kia là của tên phi công Mỹ đã gieo rắc cái chết trên mảnh đất Việt Nam. Bên hai ngôi mộ này tôi được dân địa phương kể cho nghe câu chuyện sau đây. Chuyện ấy xảy ra vào một buổi sáng mùa hè nóng nực năm 1967, -một bác nông dân đứng tuổi tên Khoai kể với tôi. Báo động phòng không. Một tốp máy bay F-105 Mỹ bay gần Hà Nội. Chúng nối đuôi nhau bổ nhào xuống một vùng quê hiền hòa, ném bom xuống nhà dân, đồng lúa, bờ đê, đường sá. Mặt đất rung lên vì bom đạn. Dù bị thương nhưng không chịu khuất phục, dù bị lưỡi lửa tham lam bao trùm, mặt đất vẫn kiên cường đánh trả. Các chiến sĩ pháo cao xạ và dân quân tự vệ không rời trận địa. Bỗng trên trời bùng lên một bông hoa lửa vàng rực, chớp mắt sau từ trong đó chui ra một chiếc máy bay Mỹ với những cuộn khói đen. Tên phi công đã kịp nhảy dù. Các chiến sĩ đội tự vệ triển khai vây bắt tên phi công, trong đội có cô gái 18 tuổi Lã Thị Ngọc, nghĩa là “Viên ngọc trai”, người cùng làng gọi cô bằng một cái tên dịu dàng làm sao. Tên phi công Mỹ rơi vào một bụi duối, sau khi tháo dù hắn đã kịp đốt bản đồ và những tài liệu quân sự khác. Ngọc là người đầu tiên phát hiện tên địch. “Không được, không đời nào cho nó kịp đốt bản đồ, có thể trong bản đồ có mục tiêu sẽ ném bom”, - một ý nghĩ vụt qua. Nếu kịp báo cho mọi người nơi sẽ bị ném bom nghĩa là sẽ cứu được hàng chục, có khi hàng trăm người. - Giơ tay lên! Ngọc hô lớn. Bên sườn tên phi công lộ ra một nòng súng ngắn. Nhưng lúc ấy Ngọc thấy đống lửa nhỏ tên phi công nhóm lên đang gặm nhấm tấm bản đồ quý giá có đánh dấu những mục tiêu ném bom. Quên mất mối nguy hiểm, không kịp tước vũ khí tên địch, cô gái nhảy bổ đến đống lửa. Sự bất cẩn thật là nguy hại. Tên phi công rút súng bắn cả một băng đạn vào lưng Ngọc. “Viên ngọc” đã ngã xuống nhưng cô đã kịp giành lấy tấm bản đổ khỏi ngọn lửa đang cháy. |
Mấy phút sau, các chiến sĩ dân quân đã bắt tên phi công làm tù binh, hắn không kịp hủy bản đồ. Tuy đã hy sinh rồi nhưng Ngọc vẫn cứu được nhiều người khác. Cô được chôn cất ở ngay rìa làng. Một loạt súng tiễn biệt vang lên bên ngôi mộ còn tươi màu đất của cô gái – chiến sĩ. Ngay bây giờ hầu như ngày nào cũng có người đến đây, đến nấm đất nhỏ của Ngọc để cẩn thận đặt lên đó những bó hoa đỏ thắm. Và tôi cũng đặt lên nấm đất nhỏ của Ngọc bó hoa đỏ thắm, đỏ như trái tim của Ngọc...
Nhưng ở cái làng gần Hà Nội này còn có một ngôi mộ khác. Hình như chuyện này xảy ra vào tháng 8 năm 1967. Cái nắng nóng bỏng đang thiêu đốt những quả đồi xanh um. Sau khi ném bom Hà Nội, một tốp bốn chiếc máy bay ném bom Mỹ đang trở về tàu sân bay Hạm đội 7. Chúng bay tít cao trên bầu trời xanh, chắc là chúng đang thích thú tận hưởng cảm giác khoan khoái vì hành động ăn cướp của chúng không bị trừng phạt. Nhưng bất ngờ chúng rơi vào vùng hỏa lực của phòng không Việt Nam. Quả tên lửa bắn trúng một chiếc máy bay. Nó lao xuống đất như một bó đuốc, cách mộ Ngọc không xa. Tên phi công bị thương nặng James Foster vẫn kịp nhảy dù. Sau khi rơi vào khu vực làng, hắn dùng điện đài phát tín hiệu gọi máy bay đến cứu. Một lúc sau một tốp máy bay Mỹ khác kéo đến vùng này, chắc là chúng đã nhận được tín hiệu cầu cứu. Thế là bắt đầu một trận bom ác liệt xuống khắp khu vực này. Foster nằm dưới đất đơn độc đối mặt với cái chết. Hắn đã bay ném bom xuống nước Việt Nam dân chủ không chỉ một lần. Nhiều lần dưới bụng máy bay hắn đã nhả ra những con rắn lửa mang theo chết chóc, bung ra hàng khối bom đạn. Chính xác như những gì đang diễn ra lúc này. Phi công bao giờ cũng nhìn mặt đất từ trên cao. Bây giờ hắn nhìn theo máy bay từ mặt đất. Trước đây bom nổ cách hắn rất xa, không hề đe dọa tính mạng hắn. Những cột khói đen, những cột bụi dựng đứng sau tiếng nổ, những công trình đổ nát, thậm chí cả mạng người, với hắn chỉ là mục tiêu bị tiêu bị đánh trúng. Giống như trên thao trường huấn luyện vậy. Giờ thì bản thân Forter phải chịu đòn của chính quân mình – không quân Mỹ. Phi công bị hạ trên không tìm cái kết trên mặt đất. Nhưng trước cái chết là nỗi khiếp sợ. Sợ khủng khiếp. Nỗi sợ ra lệnh, bắt Foster phải bò đi. Từng phút, từng giờ... tìm nơi trú ẩn, tìm mọi người, mặc kệ những người đó chỉ một giờ trước hắn coi là kẻ thù. Giờ thì hắn sẵn sàng cầu nguyện sự giúp đỡ của họ. Sống bằng bất kỳ giá nào, chỉ cần được sống! Foster bò ra khỏi vùng ném bom vào làng đầu hàng để làm tù binh. Bác sĩ Thu đã cứu chữa cho hắn, Anh rửa vết thương và băng bó lại. Nhưng đó là vết thương chết người. Khi dân quân cáng hắn về làng, hắn đã xin Thu gọi cho hắn một mục sư để xưng tội. Trong làng không có linh mục. Người bác sĩ Việt Nam đã tiếp nhận lời xưng tội của tên phi công Mỹ đang hấp hối. Trước mắt Foster hiện lên New York, tuổi thơ, cha mẹ… như một áo ảnh viễn tưởng. Có lẽ trước cái chết nhận thức đã tỉnh lại trong con người. Trong lúc hấp hối, Foster dùng chút sức lực cuối cùng nắm tay người bác sĩ Việt Nam thều thào: “Chiến tranh này đáng nguyền rủa!” |
Bọn cướp biển và tàu “Turkestan”
… Tỉnh Quảng Ninh, vùng Cẩm Phả. “Ngày 2 tháng 6 năm 1967, 15 giờ 32 phút. Báo động phòng không. Cả đội đành phải nấp trong phòng. 15 giờ 40 phút. Bốn chiếc máy bay phản lực siêu âm Mỹ từ phía trước bay thẳng về con tàu. Hai chiếc lấy được độ cao liền bay vọt qua trên tàu. Cùng lúc ấy hai chiếc khác bay chéo góc và bổ nhào xuống tàu Turkestan. Một quả bom từ chiếc bên phải rơi xuống cách tàu một trăm mét. Sau đó cả hai chiếc máy bay bắn đạn phản lực vào con tàu, chủ yếu chúng ngắm vào phần thân tàu phía trên”. Những dòng này do N. Marienco trợ lý thứ hai của thuyền trưởng tàu Turkestan ghi lại, tôi đọc trong sổ nhật ký tàu. Chúng được ghi vào đây vài phút sau khi một thảm họa xảy ra ngày 2 tháng 6 năm 1967 trên bến cảng Cẩm Phả Việt Nam. …Lúc này đang là đêm rất khuya nhiệt đới tối đen. Con tàu thủy Liên Xô Turkestan với những ngọn lửa vừa dập tắt đang đỗ ở bến chính của hải cảng. Đội thủy thủ đang ngủ. Đó là một ngày vất vả, vất vả đến khó tin. Ngày đó đã cướp đi sinh mạng của một trong những người xô viết. Trong lúc đánh phá, thợ cơ điện Nicolai Nikitich Rưbachuk đã bị thương nặng trong buồng ngủ của mình. Anh ấy đã ra đi sau bốn giờ bị ngất. Buồng ngủ của Rưbachuk. Trên đồng hồ hàng hải treo tường là 3 giờ 15 phút. Đồng hồ không dừng lại mặc dầu cuộc đời người chủ của nó đã dừng lại. Có lẽ quả đạn 20 milimet nổ vả bật nẩy khỏi lớp kim loại bọc cửa buồng và làm tử thương người thủy thủ. Chiếc áo đen thủy thủ bị mảnh vỡ đâm thủng lỗ chỗ vắt trên ghế… Tôi đi khắp con tàu. Buồng lái. Rất nhiều lỗ thủng và mảnh vỡ. Máy móc bị hỏng. Cầu trên nóc tàu bị hỏng. Thân xuồng cứu hộ cũng bị thủng. Cửa sổ cửa ra vào nhiều buồng bị vỡ, nhiều phòng ở bị hư hỏng. Chỉ có phòng ở. Máy bay mang phù hiệu của hải quân Mỹ đã bắn rất có chủ đích. - Không còn nghi ngờ gì nữa, - thuyền trưởng tàu Turkestan V.V. Sokolov nói như để khẳng định những suy nghĩ của tôi. Máy bay chỉ nhằm bắn vào phòng người ở. Không thể nào coi cuộc tấn công là ngẫu nhiên. Tàu treo cờ Liên Xô thả neo trong cảng Cẩm Phả. Bên cạnh không có con tàu nào. Thời tiết tốt, tầm nhìn trên biển là mười dặm. -Tàu chúng tôi tới cảng Cẩm Phả với mục đích hòa bình: bốc than Hòn Gai lên và chở sang Nhật Bản. Hay nói khác đi là để giúp nước VNDCCH thực hiện quan hệ kinh tế - thương mại của họ. |
Năm 1967 tàu Turkestan đã ba lần ghé vào cảng của Việt Nam. Lần cập cảng ngày 2 tháng 6 là chuyến đi thường lệ…
- Đội thủy thủ con tàu - thuyền trưởng nói tiếp, - không bao giờ quên được ngày này. Chúng tôi đã bị cướp đi một người bạn tốt là Nicolai Rưbachuk. Sáu thủy thủ khác bị thương. Thợ máy Ivan Zemtsov bị thương nặng vào bụng. Cậu ấy mới lên tàu làm việc… Zemtsov được đưa vào bệnh viện ở Hà Nội. Ca phẫu thuật của các bác sĩ Việt Nam làm đã cứu được mạng sống của anh. - Chúng tôi đã chứng kiến chúng bắn tàu “Turkestan”, giám đốc cảng Cẩm Phả bảo tôi, - Hành động khiêu khích này của bon quân phiệt Mỹ nhằm cản trở Liên Xô giúp đỡ đất nước chúng tôi. Thay mặt công nhân cảng Cẩm Phả, thợ mỏ Hòn Gai, thay mặt nhân dân Việt Nam, chúng tôi cảm ơn các thủy thủ xô viết vì lao động anh hùng của họ. Chúng tôi sẽ nhớ mãi đồng chí Nicolai Rưbachuk… Ngày 5 tháng 6, thủy thủ đoàn làm tang lễ, mặc niệm Rưbachuk. Con tàu treo cờ rủ rời cảng Cẩm Phả về Vladivostoc. Mọi nghi thức lãnh sự do bí thư thứ ba đại sứ quán Liên Xô, nhà ngoại giao, nhà tình báo Georgi Pesherikov tiến hành. Trên đường về Hà Nội xe ô tô của ông trúng một quả tên lửa. Georgi còn sống sót là nhờ một phép mầu. Nước Nga và Chúa che chở chúng ta mà… Mấy tháng sau tàu thủy Liên Xô Turkestan lại đến VNDCCH, ngay trong những năm 70, một con tàu khác của chúng ta lại rẽ sóng trên những vùng biển rộng lớn, tàu “Nicolai Rưbachuk”. |
Trích nhật ký. Cửa biển
Nếu như để đánh dấu điểm cực bắc và cực nam trên đất liền Việt Nam người ta thường nói: Cao Bằng và Cà Mau thì khi xác định bờ biển của nước cộng hòa này người ta lại nhắc đến những cái tên khác: Móng Cái và Hà Tiên. Bờ biển Việt Nam trải dài suốt hơn 3260 km giữa hai nơi này. Thiên nhiên ban tặng cho đất nước này hàng trăm vịnh đẹp như tranh và kín gió nhờ những vách đá. Có hàng nghìn dòng sông đổ về biển, ở cửa sông họ xây dựng những hải cảng thuận tiện có bến tàu, nhà kho, xưởng đóng tàu hiện đại. Hải Phòng và Cẩm Phả, Đà Nẵng và Cam Ranh, Nha Trang và những bến cảng của thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau đã giữ những vai trò khác nhau trong đời sống của dân tộc Việt Nam. Nhưng Hải Phòng, bến cảng lớn nhất ở miền Bắc Việt Nam, cửa biển chính của nước cộng hòa đã đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Từ nơi đây, những đơn vị cuối cùng của đội quân viễn chinh Pháp đã rút đi tháng 5 năm 1955. Cũng từ đây những con tàu của hạm đội non trẻ Việt Nam bắt đầu những chuyến đi biển đầu tiên. Hải quân nhân dân Việt Nam mở đầu trang sử chiến đấu vẻ vang của mình ở đây năm 1964. Trong những năm chiến tranh, cảng đã hoàn thành những nhiệm vụ phức tạp, nặng nề. Tàu của hải quân và đội tàu thương mại Việt Nam đã thực hiện nhiều chuyến đi nguy hiểm. Họ đã bảo vệ bờ biển, chuyên chở hàng hóa thiết yếu, súng đạn, thuốc men tới những nơi xa xôi nhất của đất nước. Ở phố Kim Mã Hà Nội, trong khu vực triển lãm tổ chức nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập nước VNCCH có một con tàu phóng ngư lôi của Hải Phòng được đặt trang trọng trên bệ. Con tàu này đã tham gia đánh trả những cuộc tập kích ăn cướp của Hạm đội 7 Mỹ, là một trong những con tàu đã tham gia sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Cùng với toàn dân tộc bảo vệ đất nước, các thủy thủ dân sự và chiến sĩ hải quân đã phải trải qua hơn 800 trận đánh với không quân địch, bắn rơi 118 máy bay các loại. (Tổng cộng trên vùng trời Hải Phòng đã có hơn 370 máy bay Mỹ bị bắn rơi) Hơn một nghìn quả thủy lôi do bọn xâm lược thả trong thời gian phong tỏa bờ biển miền Bắc Việt Nam đã bị các thủy thủ Việt Nam vô hiệu hóa để mở ra những con đường trên biển vào Hải Phòng và những hải cảng khác. Mùa xuân năm 1975 trong chiến dịch Hồ Chí Minh, các chiến sĩ hải quân đã tới quần đảo Trường Sa ngoài Biển Đông và dựng lên những lá cờ chiến thắng của Việt Nam . Có bao nhiêu người Liên Xô thường xuyên ở Hải Phòng trong những năm đầu chiến tranh? Tạm thời thì có đến hàng trăm. Ở thường xuyên liên tục thì chỉ có các đại diện Hàng hải Liên Xô, và, nói riêng, là Nicolai Ivanovich Kovalev, thượng tá hải quân, Georgi Popov và mấy người nữa. Họ không có hầm tránh bom. Họ làm việc ngoài bến tàu và không nghĩ đến nguy hiểm. |
“Mỗi người đều có bảo vật của mình. Mỗi thành phố lưu giữ biết bao sản vật. Hãy tìm đi, thậm chí ngay cả một làng nghèo nhất cũng sẽ trở nên đẹp đẽ trong mắt anh”, mọi người trên quần đảo Long Châu nói thế, đó là quần đảo nằm ngoài xa trong vịnh Bắc Bộ thuộc Hải Phòng.{3} Những người đi biển dũng cảm chạy thuyền buồm hay thuyền máy từ đảo tới những hải cảng lớn để chuyên chở từ đây cá tôm, một loại nước chấm nổi tiếng chế từ tôm: mắm tôm, công cụ, dược thảo – tất cả những gì mà hợp tác xã của họ khai thác và sản xuất... Và cứ như vậy suốt những năm chiến tranh, khi ấy họ phải vượt qua 25-30 km mặt biển giữa những bãi mìn.
Ở gần cảng Hải Phòng, tôi làm quen với một người dân quần đảo Long Châu. Ông lôi từ chiếc thuyền tam bản lên một chiếc xe đạp, lôi ra mấy cái giỏ nặng đậy lá chuối cẩn thận buộc lên giá đèo hàng. Thành thạo nhồi thuốc vào một cái ống tre chứa nước, một cái điếu ống. Tôi quẹt diêm châm lửa cho ông hút thuốc. Ông rít một hơi thật sâu, thổi ra một luồng khói rồi chìa cái ống điếu cho tôi. Đối với người đi biển cũng như nhiều người dân khác trên mảnh đất Việt Nam thì điếu cày là cái “ống kết bạn” độc đáo, là cái ống tạo thiện cảm với nhau. Chúng tôi hẹn với người đánh cá tối nay, sau ngày làm việc, lại gặp nhau ở đúng chỗ này, bên cạnh cảng. Người tôi mới quen hóa ra không chỉ là người đánh cá mà còn là người khai thác thảo dược dưới biển. Hôm nay anh phải đến gặp các dược sĩ Hải Phòng để nhận đơn hàng cho hợp tác xã của mình. Lương gò mình lên chiếc xe đạp già nua, sau vài giây đồng hồ thì cái lưng gù của anh đã lẫn vào dòng người đi xe đạp trên đường đôi Trần Hưng Đạo. Tôi đi ra hàng cây san sát bên nhà hát trung tâm thành phố, cách cảng không xa lắm. Tháng 12 năm 1972 một quả bom 250 kg đã rơi xuống đây, chính giữa trung tâm Hải Phòng. Hố bom đã được lấp từ lâu và chỗ ấy bây giờ là một vườn hoa. Những bông hoa đỏ, hoa tím vươn thẳng lên bầu trời. Một toán trẻ con mặc áo kẻ sọc xanh chạy vụt về phía mương nước. Chúng trèo lên một chiếc thuyền nhỏ rồi nhanh nhẹn giương buồm. Tôi bước đi trong những khu phố mới hồi sinh của Hải Phòng. Tôi sẽ không quên thành phố này, thành phố đang khoác bộ trang phục mặt trận khắc khổ. Chiến tranh từ vịnh Bắc Bộ đổ ập xuống Hải Phòng vào tháng 8 năm 1964. Quân xâm lược ném bom thành lũy ven biển của nước Việt Nam trong ba giai đoạn. Ban đầu các cuộc ném bom vào thành phố có mật danh là “Tiếng sấm”, sau đó là “Biển lửa”, và cuối cùng là những cuộc ném bom “rải thảm” của không quân chiến lược vào tháng 12 năm 1972. Bây giờ chuyện đó đã là lịch sử. |
Trong những năm tháng khó khăn, trẻ em Liên Xô đã gửi quà cho những người bạn Việt Nam cùng trang lứa. Nhà hoạt động xã hội nổi tiếng Grigori Loksin và nhà văn Ted Gladkov mang quà đến Hải Phòng. Tôi đón họ ở cầu cảng.
Nhưng có lẽ những hậu quả khủng khiếp của bom đạn không bao giờ phai mờ được trong ký ức. Hầu như tất cả đều bị ném bom – nhà ở, những con đường dẫn vào thành phố, cầu cống, bến cảng. Luồng nước hẹp của sông Cấm nối cảng với vịnh Bắc Bộ đã bị rải mìn. Ở trung tâm thành phố Hải Phòng, từ cây cầu Ngự gần bưu điện thành phố, từ Bảo tàng cách mạng đến đường Điện Biên Phủ, trên một vùng đất gần bẳng một km vuông chúng đã ném xuống hàng chục quả bom bi mẹ… Con tàu Liên Xô Pereyaslavl-Zaleski đang đậu ở cảng bị hư hại, tháng 7 năm 1968 tàu Aleksandr Grin cũng bị bắt lửa. Chỉ có lòng dũng cảm của thủy thủ Liên Xô và công nhân cảng Việt Nam mới cứu được bến cảng và thành phố. Vì nếu như xảy ra nổ thì hậu quả sẽ rất khủng khiếp. Sức phá hủy sẽ bằng hai quả bom Mỹ đã ném xuống Hiroshima tháng 8 năm 1945. Trong số các nhà báo trên tàu Grin có phóng viên APN Boris Shumeev. Trong những năm đầu sau chiến tranh, các cấp ủy Đảng và chính quyền Hải Phòng đã tập trung mọi nỗ lực vào việc khôi phục đường sá, tiềm năng công nghiệp và quỹ nhà ở của thành phố. Một trong những đối tượng khôi phục trước tiên của Hải Phòng là cây cầu qua sông Cấm ngay cửa ngõ thành phố. Không có cầu thì việc chuyên chở hàng hóa ra khỏi cảng là cực kỳ chậm. Sau đó nhiều công trình công nghiệp đã mọc lên, những ống khói đã mọc lên trên nhà máy xi măng Hải Phòng. Vậy mà nhà máy xi măng này đã từng phải hứng chịu hơn 300 trận ném bom trong thời gian chiến tranh! Ở khu Mê Linh, phố Cầu Đất nhà cửa đã được dựng lại, khai trương những cửa hàng mới. Dòng xe đạp lại tuôn theo những hàng cây non. Chợ Sắt và chợ An Dương đã đông người từ sáng sớm. Thật khó tưởng tượng trước đây nơi này chỉ là những đống đổ nát điêu tàn. Tháng 2 năm 1967 tôi đã được chứng kiến bọn Mỹ bắn phá khu phố Mê Linh như thế nào. ... Chiều tối tôi lại trở về đường Trần Hưng Đạo, nơi tôi đã hẹn gặp anh Lương. Anh ấy vẫn còn một việc nữa chưa làm. Chúng tôi ghé vào một hiệu sách nhỏ, Lương mua mấy quyển sách giáo khoa mới tinh cho cậu con trai: sắp đến năm học mới rồi. Và thằng cu của anh cùng 300 nghìn trẻ em sắp bước vào ngưỡng cửa nhà trường. Tôi chia tay anh Lương ở bến tàu. Anh đưa xe đạp lên thuyền và thân thiện vẫy tay tạm biệt. |
Giữa núi non Cao Bằng
Từ Hòn Gai – Cẩm Phả tôi theo đường sắt đi Cao Bằng. Mấy hôm sau thì đường sắt bị ném bom. Tháng 4 năm 1967 bọn Mỹ bắn phá đường Hà Nội – Lạng Sơn, đường sắt sang Trung Quốc bị gián đoạn. Người cuối cùng đi theo con đường này là đại sứ và tùy viên quân sự nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ ở VNDCCH. Ở cực bắc của nước Việt Nam, trên những vùng núi non ở Việt Bắc {5} diện tích chỉ khoảng 14 nghìn km vuông là tỉnh Cao Lạng, hình thành từ việc hợp nhất hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Ở đó có sáu dân tộc sinh sống. Họ sinh sống ở vùng đông bắc Việt Nam đã nhiều thế kỷ. Thời trước họ sống du canh du cư, về sau họ định cư và xây dựng làng mạc ven sông hay ở những thung lũng và cả trên núi cao. Những ngôi nhà sàn bằng gỗ cao ráo rộng rãi nhô lên xen lẫn vườn cam.. Nhà mái ngói đỏ, nóc nhọn cùng những ống dẫn nước bằng tre cầu kỳ rất điển hình cho những làng người Tày, người Nùng và người Dao. Vùng này có nhiều phong tục tập quán đa dạng phong phú. Chẳng hạn như, từ trước tới nay khi chú rể tới đón cô dâu thì phải đi cùng một người hát hay nhất làng. Còn cô dâu phải mặc váy sặc sỡ gắn rất nhiều dây nhỏ. Họ đưa ra nhiều chướng ngại vật tượng trưng bắt chú rể phải vượt qua. Phong tục này vẫn không thay đổi ngay cả trong thời chiến. Người Nùng dân số gần 350 nghìn là dân tộc đông người nhất của Cao Bằng. Họ đã sinh sống ở đây từ rất lâu bênh cạnh người Tày và những quan hệ gia đình của họ bện chặt với nhau. Người Nùng và người Tày chịu ảnh hưởng rất nhiều của văn hóa của những người sinh sống ở những vùng thấp là người Việt hay người Kinh, chiếm khoảng 87% dân số Việt Nam. Ngôn ngữ và chữ viết của người Kinh - Việt là ngôn ngữ chính và được tất cả các dân tộc ở Việt Nam sử dụng phổ biến. Nhưng người Tày, người Nùng và người Dao cũng có chữ viết riêng, lập ra trong những năm 50, đó là kết quả những nghiên cứu lâu dài của các nhà khoa học Việt nam áp dụng kinh nghiệm của các dân tộc Liên Xô. Các đài phát thanh địa phương phát bằng bốn thứ tiếng dân tộc. Nhà thơ nổi tiếng Bàn Tài Đoàn, nhà biên kịch Lương Viết Quảng đã sáng tác bằng tiếng các dân tộc miền Bắc Việt Nam. Các tác phẩm của nhạc sĩ Đỗ Minh người Tày, truyện dân gian của người Dao, điệu hát “sli”, điệu múa “siên tàng” của người Nùng được cả nước biết đến. Người ta xem Cao Bằng là một trong những vùng có phong cảnh đẹp nhất Việt Nam. Mùa đông nhiệt độ trên núi hạ xuống dưới không độ, chuyện này không có ở nơi nào khác trong nước. Ví dụ, mùa đông năm 1946, bên cạnh Cao Bằng, ở khu vực đỉnh núi cao nhất Việt Nam – đỉnh Phanxipan (3142m), - có tuyết rơi. Tuyết cũng phủ dày 10 cm trên núi ở khu vực Sa Pa – một trong những khu nghỉ mát lớn nhất Việt Nam. Nhưng chỉ mấy tuần sau Sa Pa lại đã tràn ngập sắc xuân. Những vườn đào vườ quít bao quanh Sa Pa như những dải thắt lưng đỏ hồng. Những con sông con suối nước chảy ào ào dưới những chiếc cầu đơn sơ bắc qua khe sâu. Với mỗi người Việt Nam thì Cao Bằng được biết đến như một tỉnh miền núi xa xôi, có thác Bản Giốc nằm trong số những thác nước lớn trong nước, nó được nâng niu giữa những khe đá của một cái hồ hùng vĩ – hồ Thang Hem. Bên dòng nước trong vắt va vào đá tung lên thành hàng trăm tia lấp lánh bạn sẽ cảm nhận được mùi hăng hăng cay nồng của rừng nhiệt đới. Không khí ở đây sạch sẽ như pha lê. Và có vẻ như mỗi khi gió thổi nó vang lên ngân nga như như pha lê. Lịch sử của vùng núi xa xôi này gắn liền với trang sử đấu tranh hào hùng vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập trong khu rừng mang tên người anh hùng huyền thoại Trần Hưng Đạo. Đội quân vũ trang non trẻ của Việt Nam đã đánh thắng trận đầu, tiêu diệt đơn vị đồn trú của thực dân Pháp ở Đông Khê… * * * |
“Sáng ra bờ suối tối vào hang,
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử đảng …” Đây là những vần thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ở vùng rừng núi đông bắc Cao Bằng, trong hang Pác Bó. Theo tiếng dân tộc Nùng thì Pác Bó nghĩa là “nguồn nước”. Nơi đây bắt nguồn một trong những dòng sông lớn nhất ở vung núi miền Bắc Việt Nam – sông Bằng Giang. Chính ở nơi đây chủ tịch Hồ Chí Minh đã ẩn tránh sự lùng bắt của bọn mật thám. … Sáng sớm tinh mơ, khi màn sương còn vắt nhẹ trên đỉnh núi, tôi đến một thung lũng nhỏ tuyệt đẹp nằm giữa những vách đá dựng đứng. Hồ Chí Minh đã ở đây, ở Cao Bằng này năm 1941 với tên gọi khi ấy là Nguyễn Ái Quốc, tức là ông Nguyễn yêu nước. Mặt trời nhô lên xua tan mây mù, mở ra trước mắt những vách núi, những đám ruộng bậc thang xanh mướt lúa, những ngôi nhà sàn tre lá dựa vào vách đá. Người ta khẳng định là 60 năm trước, khi Bác Hồ đến đây, Pác Bó nhìn vẫn như thế này. Dòng nước suối trong vắt, khi thì đổ xuống thác, khi lại luồn lách giữa những tảng đá, lúc lại thoải mái tỏa ra khắp thung lũng làm cho cuộc sổng ở cái góc nhỏ của Cao Bằng này dường như thêm thơ mộng. Không dễ vượt qua suối trên những hòn đá trơn nhẫy. Bên bờ suối có mấy tảng đá dựng lên giống như một chiếc bàn viết và một chiếc ghế đá. Hồ Chí Minh đã ngồi làm việc ở đây. Từ suối có một lối mòn hình thành từ mấy chục năm trước đi thẳng lên dốc. Gai rừng sắc nhọn, những hòn đá chênh vênh thỉnh thoảng lại bật ra dưới bước chân lăn rào rào xuống dưới. Ngày trước Hồ Chí Minh đã lên xuống nơi này biết bao lần... Tiếp tục leo lên khoảng 15 phút nữa. Cuối cùng một lối đi hẹp hiện ra. Vòm hang treo đầy nhũ đá, trong hang ánh sáng lờ mờ. Chỉ có một tia sáng dài giống như một chiếc đèn tự nhiên chiếu sáng đáy hang. Ông Nguyễn yêu nước đã sống và làm việc ở đây. Cho đến nay trong bảo tàng Pác Bó gần đó vẫn lưu giữ những vật dụng cá nhân của Hồ Chí Minh - chiếc va li mây Người mang theo khi đến Pác Bó, chiếc nồi Người nấu cơm... - Trong hang này, - bạn tôi, thượng tướng Chu Văn Tấn nhớ lại, - tôi đã ở cùng Chủ tịch mấy tháng. Chiều chiều chúng tôi tập hợp lại ở Pác Bó. Hồ Chí Minh kể cho chúng tôi những chuyến Người đi đến Liên Xô, về việc Người không kịp gặp V. I. Lenin ra sao, rằng hồi đó Moskva như thế nào. Người kể hay đến nỗi trước mắt chúng như hiện ra phong cảnh nước Nga với những công trình to lớn. Nhiều người chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy tuyết vậy nhưng ai cũng tưởng tượng thấy rõ những miền băng giá phương bắc xa xôi. Nhờ có Hồ Chí Minh mà chúng tôi biết về lòng dũng cảm của những con người xô viết đã chinh phục Bắc Cực, về chiến công của các phi công Liên Xô lần đầu bay qua Bắc Cực tới Châu Mỹ. * * * |
Hồ Chí Minh đến Liên Xô lần đầu tiên năm 1923 và làm việc ở Irkutsk. Nhưng có một chuyến như thế này... Tàu thả neo ở cảng Leningrad. Hồ Chí Minh cùng hai lính thủy đến đại lộ Nevski.
- Xin cho biết họ tên của anh! - một nhân viên anh ninh hỏi. - Tôi là Nguyễn. - Mục đích anh đến đây là gì? - Là để gặp đồng chí Lenin. Vậy là Hồ Chí Minh đến Liên Xô với tên là Nguyễn. Người đã nhiều năm xa cách bến bờ quê hương. Trong những năm 20 Hồ Chí Minh tham gia phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Pháp, tham gia Quốc tế cộng sản III. Tại đại hội của những người xã hội chủ nghĩa Pháp ở Тours, Người đã bỏ phiếu tán đồng thành lập Đảng Cộng sản Pháp và sáp nhập đảng này với Quốc tế cộng sản III. Chín năm sau, chính quyền thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt Người. Chính quyền thực dân Anh đã bắt giữ Người ở Hồng Công. Người đã phải trải qua hai năm trong nhà tù Quốc dân đảng ở Trung Quốc. Vào giữa những năm 20 Người tham gia vào công việc của nhiều hội nghị quốc tế, trong đó có Đại hội V Quốc tế cộng sản, là ủy viên thường trực của Ban phương Đông của Quốc tế cộng sản. Có một bí mật nhỏ. Hồ Chí Minh có phải lòng ai không? Có, Người đã từng yêu một cô gái Nga. Đó là Vera Yakovlevna Vasilieva, nhân viên Quốc tế cộng sản. Họ không có con. Người có gặp Stalin không? Có, thậm chí Stalin còn ký tặng trên trang bìa tạp chí “Ngọn lửa nhỏ”, nhưng cuốn tạp chí của Bác Hồ đã biến mất một cách bí ẩn. Người coi ai trong số người nước ngoài sống ẩn danh là bạn? Đó là Richard Sorge (Ri-hác Giooc-giơ), người đã ở phòng bên cạnh trong khách sạn “Astoria” ở Moskva. Vào giai đó cuộc đấu tranh quần chúng của giai cấp công nhân và nông dân ở bán đảo Đông Dương ngày càng mở rộng, đưa đến quá trình hình thành ý thức giác ngộ giai cấp của những người vô sản Việt Nam. Trong hoàn cảnh như vậy, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đã diễn ra một hội nghị các nhóm cộng sản Việt Nam nhằm thống nhất các tổ chức mác xít tản mạn thành một đảng duy nhất. Vậy là ngày 3 tháng 2 năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. ... Năm 1943 – 1944, nhân dân Liên Xô đánh tan phát xít Hitle trên tất cả các mặt trận. Ở Việt Nam cuộc đấu tranh chống bọn quân phiệt Nhật Bản và thực dân Pháp ngày càng mở rộng. Từ Cao Bằng, Hồ Chí Minh ra lệnh thành lập đội vũ trang Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Đội quân này được thành lập ở ngay tại đây, ở Cao Bằng ngày 22 tháng 12 năm 1944. Hết chươngIII |
Chương IV ĐI DỌC VĨ TUYẾN 17 Đất này vô chủ sao? Những đám mây bồng bềnh trên đầu. Phía dưới là dòng nước trong xanh thanh bình của dòng sông Bến Hải. Ngót nửa thế kỷ trước cả dòng sông lẫn cây cầu đều được gọi là Hiền Lương, có nghĩa là “dịu dàng, tốt bụng”. Năm 1954, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ định ra đường giới tuyến tạm thời giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam theo vĩ tuyến 17 không ai có thể nhớ tên gọi của dòng sông nhỏ dài 70km ở ngay vùng này. Lúc ấy người ta đề nghị đặt tên sông là Bến Hải, nghĩa là “chảy về biển”. Nay thì nó đã nổi tiếng khắp thế giới. Tôi còn nhớ người ta đã kẻ đường ranh giới trên cây cầu cũ bảy nhịp dài 178 mét như thế nào. Mặt cầu có 894 tấm ván lát, phần thuộc về VNDCCH có nhiều hơn phần phía nam 6 tấm, điều này làm cho Sài Gòn cực kỳ bực tức. Giờ đây cây cầu này không còn mang ý nghĩa xưa là phân chia nước Việt Nam, cũng như không còn các chốt biên phòng của Sài Gòn ở bờ nam với binh lính mặc quần soóc đỏ. Làng mạc mọc lên và những cánh đồng lúa trải dài dọc theo đôi bờ của dòng sông. Cây cầu cũ thời thuộc địa đã bị bom đạn Mỹ phá hủy cuối năm 1967, chính tôi và người bạn thời đại học của mình là phóng viên chiến trường báo “Sự thật” Aleksei Vasiliev được thấy lần cuối nó còn nguyên vẹn và hầu như không hư hỏng gì. Thời chiến chắc là không ai nghĩ đến việc xây lại nó. Sau khi ký kết Hiệp định Paris, cầu được những người yêu nước Việt Nam khôi phục lại. Bây giờ là chiếc cầu bê tông trắng, mãi mãi nối đôi bờ của dòng sông “Chảy về biển”. Những năm chiến tranh tôi đã từng đến khu phi quân sự nhiều lần, sống dưới công sự đặc khu Vĩnh Linh, đi theo những con đường mòn của du kích miền Nam. Sau khi giành thắng lợi và thống nhất đất nước, vùng đất này đã hoàn toàn thay đổi với tầm quốc gia, nhưng ngay cả bây giờ nhiều thứ ở đó vẫn gợi nhớ về một thời chiến tranh. |
Cuộc chiến thứ ba. Câu chuyện bên bờ Bến Hải. Chấm dứt huyền thoại “pháo đài bay”.
Trong bộ quần áo nông dân, đội chiếc mũ rơm do dân làng tặng, ống quần xắn cao, tôi vượt qua mấy trăm mét cuối cùng của Quốc lộ 1 đi vào vùng phía bắc khu phi quân sự. Chúng tôi không mang vũ khí. Nhưng ở Vĩnh Linh chúng tôi được một tiểu đội an ninh và bộ đội địa phương bảo vệ. Năm 1967. Chiến tranh. Dải lụa xanh của sông Bến Hải hiện ra phía trước. Nó đã chia hai miền Nam Bắc Việt Nam suốt 30 năm và là đường trục thuỷ đặc biệt của khu phi quân sự. Phía trên sông một tốp hai máy bay phản lực quân sự Mỹ lượn đi lượn lại. Chúng tìm mục tiêu cho trận ném bom tiếp theo. Dọc hai bên đường đi qua phần phía bắc khu phi quân sự dài 3 km là những thửa ruộng lúa hình chữ nhật của hợp tác xã Hiền Lương. Nông dân đã thu hoạch xong vụ chiêm. Thỉnh thoảng họ lại ngẩng đầu lấy tay che mắt nhìn bầu trời xanh thăm thẳm, bất cứ lúc nào nó cũng có thể giáng xuống họ những thứ chết chóc. Bến Hải đây rồi. Cầu Hiền Lương đây rồi. Nó nối hai miền Nam Bắc Việt Nam. Nối ư? Chính nó cũng như cả nước đã bị chia làm hai phần. Cạnh nó là một cột cây số không biết vì sao vẫn còn nguyên vẹn ghi: “Quảng Trị, Nam Việt Nam, 37 km”. Những hố bom sâu hoắm cách đường vài mét. - Hố bom 500 cân đấy, - chiến sĩ biên phòng Kênh giải thích, - Chắc là tên phi công Mỹ nhằm vào cái cột 35 mét này. Trên đó là lá cờ đỏ sao vàng – quốc kỳ VNDCCH tung bay. Nhưng không rõ vì sao mà chúng tôi lại cảm thấy an toàn khi ở đây, ở dải đất trung lập này, thậm chí chúng tôi còn chụp ảnh mà không đội mũ sắt. Tôi đứng trên cầu Hiền Lương. Trên thành cầu đầy vết bom đạn. Dưới chân tôi dòng sông Bến Hải vẫn lặng lẽ mải miết đưa nước về biển Đông, nó vẫn chảy như hàng nghìn năm trước. |
Đứng bên tôi là ủy viên Ủy ban hành chính Vĩnh Linh Trần Đức Hạnh, anh kể:
– Bên kia sông là đất của tỉnh Quảng Trị, là vùng giải phóng rộng lớn. Suốt hai năm rưỡi quân viễn chinh và lính thủy đánh bộ Mỹ nhiều lần càn quét những người yêu nước nhưng uổng công. Máy bay Mỹ liên tục ném bom bất kể ngày đêm. Tháng 5 năm 1967 mấy tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và quân ngụy Sài Gòn đã tràn vào phía nam khu phi quân sự, vi phạm quy chế quốc tế của khu vực này. Mảnh đất Vĩnh Linh ở bờ bắc sông Bến Hải phải hứng chịu hoả lực chồng lên nhau, từ những trận bom khốc liệt nhất của máy bay đến đạn pháo từ các trận địa pháo cách sông bờ nam Bến Hải 4-8 km, từ tàu chiến của Hạm đội 7, từ các căn cứ Mỹ ở Dốc Miếu, Cồn Tiên, Trung Lương, Gio Linh. Các xã miền núi của huyện bị máy bay chiến lược B-52 ném bom. Ở đây, trên đất Vĩnh Linh, “Pháo đài bay” của Mỹ đầu tiên bị bắn rơi. Người Mỹ khẳng định không thể có chuyện đó được. Người Việt Nam đưa ra số hiệu máy bay, họ tên các phi công. Washington không nói thêm lời nào, nhưng trên báo Mỹ ai đó vẫn nhiều lần tuyên bố lực lượng phòng không Bắc Việt Nam không thể “gặm” được máy bay B-52. Nhưng rồi ngày 17 tháng 9 năm 1967, vào lúc 17 giờ 03 và 17 giờ 34 hai “pháo đài bay” đã kết thúc cuộc “dạo chơi” trên không của mình dưới đất Vĩnh Linh. Trong một căn hầm ở cách cầu Hiền Lương không xa, tôi gặp Lê Niệm, biên tập viên của tờ báo địa phương “Thống Nhất”. Anh tới đây để lấy tư liệu cho bài ký sự tố cáo tội ác của quân phiệt Mỹ đối với dân thường ở phần phía bắc khu phi quân sự. – Hôm nọ chúng ta không có thời gian để nói chuyện, - Niệm mỉm cười, - Còn lúc này bom đạn không cho chúng ta ra khỏi hầm trước khi trời tối. Như vậy thời gian để nói chuyện là quá đủ. (Hầm sâu 20 – 25 mét, một ống thông hơi để lấy không khí thò lên mặt đất ở giữa vườn dứa. Nhưng ở đây không quan tâm đến dứa, người Mỹ đã quẳng xuống đây những quả “bom dứa màu vàng” (bom bi - người dịch) của họ rồi. Ngay lập tức, như để khẳng định lời anh, một tiếng nổ rung lên. – Tớ sẽ kể cậu nghe về huyện Vĩnh Linh của tớ, - Niệm mở đầu, - Rồi cậu sẽ hiểu tại sao ở mảnh đất này của nước Việt Nam, ở bờ bắc sông Bến Hải, bất chấp những gian khó vượt quá sức chịu đựng của con người, vẫn tiếp tục làm việc, chiến đấu và chiến thắng. Vĩnh Linh có 6 xã miền núi, còn 17 xã và thị trấn Hồ Xá nằm ở vùng đồng bằng ven biển. Từ cửa sông Bến Hải, từ biển đến biên giới Lào là 70 km. Từ khu phi quân sự đến đến tỉnh bên cạnh thuộc miền Bắc Việt Nam, tỉnh Quảng Bình 40 km. Cậu thấy đấy, chỉ là một mảnh đất nhỏ mà phải chịu đựng biết bao đau thương. |
Trước năm 1954 Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị và được biết đến như một huyện nghèo nhất Việt Nam. Lũ lụt, gió Lào khô, bão tố đã hủy hoại mùa màng làm cho nông dân phải chịu nghèo đói. Thời Pháp thuộc, dân Vĩnh Linh ba ngày mới được ăn một bát cơm. Khoai sắn thì không phải ngày nào cũng có. Ở miền núi người ta phải ăn cả vỏ cây để khỏi chết đói.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 nổ ra. Người Vĩnh Linh kiên quyết đứng về phía các chiến sĩ đấu tranh cho tự do và độc lập. Niệm châm một điếu thuốc. Vào lúc đó một quả bom nổ đâu đó bên cạnh. Ngọn đèn hoa kỳ rung lên bần bật. - Chúng ném bom bi đấy, - Niệm bình tĩnh giải thích và hít sâu một hơi thuốc.- Còn loại bom nào mà bọn xâm lược chưa dùng ở đây cơ chứ. Chúng định cướp đi những gì nhân dân chúng tôi đã giành được bằng máu và mồ hôi. Ban đầu bọn Mỹ đánh vào đảo Cồn Cỏ, tiếp sau chúng biến thị trấn Hồ Xá thành đống đổ nát (trong thị trấn tôi không thấy một ngôi nhà nào còn nguyên vẹn). Từ trên không, quân xâm lược đã ném hàng tấn kim loại xuống huyện, rồi sau đó từ ngoài biển, bay giờ thì tiếp tục bắn phá Vĩnh Linh từ các căn cứ pháo binh ở miền Nam. 20 ngàn quả đạn pháo đã băm nát mấy làng Tân Lý, Sô Mi(?), Gio An. Thực tế hầu hết nhà cửa ở xã Vinh Quang đã bị phá hủy. Khu vực Vĩnh Tú bị ném bom 17 ngày đêm liền không ngưng nghỉ. Ở đây tính trung bình mỗi người dân phải hứng chịu 60 - 70 quả bom cỡ lớn. Những cánh đồng bị đốt cháy, những ngôi làng bị phá hủy, nương rẫy bị chất độc hóa học hủy diệt, những vườn dừa trước đây trải dài mấy km giờ chỉ còn những cái thân cháy trụi... - Kẻ thù định dùng súng đạn để cướp đi của người Vĩnh Linh những gì họ đã làm nên trong những năm cách mạng, - Niệm kể tiếp, - Nhưng đến tháng 5 năm 1967 thì gần 200 máy bay địch đã bị các chiến sĩ phòng không Vĩnh Linh bắn hạ. Các đội pháo bờ biển đã bắn chìm và bắn hỏng hơn 30 tàu địch, đập tan nhiều nhóm gián điệp biệt kích. Giữa các xã có hệ thống liên lạc vững chắc. Đường dây liên lạc từ làng này sang làng kia kéo dài nhiều km. Đường dây liên lạc ở Vĩnh Linh phải hơn 1500 km. Đường hào trở thành đường giao thông của huyện, có lẽ đây là những con đường chưa có trong cuộc chiến tranh nào trên thế giới. Toàn bộ cuộc sống của Vĩnh Linh thực tế diễn ra dưới đất. Tôi đã thấy những căn hầm dưới đất được xây dựng cho những công xưởng nhỏ. Nơi ở cho người cũng dưới đất. Bệnh viện, trường học cũng ở ngay đây, dưới đất. Những đứa con của Vĩnh Linh chiến đấu đã sinh ra, lớn lên và đi học ở đây. |
Xã Vinh Quang bất khuất
Hầm trú ẩn. Tôi viết những phác thảo đầu tiên cho loạt phóng sự về vĩ tuyến 17 ở xã Vinh Quang, cách sông Bến Hải chừng 3 km, dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu ở sâu trong lòng đất. Bắt đầu từ đâu đây? Đúng là máy bay Mỹ không ngừng gầm rú một phút nào. Thậm chí chỉ cả tiếng gió rít cũng đặc biệt, giống như tiếng máy bay, khi thổi qua đường dây điện, không hiểu bằng cách nào, vẫn còn sót lại nguyên vẹn một cách khó tin. Pháo tầm xa của Mỹ ở bên kia sông Bến Hải, trên những ngọn đồi ở Dốc Miếu, Cồn Tiên, Gio Linh, vẫn tiếp tục oanh tạc. Pháo từ Hạm đội 7 bắn sâu vào huyện Vĩnh Linh. Bụi đất mù mịt, những cột khói lên bầu trời không gợn mây. Đất như rên rỉ. Từ tháng 4 năm 1967 xã Vinh Quang phải hứng chịu những trận oanh tạc liệt nhất. Chỉ trong một tháng – từ 28 tháng 4 đến 27 tháng 5 – quân xâm lược đã trút xuống làng mạc Vinh Quang hơn 10 nghìn quả đạn pháo, hàng trăm quả bom cỡ lớn, hàng nghìn bom bi mẹ {6}. Thương vong chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Nhưng nếu như trước đây còn có những thời điểm tạm ngưng giữa các đợt ném bom, oanh tạc, thì bắt đầu từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 25 tháng 6 Quang Vinh bị oanh tạc liên tục cả ngày lẫn đêm. Có lẽ quân xâm lược quyết hủy diệt tất cả mọi sinh vật ở khu vực này. Chỉ từ 20 đến 25 tháng 6 chúng đã trút xuống Vinh Quang hơn 5 nghìn quả bom, phá hủy hơn 500 ngôi nhà. Trích nhật ký: “20.6. Nhiều tốp máy bay Mỹ thực hiện 22 cuộc không kích vào xã. 21.6. Chúng ném bom xuống Vinh Quang 63 lần. Quân xâm lược nghĩ ra chiến thuật tàn sát dân địa phương thế này: đầu tiên chúng ném bom phá hạng nặng, sau đó, nếu mọi người chạy ra khỏi nơi trú ẩn chúng sẽ ném thêm bom bi. Kim đồng hồ chầm chậm nhích. Cuối cùng sao Hôm sáng lên phía chân trời. Đêm miền nhiệt đới xuống rất nhanh. 21.00. Chúng tôi đi ra sông. Ở chỗ hẹn, một chiếc thuyền đánh cá đang đợi chúng tôi. Pháo sáng lơ lửng trên sông. Một chiếc máy bay Mỹ vọt qua trên thuyền chỉ cách hơn một trăm mét. Chớp mắt sau trên bờ bừng lên một lưỡi lửa dài. Một loạt tiếng nổ inh tai nhức óc. - Lại ném đấy. Không chần chừ được, nhổ sào đi! - tổ trưởng Khoái ra lệnh. Thuyền trườn ngược dòng, nhẹ nhàng đằm vào sóng nước lấp lánh lân tinh của dòng sông. Mỗi nhịp chèo khua nước lại tạo ra hàng nghìn tia bạc lấp lánh. Trong lúc đó thì trên bầu trời đêm, loé lên từng đốm chói sáng của pháo sáng, giống như mắt của bầy sói trong rừng taiga. Chúng tôi nhấn mạnh mái chèo. Sao lâu đến bờ thế! Cuối cùng thì thuyền cũng chạm đáy cát. Chúng tôi rời thuyền lội nước vài trăm mét. Sau đó băng qua một làng, rồi làng nữa. Lại có pháo sáng trên trời. Chúng tôi nấp vào chỗ trú ẩn gần nhất. Ngay sát cạnh tiếng nổ lại vang lên. - Chúng ném bom vào làng thôi, đi ra đi, - tiếng ai đó trong bống tối. Anh tổ trưởng lách ra gần cửa hầm và chui ra ngoài. - Cháy làng rồi. Chúng ném bom lân tinh và bom bi, - một anh bộ đội bên trên nói vọng xuống. Chúng tôi rời nơi trú ẩn. Trước mắt là một cảnh tượng khủng khiếp. Nhà cửa cháy rần rật. Tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng rên. Các chiến sĩ của đội cứu hộ ở gần đấy đã chạy đến làng. - Bây giờ trong làng liệu còn ai mà cứu nữa không! - có tiếng của ai đó. Với phốt pho và napal thì cả đất cũng phải cháy. Lửa vẫn gầm réo trong làng. Bàng hoàng, ngần ấy đau thương lại có thể ập xuống chỉ trong có mấy giây đồng hồ. Như hiểu được ý nghĩ của tôi, người đội trưởng căm hờn thốt lên: - Chúng sẽ phải sẽ phải trả giá đắt cho việc này. Chúng sẽ phải đền tội! * * * |
Kể từ hôm đó mấy tuần sau tôi không còn gặp được đội trưởng Khoái trên các trận địa pháo ở Vĩnh Linh nữa. Nhưng mỗi chiến sĩ đều có điểm gì đó làm tôi nhớ đến anh. Điểm gì nhỉ?
- Ở đây, trên hoả tuyến đầu này, chúng tôi hành động như một cỗ máy thống nhất, như một khẩu pháo, - chính ủy đội pháo binh 100mm Mai Văn Dần nói, - mỗi quả đạn chúng tôi bắn ra là để trả thù cho những tội ác mà bọn xâm lược gây ra trên đất Việt Nam. Tôi lại nhớ đến ngôi làng bên bờ Bến Hải, những ngôi làng ở xã Vinh Quang và lời của anh Khoái: “Chúng sẽ phải trả giá đắt cho việc này”. Tôi đang ở sở chỉ huy của đội pháo binh đã nhiều lần đấu pháo với địch. – Đội pháo có nhiệm vụ, - đại diện huyện đội Vĩnh Linh, phó chính ủy quân sự khu vực Vũ Kỳ Lân nói với tôi, - tiêu diệt các trận địa pháo của Mỹ ở miền Nam. Đây không phải là sự gây chiến mà là đòn giáng trả. – Phân đội chúng tôi, - chính ủy Dân nhớ lại những ngày đó, - tham gia đánh nhau từ tháng 3 năm 1967. Từ nơi huấn luyện, chúng tôi hành quân tới Vĩnh Linh mà không có tổn thất nào, chúng tôi vượt qua sông Gianh và nhiều đoạn vất vả khác trên Quốc lộ 1 hướng về sông Bến Hải. Chúng tôi chiếm lĩnh trận địa. Lúc đó bọn xâm lược đặc biệt tăng cường đánh phá Vĩnh Linh. Chỉ một làng trong huyện đã phải chịu hàng nghìn quả đạn pháo trong vài ngày. Từ đầu tháng 3 đến tháng 7 năm 1967 pháo binh Mỹ đã bắn từ phía Nam vào đất Vĩnh Linh 60-65 nghìn quả đạn. Ở đây không thể tìm thấy một khoảnh đất nào, một làng xã nào, một mảnh vườn, một đoạn đường nào mà không có dấu vết bom đạn. “Đến bao giờ chúng ta đánh trả bọn giặc? – các chiến sĩ hỏi, - Còn phải chịu đựng bao lâu nữa đây?” “Hãy đợi lệnh” – đó là câu trả lời của chỉ huy. Đòn giáng trả cần phải bất ngờ và cực kỳ chính xác. Cần phải đánh giập những trận địa pháo Mỹ ở Cồn Tiên và Dốc Miếu. Nhưng hiện thời phải đợi tin trinh sát từ miền Nam ra. Tôi thấy các chiến sĩ pháo binh Vĩnh Linh luôn nắm số liệu trinh sát chính xác về các trận địa pháo Mỹ ở miền Nam. Chẳng hạn họ biết ở Dốc Miếu địch bắn từ 4 khẩu pháo 175 mm, 10 khẩu 155 mm và 10 khẩu 105 mm. Cuối cùng, đêm 18 tháng 3 cũng đến. Các chiến sĩ nhận lệnh vào vị trí chiến đấu. Giờ X được ấn định để trút đạn xuống quân thù. Mỗi người làm việc bằng ba. Lần đầu tiên họ được oanh tạc các vị trí ở miền Nam. – Có thể đã hiểu được các chiến sĩ, - chính ủy Dân nói tiếp, - gia đình ai cũng có người thân bị sát hại. Thời khắc chờ đợi từ lâu đang đến gần. Giờ trừng phạt. 18 giờ 25 phút ngày 13 tháng ba là giờ X. Lúc đó địch bắn dữ dội sang Vĩnh Linh. 18 giờ 25 phút, pháo binh VNDCCH lên tiếng. Rất chính xác. - Lúc bắn tập các chiến sĩ chỉ bắn được 4 quả đạn một phút,- anh Dân nhớ lại, - ngày 23 tháng 3 họ đã bắn được 5 quả một phút. Chẳng hạn như khẩu đội Phạm Văn Sen bắn hơn một trăm quả đạn. Trận bắn phá Dốc Miếu và Cồn Tiên kéo dài đến tận sáng. Hơn nghìn tên địch bị tiêu diệt và nhiều phương tiện chiến đấu bị phá hủy. Sau trận này chúng tôi thay đổi vị trí tác chiến rồi trở về căn cứ. Các chiến sĩ rất hân hoan. Vài hôm sau trung ương gửi điện mật: chuẩn bị đánh trận mới. Các chiến sĩ ngày ngày luyện tập trên sa hình. Mấy tiếng đồng hồ trước giờ đã định, chúng tôi đưa vũ khí ra trận địa mới. Lúc này máy bay Mỹ xuất hiện: một chiếc do thám L-19 và mấy chiếc A-4H. Pháo cao xạ bắn lên. Việc phối hợp tác chiến giữa các chốt hỏa lực đã được chuẩn bị từ trước. Máy bay Mỹ buộc phải rời Vĩnh Linh. 27 tháng 4 năm 1967, 17 giờ. Pháo của ta lại dội lửa xuống trận địa 175 mm của địch ở Cồn Tiên. Pháo địch bị phá hủy, một chiếc L-19 bị bắn rơi. Chặng đường chiến đấu sau này của đơn vị như thế nào? Theo lệnh của trên, chúng tôi đã chốt tại những nơi nguy hiểm nhất. Tháng 5 năm 1967 chúng tôi cùng đơn vị pháo bờ biển bắn các tàu chiến của Hạm đội 7, trong đó, ngày 27 tháng 5 chúng tôi đã bắn hỏng một tàu khu trục Mỹ. Hôm đó, một tàu tuần dương và 2 tàu khu trục xuất hiện ven biển Vĩnh Linh. Chúng tôi tập trung hỏa lực vào một tàu khu trục. Sau vài loạt đạn chính xác thì boong tàu bốc cháy. Khói đen trùm kín con tàu. Địch không chịu nổi đòn của pháo binh phải rút ra biển. Thành lũy phia nam của VNDCCH vẫn đứng vững. |
Đội pháo trên cao.
Rạng đông. Mặt trời ló ra vàng ruộm, như mọc lên từ sóng biển, như mọc ra từ bên sườn một quả đồi không tên. Chân trời còn đang phủ màn sương sớm làm nổi lên những chấm đen thẫm – hình thù những tàu chiến hạng nặng của Hạm đội 7 Mỹ. Cứ cách 3-5 phút đạn từ pháo trên tàu Mỹ bắn vào lại rít lên chói tai. Mặt đất ở gần rung rên bần bật. Ngọn đồi nơi tôi đang đứng dày đặc chiến hào ngang dọc. Trận địa pháo bờ biển ở đây. Các chiến sĩ vừa thức dậy. Họ đã ngủ một giấc sâu sau phiên gác. Tiếng gầm réo của bom đạn không phá được giấc ngủ của họ. Nhưng ngay khi tiếng còi báo động vừa rít lên họ đã bật dậy vào vị trí chiến đấu. Trên đài quan sát tôi gặp một trung úy trẻ vóc dáng nhỏ nhắn. “Lê Quang Thắng, chỉ huy phó” – anh ta tự giới thiệu rồi lại dán mắt vào ống nhòm. – “Đại bàng, đại bàng!” “Hải âu gọi! Hải âu gọi”. Chân trời hiện lên hai chiếc tàu khu trục của địch, - Thắng gào vào điện thoại. - Không được bắn! Hãy đợi lệnh! Trận địa lặng im căng thẳng. Các pháo thủ đã sẵn sàng chiến đấu. Có vẻ như quả đồi sắp bùng lên từng loạt pháo. Nhưng quả đồi vẫn lặng thinh. Bóng 5 chiếc tàu Mỹ đứng bất động phía chân trời. - Sao không bắn? – Tôi hỏi chính ủy Trương Đình Thế. - Nếu tàu địch đến gần hơn chúng tôi sẽ bắn, như thế sẽ dễ trúng hơn. Lúc này có lẽ chỉ là tàu thám thính thôi. Bọn địch trên tàu đang đợi chúng ta bắn là chạy ngay ra biển. Khi ấy chúng đã định vị được trận địa của chúng ta. Trên đầu một tốp 4 chiếc Skyraider lượn đi lượn lại. Những gương mặt cương nghị, rắn rỏi, bình tĩnh bên những khẩu pháo. Những động tác nhịp nhàng. Nửa giờ sau, còi báo yên. Các chiến sĩ xuống giao thông hào về hầm trú ẩn. Khom người chui vào hầm, họ như trở về ngôi nhà yêu dấu, bằng động tác quen thuộc cởi bỏ mũ sắt treo lên những chiếc đinh đóng trên gỗ vách hầm. Mũ của tôi không còn chỗ, tôi đành để nó trên đầu gối. Họ ngồi quây quần quanh bàn ăn. Đẩy chiếc nồi quân dụng sang một bên, trực ban bày ra những cốc trà xanh thơm ngát. “Báo động làm hỏng bữa sáng của anh em, - Thế mỉm cười, - Nhiều lần như thế rồi, thời chiến mà”. - Hai chiếc khu trục đổi hướng chạy về phía bắc rồi, - tiếng trung úy Thắng vọng xuống, - Ba chiếc tiếp tục bắn vào bờ... Và ngày nào cũng như vậy suốt những năm dài chiến tranh. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:21. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.