Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=67)
-   -   ANH EM NHÀ HIMMLER, Lịch sử một gia đình Đức (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=6275)

danngoc 24-10-2012 14:19

Hai năm sau cha cậu được bổ nhiệm làm hiệu phó trường Gymnasium ở Landshut, đông bắc Munich. Sau một thời gian dài tìm kiếm, gia đình tìm thấy một căn nhà cũ có vườn thật lãng mạn mà nhiều năm sau Gebhard Con vẫn còn say sưa nhắc tới: “Lần đầu tiên nhà chúng tôi có được cái vườn, đối với đám con trai chúng tôi quả là vô cùng sung sướng”. Tại đây hai anh lớn cũng đi học ở ngôi trường mà người cha đang dạy, ông đứng lớp giờ Gebhard học môn tiếng Đức và môn Lịch sử. “Tôi rất chóng làm quen với chuyện này – không hề gì, chủ yếu là tôi phải cố gắng hơn một chút so với khi có giáo viên khác đứng lớp”. Con trai ông hiệu phó không được hưởng một ưu ái đặc biệt nào.

Nhìn chung những năm tháng đó đối với ba anh em là thời kỳ rất hạnh phúc. Cha mẹ họ dùng mọi cố gắng để các con có được một thời niên thiếu êm ấm mà cũng rất sôi động. Họ cũng chú ý để đảm bảo cho con mình có những chuẩn bị cần thiết nhằm đạt tới địa vị xã hội và nghề nghiệp trong tương lai, và điều này đòi hỏi không chỉ quá trình giáo dục toàn diện về mặt nhân cách, chủ yếu thuộc trách nhiệm của người cha, mà còn cần có những đức tính phụ được đánh giá quá cao vào thời ấy. Và như trong hầu hết những gia đình trung lưu được kính trọng, nhất là khi các con trai ngày càng lớn, dường như người cha gánh lấy vai trò nghiêm khắc của người rèn giũa kỷ luật, trong khi vai trò của bà mẹ tiếp tục là hỗ trợ cho người cha nhưng dịu dàng tình cảm hơn. Suốt nhiều năm sau, khi các con đã ra ở riêng, bà vẫn tiếp tục làm vậy thông qua việc gửi thư khuyên nhủ và bưu phẩm thức ăn, những món mà đặc biệt là Heinrich thèm khát vô độ. Bà cũng cố gắng thu hút sự chú ý của các con trai đến sở thích mà bản thân bà đã có từ thời thiếu nữ, là sấy khô cỏ cây cỏ hoa lá và xếp chúng thành bộ sưu tập. Ít nhất có Heinrich nhiệt tình hưởng ứng chuyện này: ngay từ thời niên thiếu Heinrich đã có được một bộ sưu tập khá phong phú.

Tháng 7 năm 1914 cả gia đình đi nghỉ hè tại Tittmoning, gần biên giới Áo, ở người bạn cũ là gia đình Lindner. Như thường lệ, chương trình nghỉ hè của họ bao gồm đi dạo, vào thăm các nhà thờ và chèo thuyền du ngoạn. Heinrich ghi nhật ký về kỳ nghỉ này và ba anh em chơi đùa cùng hai cô con gái chủ nhà: cuốn album ảnh của Heinrich có cảnh năm cô cậu bên ngoài ngôi nhà nghỉ, đám con trai mặc quần soóc có dây đai. Mấy ngày sau lễ sinh nhật thứ mười sáu của Gebhard, cảnh điền viên mùa hè bị chặn ngang một cách thô bạo: ngày 1 tháng 8, Đức tuyên chiến với Serbia đồng minh của Nga, sau đó là với Pháp, khiến gia đình Himmler phải cắt đứt kỳ nghỉ của họ. Trên sân ga, trong khi đứng chờ tàu hỏa về Landshut, đám con trai giải trí bằng cách chơi đùa với những người lính, đi đều bước tới lui và tập động tác quân sự.

danngoc 25-10-2012 12:58

Chiến tranh nổ ra không làm cho ai bất ngờ; nó đã được nhen nhóm từ rất lâu. Dưới triều Wilhelm II đế quốc Đức đã tích cực chạy đua vũ trang và các cường quốc Châu Âu khác cũng theo nối gót. Mọi người dường như đều thấy rằng chiến tranh là không thể tránh khỏi – nhiều người thậm chí còn trông chờ nó xảy ra. Do vậy vào năm 1914 việc tiến hành chiến tranh được nhiều người đồng tình, trên hết là tầng lớp trung lưu và giới trí thức, những người xem đây là cơ hội cho nước Đức để cuối cùng có được vị thế xứng đáng trong số các cường quốc trên thế giới. Chỉ có một vài người, ví dụ như August Bebel lãnh tụ Đảng Dân chủ Xã hội Đức, là nhận thấy rằng cuộc chiến sắp tới tiên báo cho “buổi hoàng hôn của các vị thần thế giới tư bản”.

Nhưng sự nhiệt tình ban đầu từ từ bị thay thế bởi một quyết tâm khá lãnh đạm cần phải sống sót vượt qua chiến tranh. Sau tốc độ chiến thắng say sưa ban đầu, mặt trận mau chóng sa lầy biến thành cuộc chiến chiến hào gây hao tổn, dẫn đến những thiệt hại nặng nề. Đối mặt với thiệt hại ấy cũng như với những thiếu thốn ngày càng gia tăng khiến mọi người tự cảm thấy hậu phương cũng là chiến trường, đế quốc Đức cố gắng chống lại sự bất mãn ngày càng tăng bằng các báo cáo được thổi phồng từ chiến trường gửi về, đồng thời cũng áp đặt sức ép thường trực lên những người ở hậu phương – ví dụ như thông qua những chương trình hành động nhân danh sự đoàn kết quốc gia. Các cuộc quyên góp được tổ chức thường xuyên, bà ngoại tôi sinh năm 1901 vẫn còn nhớ rõ cả lớp của bà đều tình nguyện đan bít tất cho chiến sĩ và làm băng cứu thương, khiến mấy ngón tay họ phồng giộp. Do là con cả, mới mười lăm tuổi bà đã phải tham gia đỡ đần gia đình bằng cách đi dạy kèm tại nhà để ít nhất kiếm thêm chút bánh mì cho bữa ăn.

Ban đầu Gebhard và Heinrich, mặc dù lớn hơn bà ngoại tôi, vẫn có thể duy trì cuộc sống như bình thường. “Hầu như cuối mỗi buổi chiều chúng tôi đều gặp đám bạn cùng lớp để đi dạo quanh khu phố cũ. Khu vườn nhà tôi thật lý tưởng cho đám con trai chúng tôi”. Tại đó hai anh lớn “chiến đấu bằng mớ táo ủng”, thường là dẫn đến chuyện bị quở trách vì đã làm bẩn quần áo. Cả hai vẫn thích chơi đám lính chì với những khẩu pháo nạp đạn tự chế. “Khi ấy”, Gebhard kể, “đây vẫn là một trò chơi vô hại mà khi chơi chúng tôi chẳng nghĩ gì đến sự nghiêm túc chết người của chiến tranh thực sự”. Sau này Gebhard nhớ lại rằng tại Landshut có rất ít điều nhắc họ nhớ đến chiến tranh ngoại trừ chuyện binh lính hành quân qua thị trấn cùng một khẩu lựu pháo Skoda 305mm từ Áo tới, khẩu pháo này khiến bọn trẻ con hết sức tò mò. Heinrich ghi trong nhật ký của mình rằng cha mẹ cậu thường đem nhu yếu phẩm tới nhà ga để úy lạo các binh sĩ bị thương. Trái ngược với những người khác, họ không chút phân biệt giữa lính Đức với lính Pháp bị thương; đối với họ, để tâm chăm sóc là một hành động nhân đạo rất tự nhiên. Mặt khác, chiến tranh ít gây ảnh hưởng đối với họ, “ngoại trừ việc lâu lâu lại có người bị động viên”.

danngoc 26-10-2012 10:30

Hai anh em phải học nhiều tại trường, đặc biệt với những môn mà cha họ đứng lớp. Sau giờ học buổi chiều họ phải ở lại đến tận năm giờ chiều để làm bài tập về nhà, vì thế trong tuần họ còn rất ít thời gian chơi với các bạn hay giải trí vui đùa. Mặc dù vậy, trong cuốn “Hồi ký” của mình Gebhard kể về những buổi chiều muộn vui vẻ đi trượt tuyết trên các cánh đồng nước ngập đóng băng vào mùa đông, hay vào một mùa hè nọ, khi họ được tặng xe đạp, họ đạp xe quanh vùng ven Landshut. Cũng như trong mọi loại hoạt động thể thao khác, Gebhard chơi môn này dễ dàng hơn Heinrich, Heinrich thường mất điều khiển xe và thường phải nhảy vội xuống ngay giây cuối cùng trước khi chiếc xe đâm vào xe đạp của anh trai hay của bạn bè đi cùng.

Gebhard thích đi xem hòa nhạc, hay cậu thường ngồi chơi chiếc đàn organ mới trong nhà thờ dòng Dominican ở địa phương vào buổi chiều; Heinrich và bạn cậu là Falk Zipperer thường tới đó ngồi nghe. Gebhard cũng thích vẽ màu nước và được một thầy dạy hội họa khá giỏi ở trường động viên rất nhiều. Các bức phác thảo đầu tiên khá ấn tượng của Gebhard vẽ những khu cổ của Landshut được thực hiện ngay từ năm 1915. Trái lại, Heinrich thường đi nhà thờ vào buổi sáng, say mê sưu tập tem và tiền xu, đồng thời gần như ngày nào cũng gặp chơi với cậu bạn Falk. Hai bọn họ cùng mơ được đi chiến đấu, cuộc phiêu lưu lớn nhất diễn ra trong quãng đời yên bình của họ tính cho đến nay: “Trên hết tất cả, Falk và tôi muốn được tham dự vào cuộc đánh nhau này”. Heinrich thấy khó chịu vì thể hiện thiếu hăng hái của người dân Landshut đối với chiến tranh. Bản thân cậu ta theo dõi tin tức chiến sự rất chăm chú, chép lại hàng trang báo cáo từ các tờ báo và hoan hỉ trong nhật ký của mình trước những thắng lợi ban đầu. “Hiện nay quân ta đang tiến công rất cừ. Tôi rất vui sướng trước chuyện này trong khi bọn Pháp và đặc biệt là bọn Anh sẽ rất tức tối”. Tháng 9/1914 cậu ta ghi chú về con số ngày càng tăng tù binh chiến tranh Nga: “Số lượng quân Nga bị bắt ở Đông Phổ không phải 70.000 mà là 90.000 (chắc hẳn chúng sinh sản nhanh như sâu bọ)”.

Quan điểm cho rằng Đông Âu bẩn thỉu và sơ khai nổi lên từ cuối thế kỷ mười chín như một phản ứng đối với cảnh đám người di cư Do Thái nghèo đói chạy từ phía đông sang để trốn tránh những cuộc pogrom của Sa Hoàng. Khoảng giữa 1881 và 1914 có hơn hai triệu người Do thái Đông Âu phải bỏ nhà để đi sang phía Tây, hầu hết đều hy vọng được qua Mỹ. Nhiều người không đi quá được nước Đức. Bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bài Do thái thịnh hành thời ấy, người ta xem bọn họ là lạc hậu, nghèo đói, bẩn thỉu và kỳ dị. Chiến tranh đã xác nhận lại hình ảnh về Đông Âu “bẩn thỉu, cần được thanh tẩy, đầy đe dọa, một vùng cần và nên được chinh phục”, như Sarah Jansen viết trong cuốn nghiên cứu lịch sử “Schädlinge. Geschichte eines wissenschaftlichen und politischen Konstrukts 1840-1920.” của bà. Chủ yếu là các bác sĩ và chuyên gia sức khỏe cộng đồng đã tuyên truyền hình ảnh đó ở hậu phương, khuyến khích ý tưởng “thanh lọc chủng tộc” tại những vùng chiếm đóng. Từ năm 1915 trở đi có một chiến dịch gửi thỉnh nguyện lên chính phủ của Năm Hội đoàn Kinh tế nêu lên ý tưởng rằng các vùng đất sáp nhập phải được giao không kèm theo cư dân địa phương, chuyện này trở thành vấn đề ngày càng được công chúng tranh luận; câu hỏi phải làm gì với những người “thừa ngoài nhu cầu” đã bị bỏ ngỏ.

Có lẽ cậu nhỏ Heinrich mười bốn tuổi đã tóm nhặt được điều gì đó trong cuộc tranh luận về “bản chất sơ khai” được gán cho các dân tộc Đông Âu từ ghế nhà trường, trên mặt báo hay thậm chí tại gia đình. Vào lúc cậu ta ghi lại đoạn viết trên trong nhật ký, rất tự nhiên cậu không thể ngờ rằng nhiều năm sau, trong cuộc đại chiến kế tiếp do nước Đức khởi xướng, chính cậu sẽ là kẻ, với vai trò Thống lĩnh SS và Cao ủy Đế chế tại Các vùng Lãnh thổ Chiếm đóng phía Đông, sẽ cố gắng biến giấc mơ thuộc địa hóa phương Đông cho nước Đức trở thành một sự thật tàn ác nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, vài năm sau khi viết đoạn nhật ký trên, khi còn là sinh viên, cậu đã phát triển cái khái niệm về “nhiệm vụ đối với phương Đông man rợ” – ban đầu là một ý tưởng lãng mạn đưa nông dân đến định cư ở Đông Âu, vùng đất “hoang chưa được canh tác” và do đó đơn giản là đang chờ đợi các nhà chinh phục văn minh.


Hết chương 3

danngoc 27-11-2012 16:30

4
“Hết hố đạn này lại đến hố đạn khác”:
Sự sụp đổ của Cựu Thế giới




Trong khi bà ngoại tôi còn đang dùng những kỳ nghỉ hè trong Thế Chiến thứ I đi nhặt mày ngô rơi vãi trên cánh đồng để nghiền bột nấu súp và thường là, đặc biệt trong “Mùa đông Củ cải” năm 1916-1917, “đói hoa mắt đến nỗi không tài nào ngủ được”, gia đình Himmler vẫn tiếp tục đi nghỉ hè ở xa. Ngày 5/8/1915, như mọi người Đức ái quốc chân chính, họ ăn mừng việc chiếm được Warsaw bằng cách xem bắn pháo hoa ở Burghausen, cách Tittmoning không xa, nơi họ đã đi nghỉ mùa hè năm ngoái.

Nhưng sau những trận thắng ban đầu, đà tiến của quân Đức mau chóng bị chặn lại. Binh sĩ chết với số lượng hàng ngàn trong chiến tranh hầm hào đầy chết chóc ở vùng Flander và Ardennes. Nước Đức cần gấp lực lượng dự bị gồm các thanh niên sẵn sàng hy sinh thân mình “vì Tổ quốc”. Ngày càng nhiều, đám học trò không chỉ được đưa ra đi giúp thu hoạch mùa màng và quyên góp cho binh sĩ ngoài mặt trận, mà còn được huấn luyện cơ bản để chuẩn bị cho chiến đấu thực sự. Từ thập niên 1890 người ta đã lập ra Jugendwehren (các lữ đoàn thiếu sinh quân), tổ chức theo các quy tắc quân sự nghiêm ngặt dưới quyền các sĩ quan với cơ cấu như các chi nhánh của những hiệp hội tổ chức ái quốc và dân tộc. Mục tiêu của các tổ chức này là in sâu trong các thế hệ hậu bối “sự tuân lời cha mẹ, thầy giáo và người hướng dẫn”, để biến chúng thành “những công dân trung thành với Đức Thánh thượng, hoan hỉ và tự hào về Tổ quốc mình” và, cần nhưng không phải là đủ, để khuyến khích chúng trau dồi một “tinh thần chiến đấu”. Những khái niệm như vậy được rộng rãi chấp nhận trong giới trung lưu bảo thủ Đức.

Từ đầu năm 1915 Gebhard và Heinrich cũng trở thành đội viên của Jugendwehr vùng Landshut. Tại đấy, cùng với các đội viên lớn khác, họ được huấn luyện sử dụng súng và đánh cận chiến; tham gia vào những khóa tập ngắn hạn dưới sự hướng dẫn của các sĩ quan; và diễu binh tại trường Gymnasium nhân các dịp lễ quốc gia. Tuy nhiên, theo như Heinrich ghi trong nhật ký, hai anh em họ mau chóng nhận thấy toàn bộ trò này quá “nhí nhố”, không đủ chất quân sự.

danngoc 27-11-2012 16:30

Đối với ông ruột tôi Ernst thì những năm tháng đó như thế nào? Các giấy tờ của gia đình cho chúng ta biết rất ít. Ngay từ rất sớm, cũng như các anh mình, Ernst thích những món đồ chơi mang tính kỹ thuật như đường sắt và đầu máy hơi nước. Chiến tranh nổ ra khi ông mới tám tuổi rưỡi, chiến tranh kết thúc ông mới gần mười ba. Sau kỳ nghỉ hè năm 1915 ông nối bước Gebhard và Heinrich vào học trường Gymnasium. Ông cũng là một học trò gương mẫu, có thái độ và hơn nữa là điểm học không thể chê vào đâu được. Vào thời điểm này, theo như Heinrich ghi trong nhật ký, Ernst cũng bắt đầu học chơi piano; tuy nhiên ông không có khiếu nhạc như anh trai Heinrich. Đôi khi các anh cho ông đi cùng – ví dụ như lần họ được mời tới chơi nhà bạn là gia đình Zipperer. Falk Zipperer, bạn thân nhất của Heinrich, có cô em gái Ernst rất thích chơi cùng, nhờ thế mà các ông anh được để yên. Ernst vẫn chưa thể tham gia với các anh trong các hoạt động thú vị hơn, và thậm chí đến cuối chiến tranh ông vẫn còn quá nhỏ để được gia nhập Jugendwehr. Nhưng có lẽ ông cũng tha thiết mơ ước được thực hiện các hành động anh hùng giống như các ông anh.

Sebastian Haffner, nhỏ hơn ông nội tôi hai tuổi và xuất thân trong một gia đình trung lưu đáng kính và bảo thủ tương tự, đã kể lại chuyện những cậu thiếu niên bị bỏ lại ở “mặt trận hậu phương” đã xem chiến tranh như một trò chơi “trong đó, theo các quy định bí ẩn cụ thể, con số tù binh bắt được, số dặm lãnh thổ chiếm được, những pháo đài bị công phá và tàu chiến bị đánh đắm, cũng đóng vai trò hệt như các bàn thắng trong bóng đá và điểm ghi được trong trò đấm bốc”. Cuộc chiến này, Haffner viết tiếp, đem lại cho cả một thế hệ học sinh Đức “sự thỏa mãn phấn khích và xúc động, sâu sắc hơn nhiều so với bất cứ nền hòa bình nào có thể đem lại”. Haffner tuyên bố, trải nghiệm này về sau đã trở thành một trong những cội rễ của Chủ nghĩa Quốc xã – thực chất, đó là “viễn cảnh cơ bản của Chủ nghĩa Quốc xã”, có nguồn gốc “từ những trải nghiệm trong chiến tranh – không phải của binh sĩ Đức ngoài chiến trường mà là của đám học trò Đức tại hậu phương”. Chính từ thế hệ này mà Chủ nghĩa Quốc xã tuyển chọn được những Đảng viên hăng hái nhất và giàu tham vọng nhất.

Ngày 29/7/1915, vào dịp sinh nhật thứ mười bảy của mình, Gebhard gia nhập Landsturm tức lực lượng dự bị quân đội. Ông đã chán những trò tập tành quân sự anh hùng rơm và không thể chờ cho đến khi được tham gia chiến đấu thực sự. Heinrich, dù mới mười lăm tuổi, đã thở dài đầy ghen tỵ, “Ôi, giá tôi lớn như vậy, tôi hẳn đã có mặt ngoài ấy từ lâu rồi”.

danngoc 27-11-2012 16:31

Nhà văn Carl Zuckmayer, người đã tình nguyện ra trận ngay từ khi chiến tranh mở màn, cũng chia sẻ nỗi khao khát chiến đấu đã khiến thanh niên thời ấy hăng hái lên đường ra trận. Trên sườn toa tàu chở binh lính ra chiến trường có viết bằng phấn khẩu hiệu “Thoải mái dạo chơi tới Paris!”. Với đám thanh niên đó không chỉ là sự yêu nước bồng bột, Zuckmayer nói, mà cả cảm giác đột ngột trưởng thành, được cân nhắc mọi việc thật nghiêm túc. Đồng thời, ông thừa nhận, có một kiểu “khao khát được chết, ao ước thần bí được đổ máu hy sinh”, và điều này không chỉ có trong đối với người Đức. Họ nhiệt thành ca hát về khao khát hy sinh của mình ngay trên chiến trường, cho tới lúc không còn muốn ca hát nữa. Bởi trong chiến tranh, Zuckmayer nói tiếp, họ đã học được “những sự khắc nghiệt nhất, sự tẻ ngắt mênh mang, bản chất tầm thường không chút anh hùng của chiến tranh, đi kèm nỗi sợ hãi, kinh hoàng, chết chóc”.

Đã thành quy luật, những người ở hậu phương được biết rất ít về sự vỡ mộng đó. Thông báo chính thức thì không bao giờ có bại trận. Và những ai nghỉ phép hay được xuất ngũ từ mặt trận hầu hết đều cảm thấy khó có thể mô tả nỗi kinh hoàng thực tế của chiến tranh cho những người ở nhà. Trong tiểu thuyết Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh, có lẽ là mô tả nổi tiếng nhất về Thế Chiến thứ I, Erich Maria Remarque đã cho nhân vật chính của mình thốt lên, “Sẽ thật nguy hiểm cho tôi nếu tìm cách mô tả tất cả thành lời, tôi sợ rằng chúng sẽ vuột khỏi tầm tay và tôi không thể kiểm soát nổi chúng nữa. Chúng ta sẽ ra sao nếu mọi người biết rõ về những gì thực sự diễn ra ngoài mặt trận?”

Năm 1916 lứa của Gebhard đã đến tuổi tòng quân bắt buộc. Ban đầu người ta tuyên bố tất cả đều được động viên, nhưng sau đó lệnh động viên được hoãn với những người, giống như Gebhard, được nhận giấy Abitur sớm (Giấy chứng nhận tốt nghiệp phổ thông để được vào đại học). Sau khi đọc lời tuyên thệ được chuyển tới tháng 3/1917, ông phải lựa chọn giữa việc đi thẳng ra mặt trận hay hoàn tất khóa huấn luyện sĩ quan trước. Suốt nhiều tháng Gebhard trao đổi chuyện này với em trai và bạn bè, và chắc chắn cả với cha mẹ mình. Cuối cùng ông quyết định: ông muốn được đào tạo như một sĩ quan bình thường. Đầu tháng 5 ông đăng ngũ với hàm thiếu úy, cấp bậc thông thường cho học viên sĩ quan, vào tiểu đoàn dự bị của Trung đoàn Bộ binh Bavaria số 16 ở Passau. Khu doanh trại phân cho đơn vị ông đã kín chỗ, do đó đám lính trẻ được phép đi tìm chỗ trọ trong thị trấn. Gebhard ở chung nhà với một cựu đồng nghiệp của cha mình, tại đó ông được thu xếp ở rất thoải mái. Mọi việc chỉ trở nên khó khăn khi ông được gửi đi học một khóa học viên sĩ quan tại Grafenwöhr miền bắc Bavaria vào mùa hè năm đó, tiếp theo là khóa học sử dụng đại liên ở Trại Lechfeld gần Landsberg, khoảng 30km phía nam của Augsburg.

Chẳng bao lâu sau đó Falk Zipperer tình nguyện nhập ngũ và Heinrich ngày càng bồn chồn sốt ruột hơn. Các đoạn ghi chép trong nhật ký của ông ta cho thấy ông ta hết sức nôn nóng sao cho cuối cùng có thể “chứng tỏ bản thân” trên chiến trường. Ông ta mong chờ sớm học xong để được huấn luyện thành sĩ quan giống như Gebhard. Cha ông ta liên hệ với mọi mối quen biết của mình – gồm cả những người thuộc hoàng tộc – nhằm thực hiện ước nguyện của Heinrich, mặc dù ông không tha thiết lắm với dự tính của người con. Chiến tranh và cơn sốt ái quốc tập thể dường như đã cuốn phăng đi những lo âu trước đây của ông về đường binh nghiệp với các con, nhưng có lẽ ông muốn Heinrich trước hết phải tốt nghiệp cho xong hơn.

danngoc 27-11-2012 16:32

Thoạt đầu, mọi nỗ lực của người cha đều vô vọng, nhưng cuối cùng ngày 23/12/1917, đúng sinh nhật thứ mười hai của Ernst, Heinrich được nhận giấy gọi nhập ngũ, và ngày 1/1 – lòng bừng bừng nhiệt huyết như ông ta viết cho các bạn và người thân – ông tới Regensburg để học khóa huấn luyện sĩ quan. Tuy nhiên, không như Gebhard, ông ta không thích thú với việc huấn luyện khắc nghiệt và vất vả vật lộn với nỗi nhớ nhà. Ông ta viết thư về nhà gần như mỗi ngày và, mặc dù được đáp lại thường xuyên, vẫn liên tục rên rỉ về chuyện cha mẹ ít thư từ, ví dụ như: “Ít nhất con đã nhận được chút thư của bố mẹ. Con thật đau khổ biết bao trong lúc chờ đợi nó đến”. Thư của ông ta cho thấy ông ta bị giằng xé ra sao giữa việc ca thán như vậy với niềm kiêu hãnh mà ông ta cảm thấy khi cuối cùng được trở thành một chiến sĩ. Một bức thư viết tháng 1 được ông ta ký tên: “Miles Heinrich”, tiếng Latin có nghĩa là Heinrich-người chiến binh, kèm theo mô tả chi tiết về các nghi thức quân sự. Ông ta đều đặn xin nhà gửi tiếp phẩm do thức ăn ở đấy kém, và xin gửi các món vật dụng khác cũng như thực hiện các mong muốn của mình, mặc dù ngay sau tháng đầu tiên ông ta đã được cấp giấy cho phép về thăm nhà gần như mỗi dịp cuối tuần. Mẹ ông ta cố gắng làm nhẹ bớt sự khắc nghiệt của cuộc đời quân ngũ bằng việc đều đặn gửi bưu phẩm những món apfelstrudel (“tuyệt hảo thực thụ”). Đánh giá của ông ta về thức ăn căng-tin (“khá ngon, nhưng nấu khét và nguội ngắt”) và về món thịt lợn rán được phát ở quầy bia vườn hoa (“tuyệt, dù không mềm bằng hôm qua”) cũng thâm thúy và mang tính phê phán hệt như trong thời bình.

Tuy nhiên chẳng mấy chốc ông ta đã quen với cuộc sống mới của mình và thư của ông ta trở nên vừa tự tin hơn vừa bớt thường xuyên đi. Giờ đây ông ta mô tả công việc hàng ngày của mình thật chi tiết để cho cha mẹ rõ rằng ông ta “thực sự không có nổi một phút rảnh rỗi” để viết thư, sau đó lập tức quả quyết với họ “mặc dù vậy, con thích nơi đây bởi đây là một tổ chức quân sự quan trọng”.

Ngày 9/4/1918, sau một khóa huấn luyện rút gọn kéo dài chỉ một năm trời, Gebhard được phân tới mặt trận phía tây. Trên đường từ Passau tới Lorraine, trung đoàn của ông ta dừng chân ở Regensburg, tại đây Heinrich túa đi tìm nơi trọ và thực phẩm dự trữ cho đơn vị của Gebhard. Heinrich là một nhà tổ chức rất tài năng, nhưng ông ta cũng thích tặng quà cáp cho những người gần gũi với mình, giúp đỡ hay ban phát hỗ trợ cho họ.

danngoc 27-11-2012 16:33

Ban đầu trung đoàn của Gebhard đóng quân ở Lorraine, nhưng sau đó nó trải qua một thời gian dài trên chiến tuyến, tại Château-Thierry, đông bắc Paris. Sau này ông ta ghi lại trong cuốn “Hồi ký” của mình:

Có những lúc rất nhiều chuyện dồn dập xảy ra, trọng pháo liên tục nã xuống càng lúc càng dữ dội cho tới khi cuộc phản công của quân Anh Mỹ buộc chúng tôi phải rút lui. Chúng tôi ở ngay trước một đột phá khẩu rộng của quân Đức trên phòng tuyến địch, nhưng chúng tôi không tài nào khai thác được do thiếu quân dự bị và khí tài. Làm giao liên đưa tin nhắn tới lui giữa tiểu đoàn và trung đoàn, mỗi ngày tôi chạy hết một cột mốc “còn 65km nữa tới Paris”!

Gebhard hẳn có lẽ cũng thích chuyến “thoải mái dạo chơi tới Paris”; thậm chí nhiều năm sau ta vẫn còn có thể cảm thấy toát lên từ hồi ký của ông sự hấp dẫn kỳ diệu mà thành phố này tỏa ra. Trong những năm hòa bình ông chưa lần nào có dịp đến thăm Paris.
Theo Gebhard, bọn họ thoát khỏi công tác hậu tuyến này “với cả tiểu đoàn chỉ sót lại có ba mươi người”. Ngoài một vết bỏng trên tay do mảnh đạn, ông không bị hề hấn gì. Con số có thể xê xích đôi chút, nhưng một tiểu đoàn nhìn chung gồm từ ba đến năm đại đội với tổng cộng bốn trăm tới tám trăm người cả thảy. Như thế có nghĩa là đơn vị của Gebhard chỉ còn lại dưới 10 phần trăm quân số.

Trong Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh, thiệt hại của một đại đội gần giống với tiểu đoàn của Gebhard. Nhưng Remarque, không như Gebhard, đã kể lại một cách không khoan nhượng việc tất cả gần như bị xóa sổ hoàn toàn ra sao, mô tả cuộc tàn sát kinh khủng, chuyện cắt xẻo xác chết, những đau khổ của cái chết thoi thóp nhiều ngày trời. Theo lời Remarque, trong khi đám lính lớn tuổi về mặt tinh thần được chuẩn bị tốt hơn để sống sót qua chiến tranh bởi đối với họ chiến tranh chỉ là sự gián đoạn cuộc sống đời thường, cánh trẻ hai mươi tuổi khi bị chiến tranh “quét qua”, “theo một cách kỳ dị và buồn thảm [họ] đã trở nên chai sạn đi”. Thậm chí chỉ sau vài tháng ngoài mặt trận tuổi trẻ của họ dường như đã hoàn toàn lùi vào dĩ vãng: “Giờ chúng tôi đã già”.

danngoc 27-11-2012 16:34

Sau cuộc rút lui bắt buộc, đơn vị của Gebhard được cho đi nghỉ hồi sức tại Flanders gần thị trấn Ypres thuộc Bỉ, vốn đã bị phá hủy hoàn toàn sau mấy tháng chiến tranh hầm hào khiến khu vực xung quanh bị biến thành cảnh quan lồi lõm như trên mặt trăng. Ngày 4/9/1918, không lâu trước khi chiến tranh kết thúc, tại đây ông đã viết một lá thư gửi em trai, khi này vẫn còn nôn nóng kẹt lại trong trại huấn luyện. Gebhard vừa được thăng chức quản cầm cờ và được tặng Huân chương Chữ thập Sắt hạng hai. Ông nói ông vẫn khỏe, ngoại trừ phải gánh lũ rận trong hầm do lây của bọn Anh. Cảnh quan nói chung “rất Flanders, trong tầm mắt không thấy một cái cây hay bụi rậm nào còn lành lặn, chỉ toàn hết hố đạn này lại đến hố đạn khác”.

Ông lo lắng liệu em trai mình có vượt qua được bài tập súng máy sắp tới không, trong đó học viên sĩ quan bị đặc biệt đối xử khắc nghiệt. Mặc dù vậy ông còn lo hơn rằng Heinrich có thể bị đưa tới một trung đoàn “vẫn còn bị kẹt trong cảnh hỗn loạn thực sự - đó không phải là nơi ta có thể làm quen dần được”. Với “cảnh hỗn loạn thực sự” có lẽ ông muốn nói tới những trận đấu pháo dữ dội dẫn đến các thiệt hại lớn về người mà bản thân ông chắc hẳn đã trải qua, mặc dù ông đều không đề cập đến chuyện này cả trong thư khi ấy lẫn những gì ông viết sau này về thời gian chiến tranh.

Tuy nhiên, con gái ông đã nhớ lại rằng cha mình đã kể cho bà nghe ông kiệt sức đến nỗi lăn ra ngủ trong một hố đạn pháo và ngủ say tới mức có một viên đạn bay qua sát sạt người ông mà ông vẫn không tỉnh dậy. Bà cho tôi xem cuốn sổ phác thảo mà kể từ mùa hè cuối cùng của cuộc chiến tranh đó ông đã phác thảo hình ảnh nhà thờ, phong cảnh, làng xóm và thị trấn, một số trong đó vẽ bằng màu nước. Giữa những cảnh tàn phá, trong đó bản thân ông có tham dự, Gebhard vẽ những cảnh điền viên. Một trong các phác thảo của ông vẽ những thân cây xơ xác và các hố đạn sau một trận đánh; ở bức khác là cảnh ban đêm tại cũng chính quãng mặt trận ấy, bị chiếu sáng bởi ánh lửa đạn pháo. Có lẽ đó là cách để ông vượt qua được những xúc cảm trong chiến tranh, cách để ông chiến đấu chống lại sự chai sạn tâm hồn của bản thân.

danngoc 27-11-2012 16:35

Trong Tôi là một lính Đức Ernst Toller đã viết về những trận đánh trong đó, bị vây quanh bởi bẩn thỉu, bùn lầy và xác chết, con người không còn biết mình đang đánh nhau với ai hay họ đang chiến đấu vì cái gì; những trận đánh trong đó mọi thứ đều tụt xuống chỉ còn là vấn đề liệu họ có sống sót được không, cho đến khi cuốn cùng ngay cả chuyện đó cũng trở thành không phù hợp. Zuckmayer và Remarque xem cuộc chiến này là “sự tự sát của thế giới”, sự hủy diệt tương lai tự chuốc lấy do việc xóa sổ gần như cả một thế hệ. Chiến tranh khiến Toller trở thành một người vì hòa bình và nhà cách mạng cánh tả. Không lâu sau đó ông đóng một vai trò quan trọng trong chính phủ đoản thọ Räterepublik Bavaria (cộng hòa cách mạng theo kiểu Liên Xô) – trong khi Gebhard và Heinrich lại ở phe bên kia với vai trò thành viên Freikorps chống lại phía cộng hòa.

Ngày 23/9/1918 Gebhard dẫn đầu một nhóm xung kích đã tình cờ bắt gặp một toán quan trắc pháo binh Anh và bắt họ làm tù binh. Vì chiến công này ông được trao Huân chương Chữ thập Sắt hạng nhất. Vài ngày sau trận đánh cuối cùng tại vùng Flanders nổ ra, trong đó quân Đức không còn cách nào khác ngoài việc rút lui trước mặt quân thù có lực lượng vượt trội.

Với nhiều người Đức, việc chiến tranh chấm dứt với nước Đức phải đưa ra đề nghị đình chiến ngày 3 tháng 10, việc thoái vị và lưu vong của Kaiser và việc tuyên bố thành lập nước cộng hòa ngày 9 tháng 11 đã nổ ra như sấm giữa trời quang. Những năm tháng tuyên truyền và thường xuyên rêu rao các trận chiến thắng đã khiến họ sống lơ lửng trong một thế giới không có thật; giờ đây họ bị thô bạo đánh thức đột ngột khỏi giấc mơ bá chủ thế giới và hy vọng thắng trận. Nước Đức không bị ảnh hưởng trực tiếp của sự tàn phá do chiến tranh bởi chiến tranh diễn ra trên lãnh thổ các nước kế cận, nhưng số lượng người Đức bị giết và bị thương tật thật khổng lồ. Hơn nữa, nền kinh tế của nó gần như đã phá sản và không nghi ngờ gì rằng các đại cường thắng trận không hề muốn thấy nước Đức lấy lại được sức mạnh vốn có trước đó.

Giới quân sự – trước hết và trên hết là Tướng Ludendorff đầy quyền lực, vị anh hùng đầy huân chương của trận thắng Tannenberg ở Đông Phổ người có tiếng nói quyết định trong việc xác định chiến lược của quân Đức trong hai năm cuối chiến tranh và là người đã ngăn trở mọi bước đàm phán hòa bình – cảm thấy dễ đổ lỗi việc bại trận và các hậu quả thảm họa sau đó cho những người mà, sau cuộc cách mạng đoản mệnh thời hậu chiến, đang cố gắng tạo lập nền trật tự dân chủ đầu tiên tại nước Đức. Một huyền thoại được thêu dệt theo đó đám Đảng viên Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Cộng sản đã chuẩn bị từ lâu một cuộc cách mạng tại Đức và, phản bội lại Tổ quốc, họ đã “đâm vào sau lưng” các chiến sĩ chiến đấu vì đất nước. Huyền thoại này được phổ biến rộng khắp trong số những người bảo thủ, đặc biệt sau khi phe thắng trận áp đặt các điều kiện khắc nghiệt và những khoản bồi thường thiệt hại khổng lồ tại Hiệp ước Versailles.

danngoc 27-11-2012 16:36

Thế giới của gia đình Himmler đổ sụp. Giống như nhiều người khác, họ đã mua nhiều trái phiếu chiến tranh. Nếu căn cứ theo truyền thống gia đình thì thậm chí họ hẳn đã đầu tư một phần tài sản đáng kể của mình vào đó. Căn cứ tính tiết kiệm thường ngày và thái độ ưu tiên an toàn là hàng đầu của họ đối với chuyện tiền bạc, hẳn họ đã chắc mẩm rằng nước Đức sẽ thắng trận. Việc bại trận không chỉ làm tiêu tan mọi hy vọng của họ về vị trí cường quốc trên thế giới của nước Đức, sự kết thúc của vương triều còn làm tiêu tan vĩnh viễn những mối quan hệ đầy ảnh hưởng của họ với gia đình hoàng gia mà họ bỏ bao cố gắng mới xây dựng được và đã luôn nhờ cậy vào đó, mặc dù điều này đã suy giảm sau cái chết của Công tước Heinrich, tử thương tại Romania tháng 11/1916.

Cái chết của vị công tước ba mươi hai tuổi là một đòn nặng đối với gia đình Himmler; ngay từ lúc ấy hẳn họ đã cảm nhận được những cơn lo lắng đầu tiên về khả năng đánh mất địa vị trong xã hội. Là những người ủng hộ trung thành cho vương triều họ luôn phấn đấu càng gần gũi giới quý tộc càng tốt bởi với một gia đình trung lưu như thế tức là được mở mày mở mặt với đời. Do đó, họ khó mà có cảm tình với những thay đổi chính trị sắp sửa diễn ra khi đó. “Tháng 11 năm 1918”, Gebhard Con than thở trong “Hồi ký” của mình, “cách mạng quét bay đi nền quân chủ Đức. Ludwig III, vị vua cuối cùng của Nhà Wittelsbach, không còn chút nào của lòng kiêu ngạo của vương triều Phổ, lúc nửa đêm đã lên máy bay bay đi mà không có một người lính nào trong số vô số binh sĩ đang êm ấm đóng quân ở Munich chịu nhấc một ngón tay để giúp đỡ”.

Sau Hiệp ước tháng 11, Gebhard hành quân quay từ Flanders về Aachen, “tiêu chuẩn” mỗi ngày từ ba mươi tới bốn mươi cây số trên quãng đường khoảng bốn trăm năm mươi cây số. Đơn vị của ông mau chóng được bố trí canh gác cây cầu bắc qua sông Rhine tại Duisburg; sau đó – khi này đã là giữa tháng 12 – họ cuối cùng được cho vận chuyển về nơi đồn trú ở Passau, tại đó Heinrich vui mừng được gặp lại anh mình. Cả hai đều xoay sở về thăm nhà ở Landshut đúng dịp Giáng Sinh. Gebhard tận hưởng “cảm giác tuyệt vời về quay trở về nhà và được xuất hiện lành lặn sau những nếm trải khủng khiếp trong cuộc chiến tranh tàn bạo toàn bom đạn hạng nặng”.

danngoc 27-11-2012 17:04

Làm sao một thanh niên hai mươi tuổi có thể đi tới việc chung sống yên bình với những ký ức như vậy, đặc biệt là khi anh ta được nuôi nấng trưởng thành trong điều kiệm êm ấm đầy đủ? Thậm chí ngay Heinrich chắc cũng khó là kiểu người có thể nói về những gì mình đã trải qua, bởi trong thời gian đi lính ông ta chưa khi nào rời khỏi nơi đồn trú. Với Heinrich, đã vỡ mộng người hùng, việc thiếu cơ hội để chứng tỏ bản thân trong chiến đấu không chỉ là một nỗi thất vọng to lớn mà có lẽ nó vẫn dai dẳng bám lấy ông ta như một nỗi nhục cho tới cuối đời. Ông ta không chỉ phải từ bỏ giấc mơ trở thành sĩ quan chuyên nghiệp mà còn không có cả được bằng tốt nghiệp trường sĩ quan. Trong khi Gebhard về nhà sau chiến tranh trong tư thế dạn dày trận mạc, được khen thưởng huân chương và, như thể có phép màu, không bị mang thương tích, và có thể bắt đầu học đại học ngay lập tức sau khi từ Pháp trở về, Heinrich lại phải cực kỳ miễn cưỡng quay về với lớp học phổ thông. Dẫu vậy, kinh nghiệm ông ta rút ra được, dù có thiếu, là ông ta cần giữ vững nỗi khao khát thực hiện các chiến công; mơ ước lãng mạn và huyền bí của ông ta về cuộc đời chiến binh vẫn nguyên vẹn không sứt mẻ.

Nhật ký của Heinrich cho ta rõ cảm xúc khâm phục pha lẫn ghen tỵ mà ông ta luôn có đối với anh trai mình, mặc dù luôn gắn bó với anh trai. Đó không đơn giản là chuyện Gebhard lớn tuổi hơn, mà ông còn vượt hơn Heinrich ở nhiều khía cạnh. Thậm chí khi còn nhỏ Heinrich đã có nhiều cố gắng to lớn nhưng lại vụng về và không thành công chỉ để hiểu ra là mọi thứ Gebhard đều dễ dàng đạt được một cách rõ ràng. Nhưng ông ta không thể bì được với thành tích dễ dàng của Gebhard. Trong nhiều năm liền sự tự tin của ông ta đều có được từ cảm giác vượt trội so với Ernst. Không nghi ngờ gì ông ta yêu quý người em trai mình mà ông ta vẫn gọi là “Ernsti” hay Ernstl”, hay “Bubi” hay “Mizzi” như mọi người khác vẫn gọi, còn Ernst thì thấy thích khi Heinrich, trái hẳn với ông anh Gebhard, rất quan tâm tới mình. Cho tới khi học xong phổ thông ít nhất tình trạng sức khỏe đáng lo của Heinrich đã đảm bảo cho ông ta sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ. Những than thở thường xuyên của ông ta trong thư từ về sức khỏe kém mau chóng làm tăng sự quan tâm mà ông ta thích thú, đặc biệt là của bà mẹ; mặt khác, vai trò là kẻ yếu ớt trong gia đình của ông ta khiến ông ta khó tự mình đứng trên hai chân. Nỗi nhớ nhà mà ông ta phải chịu ở Rengensburg cho ta thấy điều này.

Ngay khi rời khỏi mái ấm gia đình, để có được sự công nhận của gia đình Heinrich đã ném mình một cách gan lì cương quyết vào một vai trò mới: vai trò một nhà tổ chức sẵn sàng nhìn thấy hết mọi chuyện, kẻ khiến mình trở nên không thể thiếu được nhờ kiếm ra và mang về những món hàng hiếm và các thứ khó kiếm khác. Đó là vai trò mà ông ta thực hiện ngày càng rõ hơn trong những năm tiếp sau và là vai trò mà ông ta nắm giữ cho tới tận khi Đệ Tam Đế chế sụp đổ.

HẾT CHƯƠNG 4

danngoc 20-12-2012 11:08

5
“Thứ Sáu này chúng ta sẽ nổ súng”:
Hai anh em trong Freikorp




Gebhard không có nhiều thời gian để hồi sức sau chiến tranh; đã đến lúc bắt đầu học kỳ mới. Đó là thời kỳ rất bất ổn. Hàng triệu người trở về nhà sau chiến tranh và không biết phải làm cái gì tiếp theo. Đất nước rời rã và hỗn loạn. Ngày 29/10/1918 các thủy thủ tại Kiel và Wilhelmshaven nổi loạn và trong vòng vài ngày cuộc nổi loạn đã lan đi khắp nước Đức. Tại tất cả các thị trấn lớn đều thành lập những ủy ban cách mạng của công nhân và binh sĩ (các xô-viết), yêu cầu Đức hoàng Kaiser thoái vị và tuyên bố nền cộng hòa. Ngày 15/1/1919, khi Gebhard đang bắt đầu khóa học kỹ sư cơ khí của mình tại Đại học Kỹ thuật Munich, Karl Liebknecht và Rosa Luxemburg đã bị bắt giam và sát hại tại Berlin. Bốn ngày sau đó diễn ra cuộc bỏ phiếu tuyển cử vào Quốc hội, đi kèm với những trận chiến đường phố đầy bạo lực ở thủ đô.

Sự vô định của tình thế chính trị khiến Gebhard thật khó tập trung vào việc học và nghề nghiệp tương lai. Thêm nữa, điều kiện sống của ông không mấy dễ chịu: “Một cái buồng ngủ vừa dùng làm phòng khách rất bất tiện ở phố Schellingstrasse, không có đủ than để sưởi ấm, không có đủ bánh mì để mua theo tem phiếu... một thời kỳ hết sức không dễ chịu”. Chiến tranh vẫn bám theo Gebhard với đủ thứ thiếu thốn; điều làm ông khó chịu nhất là “bầu không khí bất ổn trong thành phố”, sự thiếu trật tự, sự hỗn loạn của thời hậu chiến. Tại Bavaria cũng vậy, “các ‘ủy ban binh sĩ’ đang ba hoa khoác lác đủ thứ trên đời”.

Munich là trung tâm của “phong trào xô-viết”. Từ ngày 8/11 có một chính phủ liên minh tại thủ phủ vùng Bavarian giữa những người Dân chủ Xã hội Chính và Dân chủ Xã hội Độc lập dưới sự dẫn dắt của nhà Xã hội Độc lập Kurt Eisner. Eisner, một nhà báo sinh tại Berlin, đã rời khỏi Đảng Dân chủ Xã hội năm 1916 để phản đối việc nó ủng hộ chiến tranh. Đầu năm 1918 ông đã tổ chức các cuộc bãi công tại nhiều nhà máy vũ khí tại Munich, sau đó bị bắt, rồi được thả sau vài tháng. Ngày 7/11, sau một cuộc tuần hành lớn trên khu Theresienwiese (nơi ngày nay vẫn tổ chức Hội bia Oktoberfest), ông đã thành công trong việc chiếm được các bộ và cung điện hoàng gia. Hoàng đế tháo chạy và nền cộng hòa được tuyên bố thành lập.

danngoc 20-12-2012 11:09

Eisner trở thành thủ tướng của Cộng hòa Bavaria, nhưng phải đấu tranh chống lại những phản kháng đáng kể. Với những người xã hội như Ernst Toller và Max Levien cùng những người vô chính phủ như Gustav Landauer và Erich Mühsam, cuộc cách mạng này đi chưa đủ xa. Họ đòi hỏi phải củng cố vị thế của các ủy ban công nhân binh sĩ. Với chỉ có 2,5% số phiếu, phe Xã hội Độc lập của Eisner bị thất bại liểng xiểng; phe Dân chủ Xã hội Chính được 33% số phiếu bầu. Chiến thắng trong cuộc bầu cử là Đảng Nhân dân Bavaria mới thành lập, cánh chính trị của phe Cơ đốc giáo, bản thân nó đại diện cho việc đảm bảo ổn định và trật tự trong thời kỳ bất ổn. Tại cuộc bầu cử vào Quốc hội Bavaria ngày 12/1, lần đầu tiên phụ nữ Bavaria, trong số đó có bà cố tôi, được phép đi bầu. Có lẽ gia đình Himmler đã đồng loạt bầu cho Đảng Nhân dân Bavaria.

Ngày 21/2/1919 Eisner bị ám sát trên đường đi tới Quốc hội Bavaria bởi một sĩ quan dân tộc chủ nghĩa cánh hữu trẻ tuổi, Bá tước Arco-Valley. Ngày 17/3 Đảng viên Dân chủ Xã hội Johannes Hoffman trở thành tân thủ tướng. Trong những tuần tiếp theo diễn ra sự vô chính phủ, trên hết là tại Munich. Ngày 7/4 tại Cung Wittelsbach, Hội đồng Trung ương, hình thành bởi phe Xã hội Độc lập và vô chính phủ, đã tuyên bố thành lập chính phủ Räterepublik Bavaria; chẳng bao lâu sau nó bị lật đổ bởi chính phủ thứ hai, Räterepublik “thực thụ” của phe Cộng sản dưới chỉ đạo của Eugen Leviné. Nền cộng hòa này kéo dài chưa đầy hai tuần và kết thúc trong bạo lực và đổ máu. “Hồng quân” vừa được vội vã tập hợp không có một cơ hội nào để chống cự nổi với những đơn vị quân đội thường trực và các Freikorp Bavaria đang diễu hành tại Munich.

Đồng thời, sau đòn tấn công chết người với Kurt Eisner, có tên thật là Salomon Kosmanowskis, cộng hòa xô-viết đã được phát động [Gebhard lưu ý trong “Hồi ký” của mình]. Có nhiều lần, thường chỉ trong vòng vài giờ, không chỉ thế giới ngầm chính trị mà cả tội phạm ở Munich đã bò lên khỏi hầm nhà và bắt đầu chiếm lấy thành phố - những hình bóng tối thẫm, được gọi là thủy thủ - cho tới khi cuối cùng, ngày 1/4/1919, thành phố đã nằm trong tay chúng. Việc học của tôi tất nhiên là lại bị gián đoạn... Munich, nơi từ đó chính phủ yếu ớt của Hoffman đã phải bỏ chạy về Bamberg, phải được giải phóng từ phía bên ngoài.

danngoc 21-12-2012 13:13

Thực ra, vẫn có thể chiếm lấy Munich mà không cần can thiệp vũ trang. “Ủy ban Hành động”, đặc biệt là Ernst Toller, đã nhiều lần đề nghị đàm phán với Hoffman, và ngày 1 tháng 5 “Hồng quân” đã được ra lệnh định ngày hạ khí giới. Trong quá trình diễn ra những “chiến dịch phổ thông” mà, theo như lời Gebhard, đã đặt dấu chấm hết cho “cơn ác mộng đỏ”, một đội quân 33.000 người với pháo binh, súng phun lửa, xe bọc thép và thậm chí cả máy bay đã chiếm ưu thế vượt trội trước những công nhân chỉ vũ trang với độc những trang bị hoàn toàn không phù hợp. Thậm chí nhiều thập kỷ sau, mô tả của Gebhard vẫn còn khép kín che dấu cho thái độ của cánh Freikorps: không có đàm phán với những người cách mạng cánh tả mà trong mắt họ là “đám tội phạm”. Chiến dịch này, có mùi vị của một cuộc tàn sát thanh lọc pogrom, được tuyên bố là có 650 người chết, với hơn phân nửa là thường dân; trong tình trạng thiết quân luật những tháng sau đó có thêm hàng trăm người là nạn nhân của các cuộc hành quyết ngay tại chỗ.

Heinrich đã tham gia cuộc tuần hành tại Munich cùng Phân đội Schaaf của Freikorps Landshut, mặc dù khi ấy ông ta đáng ra phải học một khóa học không chính thức cho phép ông ta có thể hoàn tất bằng chứng nhận tốt nghiệp. Cuối cùng ông ta đã có cơ hội chứng tỏ bản thân là một chiến binh. Đơn vị ông ta chiến đấu từ phía đông của thành phố, dọc theo phố Rosenheimer Strasse và băng qua những chiếc cầy bắc ngang Sông Isar dẫn tới khu trung tâm. Tại quảng trường Karlplatz ông ta tham gia trận đánh dữ dội chống lại các công nhân cách mạng trang bị kém cỏi. Ngày 3 tháng 5 Munich được “giải phóng”.

Điều này có nghĩa là kết thúc “sự cai trị của bọn nhà văn ở Café Megalomania, bọn Toller, Erich Mühsam cùng đồng bọn”, Gebhard thoải mái nhấn mạnh – Mühsam đã bị bắt và tống giam, Gustav Landauer bị giết chết trong Nhà tù Stadelheim – nhưng có nói thêm là ông tiếc rằng “bọn tội phạm vẫn tìm cách giết hại được những con tin ở tầng hầm của Trường Gymnasium Luitpold”. Vào học đại học, Gebhard lại một lần nữa trở lại sống trong khu dân cư nơi ông đã trải qua thời niên thiếu, và “Café Megalomania” cũng vẫn là quán Café Stefanie đằng sau trường đại học, qua cửa sổ quán ông ngồi quan sát đám chơi cờ, hệt như hồi còn nhỏ.

Tình hình hỗn quân hỗn quan, đặc biệt là vụ “Hồng quân” xả súng bắn chết hai mươi hai con tin – bao gồm bảy thành viên Hội Thule gồm những kẻ bài Do Thái và dân tộc chủ nghĩa – tại Trường Gymnasium Luitpold đã khiến người dân Munich kinh hãi. Nó phủ bóng đen lên những tội ác do các lực lượng “giải phóng” thực hiện, vốn có khuynh hướng được xem như là những biện pháp cần thiết “để lập lại trật tự”; từ nay trở đi ký ức về thời khủng bố của nền cộng hòa kiểu Liên Xô, bị phóng đại phục vụ cho mục đích tuyên truyền, sẽ đóng góp cho việc lý tưởng hóa “những người giải phóng”.

danngoc 21-12-2012 13:14

Điều này xảy ra mặc cho có thực tế như Sebatian Haffner đã viết trong Geschichte eines Deutschen (Cuốn tự truyện Geschichte eines Deutschen (Câu chuyện của một người Đức) của Sebatian Haffner, một người Đức lưu vong năm 1938 cùng người vợ gốc Do Thái, viết về cuộc đối đầu của bản thân với chính quyền phát xít. - ND):

Tổ chức Freikorps rất giống với những đội xung kích Quốc xã sau này mà hầu hết bọn họ về sau đều gia nhập. Rõ ràng chúng có cùng quan điểm, cùng cung cách ứng xử và cùng cơ chế chiến đấu. Chúng đã phát minh ra phương pháp “nổ súng do đối tượng tìm cách chạy trốn”, và có những tiến bộ đáng kể trong khoa học tra tấn. Chúng cũng tham gia những sự kiện ngày 30/7/1934 cùng với thói quen trơ tráo bắt những người chống đối kém quan trọng hơn đứng úp mặt vào tường, không cần hỏi han hay phân bua gì nhiều.

Những tuần lễ của “cộng hòa xô-viết” đã đi vào ký ức tập thể như là “triều đại của khủng bố”, được tóm gọn là một âm mưu giáng xuống xứ Bavaria của bọn Do Thái, bọn can thiệp bên ngoài và mấy nhà văn trong những quán café Schwabing. Vì vậy tuyên bố của Gebhard rằng tên thật của Kurt Eisner là Salomon Kosmanowskis đã phản ánh lối tuyên truyền cánh hữu thời kỳ đó cố gắng bôi bẩn các chính trị gia cánh tả bằng cách biến họ thành ông ba bị hù dọa giai cấp trung lưu, “bọn Bolshevik Do Thái”. Trong cuốn Volksbuch vom Hitler (Sổ tay của Hitler, xuất bản năm 1924) của Georg Schott, rất phổ biến trong giới cánh hữu và sẽ rất quan trọng đối với Heinrich vài năm sau đấy, Eisner cũng được mô tả là một người Do Thái xứ Galacia tên là Salomon Kosmanowskis. Những người thực sự chiến thắng xuất hiện sau những tuần lễ thảm họa của “cộng hòa xô-viết” Bavaria là đám cánh hữu cấp tiến. Trong các năm tiếp sau đó họ đã thành công trong việc quấy động lòng căm thù “chủ nghĩa bolshevik” và nỗi lo sợ “một âm mưu quốc tế của bọn Do Thái”.

danngoc 21-12-2012 16:12

Mùa hè năm 1919 Giáo sư Himmler được bổ nhiệm chức hiệu trưởng trường Gymnasium ở Ingolstadt, phía bắc Munich. Đó có nghĩa là một bước tiến mới, với tất cả những phiền nhiễu đi kèm, và thêm một lần đứa con nhỏ nhất của họ phải chuyển trường. Ngoài ra, Ingolstadt là một thị trấn có lính đồn trú không mấy phần hấp dẫn. Nhưng sự thăng tiến địa vị xã hội nhờ chức hiệu trưởng mang lại chắc hẳn rất hấp dẫn đối với Gebhard Cha.

Ban đầu ông chuyển tới đây một mình, vợ ông và Ernst theo sau ông vào cuối tháng Chín, khi căn hộ nhà nước cấp bên trong trường đã được thu xếp sẵn sàng. Ingolstadt nằm bên sông Danube, chỉ cách Neuborg an der Donau khoảng hai mươi cây số, nơi Gebhard Cha từng học trường nội trú ở đấy. Cách đấy không xa là Abensberg, thị trấn nhỏ quê cha của Anna Himmler và là nơi bà vẫn còn nhiều bà con họ hàng.

Lần này Heinrich thi đậu được kỳ tốt nghiệp Abitur. Lúc này, trước sự ngạc nhiên của nhiều người, ông ta bất ngờ tuyên bố rằng mình muốn học canh nông, vốn không nghi ngờ gì nằm ngoài phạm vi các nghề nghiệp mà cha mẹ họ nghĩ rằng phù hợp cho con cái. Nhưng họ đã tôn trọng quyết định của ông ta và, như thường lệ, đã hỗ trợ ông ta hết khả năng của mình; họ tìm cho ông ta một nơi để làm việc lấy kinh nghiệm, sao cho ông ta có thể ngay từ tháng Tám lập tức bắt tay vào làm trong một điền trang ở phía bắc Ingolstadt.

Rõ ràng Heinrich chỉ có trong đầu một hình ảnh lý tưởng hóa về miền thôn quê, cũng như về cuộc sống sĩ quan trong quân ngũ. Sự hoài nghi của cha mẹ đối với lựa chọn của ông ta dường như được xác nhận khi, do tính nhạy cảm với bệnh tật, ông ta đã chứng tỏ mình không kham nổi sự khắc nghiệt của lao động chân tay mặc dù có tính kiên quyết lì lợm, và nằm liệt giường vì bệnh phó thương hàn chỉ sau có bốn tuần ở đó. Ông ta nằm suốt tháng Chín ở bệnh viện tại Ingolstadt, được cha đến thăm mỗi ngày trong khi mẹ thì lo lắng đến mức phát ốm ở Munich. Trong một bức thư ngày 11/9 ông ta cam đoan với mẹ rằng mình đang làm tốt, và rằng bà không cần lo lắng chút gì về ông ta nữa. Ông ta khinh khỉnh nhắn thêm cho Ernst do rõ ràng đã từ lâu không viết thư cho ông ta: “Nếu gã Ernsti lười chảy thây ấy có đủ sự tự phụ để tưởng tượng rằng con sắp trả lời lá thư đầu tiên của hắn sáu tuần trước thì quả là hắn đã sai lầm nghiêm trọng rồi đó”. Và nhân cơ hội này lôi chung cả cha mình vào, ông ta tiếp tục, “Cả cha lẫn con cũng sẽ không thèm viết cho gã lười ấy đâu”.

danngoc 21-12-2012 16:26

Sau lần bệnh nặng áy ông ta phải từ bỏ chỗ làm lấy kinh nghiệm, và vào mùa thu 1919, chỉ muộn một học kỳ sau Gebhard, ông ta ghi danh vào Đại học Kỹ thuật ở Munich để học canh nông. Ban đầu ông ta nhận một phòng trong cư xá sinh viên ở Schellingstrasse giống như anh trai, nhưng chỉ ít lâu sau hai anh em cùng chuyển ra một ngôi nhà khác, tại khu phố mà cả hai đã sống thời thơ ấu: “Cả Heinrich và tôi đều đang học ở Munich, chúng tôi có một nơi ở rất ấm cúng nhuốm đầy vẻ ẩn tu quý phái quyến rũ, Lâu đài Nữ bá tước, tại tầng bốn của ngôi nhà ở góc đường Theresienstrasse với Amalienstrasse. Bữa trưa và bữa tối của chúng tôi được chăm sóc chu đáo tại Quán trọ Loritz ở phố Jägerstrasse gần đấy, tại đây chúng tôi mau chóng gia nhập một nhóm bạn rất thân thiện và dễ mến”, Gebhard nhớ lại.

Về mặt tiền bạc họ duy trì mức độ chi tiêu khá chặt chẽ: gia đình Himmler không còn dư dả tẹo nào như trước chiến tranh nữa. Mặc dù vậy, cha mẹ họ vẫn dùng mọi nỗ lực để cho phép họ theo học đại học trong các điều kiện rõ ràng có thể nói là khá thoải mái.

Quán trọ Loritz chỉ cách trường đại học có vài con phố và cách phòng trọ của họ năm phút đi bộ. Ở đấy họ có một tổ ấm với bầu không khí xã hội chấp nhận được – cha mẹ họ biết rõ Frau Loritz từ thời bản thân họ còn sống ở phố Amalienstrasse. Tại đó hai anh em được gặp những người cùng lứa tuổi, trong đó có cả hai cô con gái nhà Loritz là Kätha và Maja, và một người anh em họ xa là Ludwig Zahler, còn được gọi là Lu. Hai anh em Himmler vốn là bạn thân với anh em Zahler từ thời còn ở Landshut; họ liên tục được nhắc đến trong nhật ký và thư từ của Heinrich.Tại nhà Loritz đám thanh niên thường ngồi cùng nhau trò chuyện sau bữa ăn, và hai anh em có dịp lấy được những kinh nghiệm cẩn trọng đầu đời với phụ nữ cùng độ tuổi. Nhìn chung những chuyện này đều diễn ra dưới sự theo dõi của một người lớn tuổi hơn. Mọi chuyện được nởi lỏng hơn đôi chút trong kỳ lễ Fasching (hội carnival) vẫn được tổ chức náo nhiệt ở Munich.

Ngày 2 và 3 tháng 11 – khi học kỳ mới chỉ vừa bắt đầu – hai anh em viết bức thư chung đầu tiên gửi nhà. Trước tiên là Gebhard: “... cả hai chúng con giờ đều thích trò trượt băng với gậy chống; nếu trời đủ rét và nếu chúng con có thời gian chúng con thích trượt băng tại đây. Vậy nên nếu được, Mẹ thân yêu ơi, hãy bỏ chúng vào gói đồ gửi lần sau nhé”. Chẳng lẽ họ không thể đem theo bộ trượt băng khi vừa mới rời nhà đi mấy ngày trước, sau kỳ nghỉ? Nhưng có lẽ hai thanh niên này đã quen được mẹ phục vụ theo đòi hỏi rồi. Bận tâm chính của bà bao năm nay chắc hẳn là gửi đồ tiếp tế liên tục cho họ.

danngoc 21-12-2012 16:28

Cũng trong bức thư ấy Heinrich rên rỉ không dứt về “khối lượng công việc vô nhân đạo” mà ông ta phải hoàn thành trong khóa học. Ông ta thường xuyên cảm thấy áp lực của cha mẹ muốn ông ta chứng tỏ rằng mình làm việc vất vả. Tuy nhiên, có lẽ động cơ ở đây đơn giản chỉ là nhu cầu của ông ta muốn làm cho mình thành quan trọng hơn và nỗi thôi thúc của ông ta muốn mô tả mọi thứ kỹ đến từng tiểu tiết, kể cả chuyện tầm thường. Đồng thời ông ta là người hay làm việc vặt cho gia đình: ông ta đến tiệm thuốc mua thuốc viên cho Ernsti, đều đặn đến thăm nhà những người quen cũ của gia đình và cũng thường xuyên viết thư thay cho Gebhard để ông anh trai chỉ còn việc ký tên là xong.

Tại đại học mối quan tâm của họ phát triển theo những hướng rất khác nhau. Ngay khi vừa bắt đầu, Gebhard đã gia nhập Đoàn Thánh ca Học viện mà phần lớn thành viên là sinh viên luật. Đây là một hội đoàn sinh viên mà, bên cạnh việc cùng nhau tham gia diễn ở các buổi hòa nhạc và nhà hát, các thành viên còn giữ quan hệ với nhau tới cuối đời. Chính tại đây mà Gebhard làm quen với Richard Wendler, một sinh viên luật cùng trang lứa về sau trở thành anh rể của ông ta. Chúng ta sẽ quay trở lại với ông này sau.

Heinrich dùng hầu hết thời gian rảnh rỗi với Hội sinh viên Apollo, mà giống như cha mình, người vẫn còn tham gia với tư cách một “đàn anh”, ông ta cũng là một thành viên. Một số bè bạn của gia đình cũng là thành viên hội này, bao gồm Giáo sư Rauschmeyer, một cựu đồng nghiệp của Gebhard Himmler Cha ở trường Gymnasium Landshut, người có cô con gái Mariele mà hai anh em gặp lại trong nhóm bạn ở Quán trọ Loritz. Tuy nhiên, các nghi thức quyết đấu mau chóng dẫn Heinrich đến khả năng xung đột với niềm tin Kitô của mình. Ông ta không biết chắc liệu “lễ thanh tẩy” này, theo đó các thành viên của hội phải chứng tỏ được nam tính và sức khỏe phù hợp với một nhóm ưu tú, có phải là một tội lỗi chết người dưới con mắt của nhà thờ hay không. Ông ta đã tranh cãi nhiều về chuyện này với Gebhard và Lu cũng như với cha mình, người rõ ràng đã tìm cách làm yên lòng ông ta.

Trong nhật ký của Heinrich, những đoạn ghi chép phản ánh nỗi khao khát của ông ta đối với hơi ấm gia đình và cảm giác lãng mạn của tình yêu đầu của ông ta với Maja con gái nhà Loritz đan xen với những kế hoạch đã định sẵn của ông ta nhằm rèn luyện mình cứng rắn lên và tập luyện tính kỷ luật.

danngoc 21-12-2012 16:37

Sau khi Maja rời Munich để sống cùng gia đình khác trong một năm nhằm học cách quản lý nội trợ, Lu và Kätha (sớm lấy nhau) đã trở thành những người bạn thân nhất của ông ta. Kätha thường ký “người em gái nhỏ của anh” trong vô số bức thư gửi Heinrich. Bà cũng là người mà Heinrich thích trao đổi nhất về những khó khăn của mình. Ngày 6/12/1920 bà viết, “Cứ lúc nào anh làm theo tình cảm của mình, thì gần như anh lại có cảm giác như đang buông trôi, tức là thể hiện sự yếu đuối. Chẳng lẽ anh đã quên sức mạnh tuôn ra những lúc anh im lặng?... Đừng kìm nén mình quá mức, Heini, sao cho đừng đánh mất những điều tốt đẹp nhất mà cuộc đời đem lại”.

Mặc dù Heinrich có cố gắng lớn để kết giao bạn bè – ông ta học khiêu vũ, trở thành thành viên Câu lạc bộ Alpine và Câu lạc bộ Súng trường, khai thác mối quan hệ với các thành viên khác của hội cũng như nhiều người quen cũ của cha mẹ mình – trong thời sinh viên ông ta thường xuyên phải chịu đựng cảm giác không chỗ nương tựa. “Họ xem tôi là một gã vui vẻ, khôi hài biết quan tâm tới mọi thứ - ‘Cứ hỏi Heini cái đã’ ”, ông ta viết như vậy vào tháng 1/1922. Ông ta ý thức rõ rằng việc mình thường chỉ trích dữ dội hành vi của người khác khiến họ xa cách ông ta. “Tôi không thể kìm không nói được”, ông ta viết trong nhật ký. Ông ta liên tục hô hào bản thân bám chặt lấy những điều răn Thiên Chúa để khiến mình trở thành một “người tốt”, và tin tưởng rằng ông ta có quyền đưa ra những đòi hỏi tương tự với kẻ khác, hay chỉ dẫn họ đi theo đường hướng đó.

Những ngày chủ nhật của ông ta thường được dùng cho những chuyến đi một mình tới thăm mộ họ hàng hay những chuyến thăm không hẹn trước tới nhà bà vú nuôi cũ Thilde và “ông chồng đứng đắn, bảo thủ” của bà – “Đơn giản là khi ở bên những người thân yêu ấy tôi cảm thấy như đang ở nhà”. Nhưng trong dài hạn việc này quả là khó mà thỏa mãn được cho anh chàng hai mươi hai tuổi này. “Tôi đang ở trong một tâm trạng kỳ lạ”, sau đó ông ta ghi vắn tắt trong nhật ký. “U sầu, khao khát tình yêu”. Ông ta thằng thừng từ chối việc quan hệ tình dục trước hôn nhân, dựa trên suy nghĩ của mình lấy từ một trong những cuốn sách ông ta ưa thích, cuốn Wir jungen Männer. Das sexuelle Problem des gebildeten jungen Mannes vor der Ehe (Chúng ta là thanh niên. Vấn đề dục tính của những thanh niên có giáo dục trước khi kết hôn) của Hans Wegener. Đồng thời ông ta cho thấy mối quan tâm sâu sắc tới bất cứ điều gì liên quan đến tính dục. Nhật ký của ông ta đầy những ghi chép về các cuộc trò chuyện với Lu và một người bạn khác về “vấn đề của sự khỏa thân”, “sự giao hợp”, “tránh thụ thai” v.v. Đôi khi ông ta cảm thấy mình rất khó để từ chối quan hệ thể xác với phụ nữ, nhưng ông ta sợ tác hại mà việc này có thể ảnh hưởng lên tính cách của mình và tự an ủi bằng những lý thuyết mà ông ta tự nghĩ ra:

Chỉ tình cờ mới có chuyện trên đời tồn tại hai loại người (ông ta ghi lại trong nhật ký ngày 22/5/1922). Một mặt là loại người lạnh lùng, khắt khe mà bao gồm có tôi ở trong đó, và là nhóm cần thiết trong quần thể chủng tộc. Kế đó là loại người nhẹ dạ mà trong mỗi dân tộc đều chiếm phần lớn, sống bốc lửa và có thái độ tự do dễ dãi với cuộc sống nhưng không tới nỗi đi đến chỗ làm điều xấu; dù kết hôn hay độc thân, họ tán tỉnh và hôn nhau mà không nhận thấy gì khác ẩn sâu trong đó, do đây là chuyện hoàn toàn con người và do làm thế rất thú vị.

danngoc 26-12-2012 14:38

Ông ta chắc thỉnh thoảng cũng làm Gebhard, một người dễ tính hơn nhiều, thấy khó chịu với những quan điểm gượng ép đó. Gebhard thoải mái hơn nhiều trong quan hệ với phụ nữ.

Nhưng mặc dù có khác nhau chuyện này, hai anh em vẫn rất thân nhau, không chỉ trong quan điểm dân tộc chủ nghĩa hữu khuynh mà cả trong ý thức về nghĩa vụ ái quốc và sẵn sàng chiến đấu. Trong khi Heinrich là thành viên của Freikorps Landshut đã tham gia trận đánh chống lại Cộng hòa Räterepublik Munich tháng 5/1919, trung úy Gebhard Himmler đã trở thành thành viên tổ chức “Dân vệ Công dân” Munich thành lập ngày 10/5 cũng cùng năm ấy. chịu trách nhiệm Có một khuynh hướng tích cực gia nhập vào Dân vệ Công dân, vốn chịu trách nhiệm giữ trật tự và an ninh công cộng. “Dẫu tuổi già vẫn tham gia được!” như lời một băng rôn cổ động của nó đã viết. Đến cuối năm 1919, đã có hai trăm ngàn thành viên được gia nhập; họ được cấp một chứng minh thư Dân vệ cùng với súng và đạn.

Nhưng giống như nhiều cựu chiến binh khác có kinh nghiệm chiến trường, Gebhard và Heinrich mau chóng nhận thấy Dân vệ Công dân quá trầm lặng, bởi vậy đầu tháng 11/1919, một tuần sau khi Heinrich vào học đại học, họ đã cùng với Ludwig Zahler gia nhập Đại đội Tình nguyện 16, Lữ đoàn Bộ binh 21, về sau được sáp nhập vào Quân đội thường trực cũng trong hè năm ấy. Lữ đoàn Bộ binh 21 này được chỉ huy bởi Đại tá Franz Ritter von Epp, người đã chỉ huy Freikorps Epp của mình tàn bạo dập tắt Cộng hòa Räterepublik Munich và kể từ đó được mệnh danh là “người giải phóng Munich”. Freikorps Epp sáp nhập với những tổ chức khác để lập ra Lữ đoàn Bộ binh 21. Ernst Röhm, người sau này trở thành tư lệnh SA, là phụ tá của Epp; Rudolf Hess, Gregor và Otto Strasser cùng nhiều kẻ khác vài năm sau trở thành các nhân vật lãnh đạo của chế độ Quốc xã cũng đều là thành viên của Freikorps. Thế lực của Epp lan rất rộng ra ngoài Lữ đoàn Bộ binh: không chỉ quân đội thường trực tại Munich/Thượng Bavaria nằm dưới quyền của ông ta, mà cả cảnh sát thành phố, Dân vệ Công dân Munich và sở kỹ thuật khẩn cấp nơi Gebhard là nhân viên.

Gebhard và Heinrich tham gia huấn luyện cuối tuần và tập bắn súng, được phân công đi tuần tra trên phố và có mặt khi được gọi khẩn cấp. Heinrich rất hăng hái với trách nhiệm mới này. Ngày 3/11/1919 ông ta viết về nhà “Hôm thứ Sáu chúng con sẽ đi nổ súng. Con mong chờ chuyện này khủng khiếp, đặc biệt là có dịp được mặc lại bộ quân phục”. Trong thư ông ta thuật lại rất rõ mẫu người lý tưởng của Franz von Epp, là “người thích nghiệp nhà binh... thích đánh giá khả năng bản thân thông qua đối thủ... Một người lính landsknecht tự tin và kiên quyết với đầy lòng tự hào về nghề nghiệp của mình”. Cả Gebhard lẫn Heinrich đều không gặp trở ngại gì khi đồng nhất hình ảnh lãng mạn của người lính landsknecht kiên quyết, loại lính bộ binh đánh thuê thời thế kỷ mười sáu, với thái độ khinh miệt đi kèm của một người tư sản phớt lạnh. Họ tự xem bản thân là những chiến sĩ vì lý tưởng buộc lòng phải chiến đấu – và đã làm vậy rất tự nguyện – trong một cuộc nội chiến dai dẳng.

Thậm chí nhiều thập kỷ sau, trong “Hồi ký” của mình, Gebhard vẫn còn biện hộ cho hành động này: “Bất cứ ai chưa trải qua thời kỳ này có lẽ đều sẽ không thể hiểu được vì sao chúng tôi, vừa chật vật trở về từ chiến trường và đồn lũy, đã lại khoác vào chiếc áo lính. Nhưng không phải vì chúng tôi thích làm thế mà vì đó là điều hết sức cần thiết”. Ông nói, tình thế chính trị sau Cách mạng tháng Mười Một vẫn còn rất bất ổn; những kẻ cánh tả cực đoan tham gia Khởi nghĩa Spartacus ở Berlin, ở Thuringia và vùng Ruhr liên tục tìm cách “làm tổn hại nhà nước tự do, vốn vẫn còn khá yếu ớt. Chúng tôi phải cảnh giác canh chừng chuyện này”.

danngoc 11-01-2013 16:23

Cánh Freikorps càng trôi sang hướng chống lại nền cộng hòa non trẻ và trở nên bị cô lập thì “tinh thần Freikorps” – cảm giác về bổn phận của họ – càng mạnh lên. Nhiều thành viên cùng chia sẻ sự vỡ mộng đem về từ chiến trường và cảm giác rối bời vô mục đích, mất tin tưởng vào các giá trị truyền thống; đồng thời xuất hiện tình cảm đồng đội vượt qua mọi khác biệt giai cấp, thậm chí hình thành cả giữa đám sĩ quan với lính trơn. Uy quyền chỉ huy không phải có được từ cấp bậc mà chủ yếu từ “hành động thể hiện trong chiến đấu”. Hầu hết thành viên của Freikorps đều xem việc bại trận vừa qua như là sự sụp đổ của “hệ thống tư bản giả dối”. Hình ảnh gã “tư sản” sung sướng, trốn tránh ra trận chiến đấu thường được xem là kẻ thù thực tế của họ, thậm chí còn thường xuyên hơn hình ảnh những người cộng sản hay vô sản. Sự khinh miệt đối với người thị dân trung lưu được chuyển sang giai cấp tư sản tự do – và thực chất là được định hướng chống lại toàn bộ hệ thống xã hội. Trong khi các sĩ quan lớn tuổi hơn có khuynh hướng bảo hoàng bề ngoài, những người trẻ hơn mong chờ một hình thức đế chế mới, vốn tìm được sự thể hiện thông qua kết hợp giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Quốc gia Xã hội kết hợp được giấc mơ về một quốc gia vĩ đại với lý tưởng của tình đồng đội và những nguyên tắc trật tự của chính quyền được khoác cho một Führer tức vị lãnh tụ; nó tự xem bản thân là sự tương phản đối lập với cả Chủ nghĩa Marx lẫn chủ nghĩa tư bản.

Các thành viên của Freikorps tự xem mình là nước Đức đích thực, họ “cảm thấy” bản thân là nước Đức, theo như lời của Ernst von Salomon, một chiến sĩ Freikorps sau này bị kết án năm năm tù vì năm 1922 tham gia ám sát Bộ trưởng Ngoại giao gốc Do Thái Walther Rathenau. Trong cuốn tiểu thuyết viết sau đó của mình, cuốn Ngoài vòng pháp luật, Salomon đã mô tả việc mình biến chuyển từ một học viên sĩ quan Phổ mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa sang một chiến sĩ chống dân chủ ra sao: “Chúng tôi tin rằng chính chúng tôi là những người đáng nắm lấy quyền lực vì quyền lợi của nước Đức chứ không phải bất cứ ai khác. Bởi chúng tôi cảm thấy rằng mình là hiện thân của nước Đức. Chúng tôi tin rằng chúng tôi được trao cho quyền lực ấy. Những kẻ đứng đầu các bộ ngành ở Berlin không có cái quyền ấy”.

danngoc 11-01-2013 16:24

Đó là một tình bằng hữu nam giới; hơn thế, họ tự xem mình là đoàn thể bằng hữu gồm những người giỏi nhất, bền bỉ nhất và thiện chiến nhất, được chỉ huy bởi con người xuất sắc nhất, lãnh tụ của họ, Führer của họ, và giờ đây họ đặt yêu cầu đòi quyền lực. Chính là sự pha trộn giữa lòng khinh bỉ chính quyền Weimar, những giấc mơ rối bời và sự kiên quyết man dại muốn chiến đấu cho bất cứ mục tiêu nào mà các lãnh tụ của mình đề ra, cùng với thái độ phân biệt địch-ta rõ rệt của họ, đã khiến Freikorps là một thành phần cực kỳ dễ bùng nổ ở giữa nền dân chủ mà mọi nền móng của nó đều ít nhiều đang run rẩy.

Giáng sinh năm 1919 hai ông anh cùng về thăm nhà, lúc này đang ở Ingolstadt. Ngày 23 tháng 12 cả nhà cùng kỷ niệm sinh nhật cho Ernst và ăn mừng Giáng sinh vào ngày hôm sau – theo truyền thống đã và hiện vẫn đang tồn tại ở Đức. Những món quà năm đó thật khiêm tốn: đám con trai được cho phép chọn cho mình những cuốn sách trong thư viện của cha, còn Ernst, người chỉ tập trung vào khoa học, được hai anh tặng một cuốn sách hóa học. Lễ Giáng sinh hàng năm được tổ chức theo một nghi lễ kết hợp. Trong khi Gebhard và Heinrich trang hoàng cây thông, Ernst phải khấp khởi chờ đợi cho tới khi cuối cùng cánh cửa phòng Giáng sinh mở ra. “Đáng yêu, thật rất đáng yêu”, Heinrich ghi trong nhật ký ngày 24 với chuỗi cảm xúc bột phát khác thường. Sáng hôm ấy các ông anh đã ra ngoài tìm rêu đem về làm máng cỏ còn sau đó qua giúp mẹ nấu nướng. Sau khi đã nhận quà, Gebhard chơi đàn piano, rồi họ cùng nhau hát có Gebhard và Heinrich đệm ghita. “Rồi chúng tôi uống rượu punch và đi lễ mass nửa đêm”, buổi lễ mà Heinrich thấy là “cực kỳ cảm động”.

Trong kỳ nghỉ năm mới hai anh lớn mỗi người làm theo cách riêng mình. Gebhard ghi lại những ký ức nồng nhiệt về kỳ nghỉ ở Ingolstadt mà vì thế hội nghỉ mát mệnh danh là Ingolstadtia đã được lập ra, “đưa các sinh viên thuộc mọi sắc thái chính trị khác nhau, từ thành viên của các hội quyết đấu cho tới những người mang tư tưởng Thiên chúa giáo, kết hợp lại chung một hội, vì vui thích sinh viên xích lại gần nhau và rất mau chóng giao thiệp xã hội chung với nhau”. Những người từ mọi ngành nghề – bác sĩ, luật sư, công chức nhà nước – cũng là thành viên của Ingolstadtia, họ cũng là thành viên lâu năm của nhiều hội đoàn khác nhau, “và nếu chúng tôi tổ chức một bữa tiệc hè hay tiệc đông trong kỳ nghỉ thì mọi người đều tới, dù ít dù nhiều cũng góp tay vào”.

danngoc 11-01-2013 16:25

Bắt đầu từ tháng 9/1920 Heinrich đến làm tại một nông trang ở Fridolfing, gần biên giới với Áo, để làm nốt quãng thời gian thực hành lấy kinh nghiệm mà ông ta đã phải bỏ dở mùa thu năm trước. Công việc này được thu xếp nhờ Frau Loritz vì bà có quen với gia đình Rehrl là chủ ở đây, và Heinrich đã được đối xử như người nhà. Ông ta tránh phần lớn việc lao động chân tay nặng nhọc và đắm mình vào niềm say mê lãng mạn đối với cuộc sống “thanh bình” cổ truyền miền thôn quê qua vô số chuyến dạo chơi và thảo luận sôi nổi với Herr Rehrl. Ông ta lấy dùng một chiếc mô tô và cuối tuần đi thăm các bạn cũ của gia đình ở Munich, Ingolstadt và nhiều nơi khác, và thường đi chơi trong vùng núi Alp thuộc Áo. Các bạn bè Munich của ông ta giúp ông ta cập nhật tin tức qua thư từ, nhưng ông ta cũng thường xuyên được người quen và người nhà đến thăm. Các gói bưu phẩm liên tục được ông ta và mẹ mình gửi qua gửi lại – để đổi lấy sách ông ta đã đọc xong, quần áo lót mặc bẩn và những thứ “rác” tương tự, ông ta được nhận lại quần áo sạch, thuốc lá và gói thực phẩm, mặc dù thức ăn ở nhà Rehrl không thể chê vào đâu được nữa.

Trong thời gian này Heinrich cũng thường trao đổi thư từ với Ernst, lúc này mười lăm tuổi. Người em thường gửi cho ông anh những bức hý họa vẽ chân dung tự họa mà cả Heinrich lẫn nhà Rehrl đều rất thích thú. “Em không thể tưởng tượng nổi anh thích những bức vẽ đẹp ác liệt của em thế nào đâu”, Heinrich viết ngày 14/11. “Mặc dù em còn đang tuổi lóng ngóng nhưng em vẽ vẫn rất cừ”. Rõ ràng “Ernsti” không chỉ là một học sinh cư xử mẫu mực mà còn có chút khiếu hài hước. Trên các bức ảnh chụp đính trong album gia đình ta có thể thấy ông tôi thích nhăn mặt kéo mũi làm hề ra sao. Tuy nhiên, mặc dù Heinrich thích mấy trò đùa của em mình nhưng ông ta không thể ngăn mình trút cho em trai những lời hô hào và chỉ dẫn cách cư xử.

Anh rất vui khi thấy em đạt điểm tốt. Nhưng đừng để điểm số lấn át đầu óc, em được điểm cao duy nhất chỉ nhờ các bạn khác hơi ngốc hơn em chút xíu (mà điều này đáng ra phải khác hơn nhiều). Nhân đây, anh cũng mong em học tốt môn lịch sử, không chỉ vì yêu cầu của nhà trường mà còn phải thực sự quan tâm, bởi em rất cần đến nó trong cuộc sống. Lúc này em đừng quá phiếm diện, hãy cư xử cho tốt và đừng làm phiền cha mẹ hay ai đó nhé...!

danngoc 11-01-2013 16:26

Ông ta vẫn còn cảm thấy mình lớn hơn hẳn Ernst, nhưng dường như đang sợ ảnh hưởng của mình lên em trai sắp tan dần. Có lẽ đấy là lý do ông ta đánh giá Ernst là “nhỏ bé, kém quan trọng và xấu xí” và đòi hỏi phải thường xuyên viết thư để chứng tỏ tình cảm; nếu thư không đến thì ông ta phạt Ernst bằng cách không thèm nói chuyện nữa.

Mặc dù tằn tiện do cha mẹ quy định và tính toán chi tiêu quá tỉ mỉ, Heinrich vẫn thường xuyên than phiền là thiếu tiền ở Fridolfing. Chuyện này không có gì ngạc nhiên, nếu căn cứ thực tế rằng mặc kệ đang thời kỳ khó khăn, ông ta vẫn tiếp tục sống theo kiểu mình đã quen hồi còn ở nhà. Frau Rehrl thu xếp cho các nhu cầu cá nhân của ông ta và việc giặt giũ quần áo, một phụ nữ khác được cha mẹ ông ta trả tiền để dọn phòng, bởi vậy ông ta cần tiền chỉ để dùng tiêu riêng. Số tiền ấy không phải là nhỏ, gồm cả chiếc xe mô tô, vô số chuyến đi chơi và các thú vui khác của ông ta. Ông ta dùng gần hết hai mươi mark cho một một chuyến đi với bạn bè tới buổi lễ hội ở vùng Tiimoning kế đấy – gồm du lịch, xúc xích, bia, xem chương trình biểu diễn – một khoản đáng kể vào những ngày ấy đối với một thanh niên mà cha mẹ vừa mất một phần lớn gia sản trước đây của mình trong chiến tranh.

Mùa thu 1921 Heinrich quay về đại học Munich. Ông ta trở lại ở cùng quận trước đây, trong nhà trọ trên phố Briennerstrasse của một người quen khác của cha mẹ ông, Frau Wolf. Giờ đây đôi khi ông ta đã phải tự nấu ăn cho bản thân. Đến tháng Năm Gebhard vượt qua kỳ thi sơ bộ tốt nghiệp – vì là cựu binh đã qua chiến đấu nên ông được miễn các bài kiểm tra. Điểm thi không cao mấy cho thấy ông đã dùng nhiều thời gian cho việc binh hơn là việc học. Nạn lạm phát phi mã đã khiến điều kiện sống ngày càng tồi tệ hơn, kể cả với hai anh em Himmler. Năm 1921 hàng nhu yếu phẩm tăng giá đến tám lần so với khi chiến tranh vừa kết thúc, chỉ khiến cho cha mẹ họ thêm tằn tiện.

Rõ ràng Heinrich cảm nhận gánh nặng của việc này nhiều hơn anh em mình. Ngày 24/11 năm đó ông ta ghi trong nhật ký của mình rằng đã trò chuyện rất nhiều với Lu về những thiệt hại và “cảnh khốn cùng kinh khủng” của họ. “Nhưng chúng tôi quyết định phải giữ lấy danh dự bản thân; đó là điều tốt nhất chúng tôi có”. Và hai tuần sau, ngày 9/12: “Đời sinh viên thật khốn khổ làm sao! Khắp nơi có biết bao thứ hay vậy mà chúng tôi không thể mua nổi dù là món rẻ nhất – và cuộc sống tính cho đến lúc này vẫn ổn thỏa. Nhưng ai biết được sắp tới sẽ ra sao? – bần cùng, sự giam cầm, chiến tranh”.

danngoc 11-01-2013 16:26

Trong những năm tháng ấy dường như ông ta đã chân thành tin rằng mọi chuyện sẽ “bùng nổ” bất cứ lúc nào, hoặc là nổ ra nội chiến hoặc có một cuộc xung đột với các quốc gia khác. Nhưng trong cuộc “đấu tranh” đáng ngại này ông ta tin rằng mình phải đối mặt với cả những thử thách cá nhân đang chờ đợi phía trước: phải tự lo liệu cho bản thân được trong tương lai gần, phải trở nên trưởng thành cứng cáp. Đó là viễn cảnh mà ông ta thấy rất đáng lo: “Tôi vẫn còn cách rất xa sự tự tin tao nhã mà tôi mong mình có được”, ông ta ghi lại vào tháng 11. Ông ta dùng lượng thời gian đáng kể để hoàn thiện “địa vị tao nhã” của mình trong hội hay để tán gẫu với “những người quen hữu ích” nhiều hơn là để học hành nghiêm túc, điều mà ông ta chỉ tập trung làm vào những lúc ngắn ngủi trước khi kiểm tra. Ông ta sợ sự kết thúc của khoảng lặng trước cơn bão này cũng nhiều như là chuyện ông ta mong chờ tới khi được “chiến đấu để chứng tỏ bản thân”. “Thời gian trôi mới nhanh làm sao. Những ngày tháng sinh viên sung sướng đáng quý của tôi sắp sớm chấm dứt”, ông ta than phiền trong nhật ký ngày 21/2/1922. Từ nhiều đoạn ông ta ghi chép ta thấy rõ ông ta lo lắng về tương lai của mình ra sao, và ông ta hay thay đổi những kế hoạch to lớn của mình như thế nào. Ngày 22/11 ông ta đã ghi, sau một buổi nghe giảng tại Hofbräuhaus về các chủ đề quân sự về Thế Chiến lần thứ I, “lúc này tôi thấy rõ hơn bao giờ hết rằng nếu có một chiến dịch nữa xảy ra tại phía đông, tôi sẽ tham gia nó. Với chúng ta phương đông là khu vực quan trọng nhất. Chúng ta phải chiến đấu và định cư tại phương đông”. Chỉ đúng một ngày sau ông ta đã lại nao núng, tự hỏi xem dòng đời sẽ đưa mình tới đâu: “Tây Ban nha, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Baltic, Nga, Peru? Nếu Chúa muốn, trong hai năm tôi sẽ không còn ở Đức nữa, trừ phi có chiến tranh lần nữa và tôi nhập ngũ”. Ông ta cứ bị giằng xé như vậy giữa các mơ ước muốn di cư và trở thành người lính.

Trong khi Heinrich đang chiến đấu với việc tâm trạng thay đổi thường xuyên, với sự buồn phiền, với những nghi ngờ và các khái niệm đạo đức cứng nhắc của mình, Gebhard rõ ràng hưởng thụ đời sinh viên theo một cách thoải mái hơn nhiều. Ông “bình thản chấp nhận cuộc sống thanh đạm thời ấy”, và hưởng thụ “những niềm vui giản dị” như khi ông và bạn bè “thường tìm cách phù phép tạo ra những buổi chiều vui vẻ trên sân khấu và bục gỗ thực sự từ con số không”.

Mùa thu năm 1921 Gebhard đem lòng yêu Paula Stölzle, một cô em họ xa từ vùng Weilheim, phía nam Munich, có lẽ vào dịp cô tới chơi Ingolstadt. Mùa đông đến khi ông đang được đào tạo thực tập tại một nhà máy ở đấy. Tháng 11 Paula cũng đến gặp Heinrich ở Munich. Họ uống trà trong phòng ông ta, hút thuốc và trò chuyện về mối quan hệ giữa cô và Gebhard; “và rồi chúng tôi hôn nhau và đồng ý gọi nhau bằng đại từ thân mật du. Cô ấy là cô gái đáng quý nhất trên đời. Rất sôi nổi, có chút nhẹ dạ phù phiếm. Cô hoàn toàn là mẫu người phụ nữ dành cho Gebhard”. Họ hứu hôn trong dịp lễ Phục sinh 1922. Cha mẹ Himmler dường như rất vui khi được kết sui gia với ông chủ nhà băng đáng kính Max Stölzle, và cuộc hứa hôn được tuyên bố quá sớm đến đáng ngạc nhiên – khi ấy Gebhard vẫn còn là một anh sinh viên.


HẾT CHƯƠNG 5

danngoc 22-01-2013 09:35

6
“Mọi người đều cuồng lên vì phấn khích”:
Cuộc biến chính




Năm 1922 đem lại những thay đổi to lớn khác đối với gia đình Himmler. Vào kỳ Phục Sinh Gebhard Cha được thăng chức hiệu trưởng đầy trọng vọng của ngôi trường Wittelsbacher Gymnasium ở Munich. Đó hẳn là một khải hoàn cho con người đã ngoi lên từ xuất thân nghèo hèn này – cực điểm quá trình lao động của cả đời ông, kể cả nếu như trong thời kỳ khó khăn đó việc thăng chức không đem lại bất kỳ cải thiện nào cho điều kiện vật chất của họ. Lạm phát đốt hết mọi thứ ra tro. Trong năm ấy thực phẩm đã tăng giá gấp ba mươi lần so với cuối chiến tranh. Thêm vào đó, vị hiệu trưởng mới phải tìm cho mình một căn hộ tại Munich khiến mất thêm một khoản chi phí, trong khi vợ và con út vẫn phải ở tại Ingolstadt cho tới hết năm học.

Heinrich được gặp cha mình rất nhiều lần trong thời gian này; cứ Chủ nhật là họ lại đi dạo và ăn cùng nhau trong một nhà hàng. Theo các bức thư ông ta gửi mẹ, ta thấy rõ rằng đối với ông ta chắc hẳn việc ông ta được ở gần cha vô cùng có ý nghĩa. Ông ta viết ngày 9/5 “Cha và con ở bên nhau rất hòa hợp và hạnh phúc”; “Cha đã ổn định cuộc sống rất nhanh, ra ngoài đi dạo đều đặn và không làm việc quá sức”. Heinrich vốn hay nóng vội và không phải lúc nào cũng hòa hợp với cha mình. Năm 1921 ở Ingolstadt, khi ông ta đã hỏi xin cha một khoản tiền khá lớn để mua sách, đã có “những tranh luận nóng bỏng và dữ dội về chuyện này, nhưng chẳng may tôi đã rất nổi cáu”. Ngày hôm sau ông ta lại đem bàn chuyện tiền mua sách với mẹ - “chẳng may tôi lại nổi cáu lần nữa”. Tuy nhiên, sau khi có những bất đồng như vậy, Heinrich luôn mau chóng cố gắng tìm cách che dấu khỏa lấp. Như đã làm trước đó với Gebhard, sau đó ông ta viết một bức thư nhân danh cha mình. Ngày 12/6 ông ta viết cho mẹ, “Cha và con vô cùng cám ơn chiếc bánh tuyệt diệu này. Con lập tức mang hai phần ba ngay cho cha chiều hôm qua”.

Ngày hôm sau hai cha con tới Zirkus Krone, rạp xiếc duy nhất tại Đức có được cơ sở kiên cố, nằm ngay cạnh trường Wittelsbacher Gymnasium, để tham dự cuộc mít tinh phản đối “Nỗi ô nhục Đen”. Điều được xem là “Nỗi ô nhục Đen” là việc bố trí lính da đen thuộc địa trên vùng lãnh thổ Rhineland bị chiếm đóng sau chiến tranh. Trong con mắt nhiều người, và không chỉ những người có quan điểm bảo thủ, chỉ cần sự có mặt của những người lính này thôi cũng đã là hành động chống lại “tất cả luật lệ của nền văn minh Châu Âu” rồi. Nước Đức không chỉ bị tước mất tất cả thuộc địa của mình sau chiến tranh, mà vấn đề chủng tộc trước đây nay trở thành một phần của lực lượng chiến thắng chiếm đóng. Heinrich ghi trong nhật ký của mình: “Khá nhiều người. Tất cả họ đều kêu gào “Báo thù!” Rất ấn tượng. Đã từng là như vậy, nay tôi đã chín chắn hơn, ở mức độ nhận thức cao hơn. Sau 10 giờ ở phố Augustinerkeller. Thảo luận về phụ nữ, tình yêu, cuộc sống – cuộc sống ngày nay, tức là – về những vấn đề bí mật, về hoạt động yêu nước”. Heirich biết về “những vấn đề bí mật”, có thể là đề cập tới các hoạt động của cảnh sát mật và những tổ chức cánh hữu tại Munich, mặc dù ông ta cũng là thành viên của Hội Súng trường Freiweg. Sang ngày hôm sau, Heinrich, cha ông ta và những người khác, có lẽ là tất cả các thành viên Hội Apollo, đã gặp nhau tại một hầm bia và tranh luận với nhau về “thời trước, chiến tranh, cách mạng, bọn Do Thái, sự phá hoại chống sĩ quan, Cộng hòa Räterepublik, cuộc giải phóng”.

Trong thập niên 1920 tại Munich, cánh hữu đã tổ chức vô số cuộc biểu tình tập thể, thường dàn dựng như những cuộc diễu hành quân sự đầy phô trương, tại đó truyền thống quân sự của thời Đế chế vẫn tồn tại cùng với cách duyệt binh, quân phục và cờ phướn quân đội. Các cuộc mít tinh phản đối Hiệp ước Versailles và chống lại “sự dối trá phạm tội chiến tranh” là những sự kiện thường xuyên xảy ra. Heinrich đã tham gia trong một cuộc mít tinh phản đối tại quảng trường Königsplatz ngày 28/6/1922. Xúc động sâu sắc, ông ta hòa giọng hát bài “Wacht am Rhein” (“Đứng gác bên sông Rhine”) cùng sáu mươi ngàn người khác. “Thật tuyệt vời”, ông ta sôi nổi kể lại trong nhật ký. Ông ta có điểm yếu rõ rệt liên quan bất cứ điều gì dính tới quân sự, có thể gợi cho ông ta cảm xúc phấn khích, đôi khi còn thực sự hưng phấn xuất thần. “Binh sĩ diễu hành ngang qua. Ôi Chúa ơi!” ông ta viết lại như vậy ngày 26/2.

Thái độ của cha Heinrich đối với quan điểm chính trị ngày càng cấp tiến của ông ta ra sao? Họ có bàn luận với nhau về chuyện đó không? Các đoạn nhật ký của Heinrich cho thấy trong những lần thường xuyên gặp nhau, cha ông ta “u sầu sâu sắc về vị thế của nước Đức”. Nhưng thậm chí nếu hai cha con đã không thẳng thắn trao đổi với nhau về tất cả những vấn đề chính trị thì họ vẫn thống nhất nhau về việc chống lại Cộng hòa Weimar và về giấc mơ “giải phóng dân tộc”. Nếu không Gebhard Cha khó mà chịu đi cùng con tới dự mít tinh tại Zirkus Krone. Ngay từ đầu năm 1920 Heinrich chắc đã cho rằng cha mình ngầm tán thành một cuộc mít tinh tại đại học mà ông ta có tham dự để phản đối án tử hình với Bá tước Arco-Valley, kẻ đã ám sát Kurt Eisner. Đó “thực sự khoan khoái. Tôi ước gì cha có thể chứng kiến” việc “hy vọng hồi sinh của dân tộc Đức” được thể hiện ở đó, ông ta viết trong bức thư sinh nhật gửi mẹ mình ngày 18/1. “Những quý ông trong chính phủ sẽ hiểu tại sao mình lại tha cho Arco. Nếu không họ sẽ phải trả giá vì điều đó. Tất cả chúng con đã sẵn sàng – thực ra, chúng con thấy tiếc là mọi thứ lại diễn ra suôn sẻ đến thế”.

Dịp nghỉ hè Heinrich và cha mình cùng trở về Ingolstadt. Tuy nhiên, Heinrich có ít thời gian để hưởng thú vui của hội sinh viên vì kỳ thi cuối của ông ta đang đến gần. Ngày 22/6/1922 cha mẹ họ kỷ niệm đám cưới bạc với một nhóm bạn nhỏ, ngoài gia đình ra khách mời duy nhất là vú già Thilde, Paula vị hôn phu của Gebhard Con và cha mẹ cô này. Thực đơn của buổi tiệc mừng vẫn còn nhắc nhở tới ham muốn thoải mái của giới trung lưu, mặc dù xét theo thời gian rõ ràng nó vẫn khiêm tốn hơn so với trước chiến tranh. Và mặc dù bản thân tờ thực đơn được viết tay chứ không phải in, chính sự hiện diện của nó là một thể hiện rõ nét cho thấy gia đình tiếp tục dành một khoản lớn để làm đúng nghi thức xã giao.

Ernst rõ ràng không gặp rắc rối với việc chuyển trường; ông học chăm và tiếp tục đạt điểm nổi trội. Ông cũng học nhiều thứ tiếng đến đáng chú ý; ngoài môn Latin và Hy Lạp bắt buộc, ông còn hết sức say mê học những khóa tiếng Anh, Pháp và Ý không bắt buộc. Dù vậy, tôi tự hỏi làm thế nào ông quen được với chuyện luôn phải tìm chọn kết thân với bạn mới, đặc biệt vì là con ông hiệu trưởng nên chuyện này là khó khăn gấp đôi, do ông phải nỗ lực mới dành được sự tôn trọng của các bạn đồng môn. Do đó có lẽ không chỉ vì tình cờ mà khi này Ernst đã muốn có liên hệ gần gũi chặt chẽ hơn với hai anh. Kết quả là ngay khi còn học ở trường này ông đã gia nhập nhóm bạn sinh viên của hai anh và, mặc dù ít tuổi hơn rất nhiều, đã mau chóng hòa nhập được với họ.
Khi ấy ông mới mười sáu, và trong kỳ nghỉ hè ấy ông đã hoàn tất khóa huấn luyện “tình nguyện viên ngắn hạn”. Ông nhỏ tuổi khác thường trong số các thành viên đơn vị dự bị ấy của Freikorps. Hiển nhiên ông không phải tham gia các khóa huấn luyện quân sự thiếu sự chấp thuận của cha mẹ. Do đó, ta có thể yên tâm cho rằng ít nhất họ cũng thông cảm, nếu không nói là tán thành, việc ba con trai mình tham gia tổ chức Freikorps dân tộc chủ nghĩa hữu khuynh.

danngoc 22-01-2013 09:38

Rõ ràng, cả Ernst cũng nôn nóng chờ có cơ hội cầm súng bảo vệ tổ quốc. Hoặc ông gia nhập Freikorps để chứng tỏ cho hai anh rằng ông không còn là đứa con được cưng chiều trong gia đình, điều mà hai anh vẫn còn nghĩ trong đầu? Gebhard đặc biệt khư khư giữ suy nghĩ ấy; ông viết lại trong “Hồi ký”: “Rất tự nhiên, xét theo sự khác biệt tuổi tác và môi trường ảnh hưởng mà Ernst có do còn là học trò, mối quan hệ giữa em với Heinrich và với tôi không gần gũi như như giữa hai chúng tôi. Hơn nữa, do ra đời muộn nên em bị mẹ nuông chiều quá mức, khiến cả hai chúng tôi, đều đã trải qua tất cả những thứ đó rồi, cùng thấy khó chịu”. Vậy là cả trong “Hồi ký”, được viết khi ông đã già, cũng phản ánh thái độ hơi đàn anh đối với em út của mình, người dường như ông thấy ghen tỵ do ảnh hưởng đặc biệt của cha mẹ với em, và có lẽ bởi vì Thế Chiến thứ I đã cắt đứt thời niên thiếu của ông đột ngột đến vậy.

Cuối tháng 7 Heinrich vượt qua kỳ thi, hoàn thành tốt nghiệp bằng canh nông chỉ trong vòng ba năm. Ông ta đã rút ngắn được thời gian học thông thường được một năm, do tại nhà Rehrl, trong khi thực tập, ông ta đã có được thời gian để học miệt mài. Sau đó ông ta bỏ công tìm kiếm việc làm nhưng gần như vô vọng. Cha ông vẫn còn những mối quan hệ đầy thế lực; trong trường hợp này là Hudezeck, thầy giáo cũ của Gebhard và Heinrich, đã tìm cho ông ta việc làm ở một nhà máy phân bón tại Schleissheim, phía bắc Munich. Mối quan hệ này, dựa trên thực tế đôi bên cùng có lợi, được tiếp tục suốt nhiều năm trời. Mười lăm năm sau Heinrich, theo đề nghị của cha, đã dùng vai trò của mình là Thống lĩnh SS và người đứng đầu cảnh sát Đức để giúp Hudezeck thăng lên chức hiệu trưởng. Mười lăm năm sau nữa Hudezeck giúp lại Gebhard bằng cách cung cấp lời khai miễn tội cho ông này trong thời kỳ Quốc xã.

Theo lời Gebhard, tiền công của Heinrich ở Schleissheim là “rẻ mạt”, nhưng ít nhất đó là một vị trí ổn định, điều gần như không thể kiếm được đối với một kẻ vừa bước chân vào thị trường lao động thời ấy. Với Heinrich Schleissheim quá xa Munich, vì vậy ông ta phải đổi chỗ.

Khi ấy Gebhard Cha đã được cấp một căn hộ ở tầng trên cùng của trường Wittelsbacher Gymnasium, và đến mùa thu vợ ông cùng với Ernst chuyển đến Munich. Đó là một căn hộ rộng rãi, có sảnh hàng lang dài và ảm đạm. Có đủ phòng cho tất cả gia đình, khiến ít nhất là tiết kiệm được chi phí thuê buồng ngủ cho Gebhard.

Quảng trường Marsplatz, nơi có trường Gymnasium, rất gần trung tâm thành phố, nhưng khu dân cư này không hấp dẫn mấy. Ngôi trường, mà ngày nay vẫn còn tồn tại, tọa lạc ven một con đường khu vực khá rộng dẫn ra ngoài thành phố và rất gần nhà ga trung tâm. Vào thời ấy có một doanh trại có bãi đất duyệt binh rộng nằm đối diện ngôi trường. Thời ấy có lẽ ít có tiếng ồn động cơ giao thông, nhưng tiếng ồn do học sinh, tiếng rống các khẩu lệnh từ bãi đất tập và tiếng tàu lửa chuyển hướng có thể nghe thấy được tư trong căn hộ, chưa kể đến tiếng la hét từ những cuộc mít tinh quần chúng ở Zirkus Krone.

Heinrich thường từ Schleissheim về Munich, không chỉ để gặp gia đình và bè bạn, mà còn để tham dự những hội nghị chính trị của nhiều nhóm cánh hữu khác nhau. Ông ta có mặt ở Königsplatz khi Hitler phát biểu trước đám đông tuần hành phản đối thuộc Hội Vereinigten Vaterländischen Verbände Bayerns (Hội Liên hiệp Ái quốc Bavaria). Cuộc mít tinh quần chúng, bao gồm khoảng ba mươi ngàn thành viên có vũ trang của nhiều tổ chức cực hữu khác nhau, đã diễn ra dưới khẩu hiệu “Vì nước Đức - chống bọn Berlin” và được hướng đến chống lại “chủ nghĩa Bolshevik Do Thái” mà như họ tuyên bố là đang sử dụng nền cộng hòa để che đậy cho việc củng cố vị thế của mình.

Những nhóm cánh hữu đối kháng tại Bavaria đã đoàn kết lại để chống đối chính phủ ở Berlin. Đảng NSDAP – Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, Đảng Quốc gia Xã hội Công nhân Đức, thành lập ngày 5/1/1919 với tên gọi Đảng Công nhân Đức và tồn tại dưới tên gọi này tới tháng 2/1920 – đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng đầu tiên của mình ngày 24/2/1920 tại Hofbräuhaus, một quán bia rộng lâu đời nằm ngay trung tâm Munich. Trước hai ngàn người ủng hộ, lãnh tụ mới bầu của Đảng Adolf Hitler, kẻ tự gọi mình là “người đánh trống” của phong trào cánh hữu, đã tuyên bố hai mươi lăm điểm của chương trình hoạt động của Đảng. Trong đó bao gồm một “nước Đại Đức” cho mọi người thuộc dân tộc Đức, hủy bỏ Hiệp ước Versailles, những kế hoạch cho “ruộng đất” (các thuộc địa) và một cuộc chiến chống lại chủ nghĩa tư bản “Do Thái”. Để thực hiện những yêu cầu này, ông ta khăng khăng, cần tạo ra một quyền lực tập trung mạnh mẽ, thay thế nền dân chủ bằng hệ thống chuyên chế độc tài. Việc Hitler không ngừng trút căm hận lên “bọn tội phạm tháng Mười Một”, những nhà chính trị mà ông ta tuyên bố rằng đã phản bội nước Đức bằng cách đề nghị đình chiến, đã được ngày càng nhiều người tán thành. Chẳng mấy chốc sự xuất hiện của ông ta trên bục có thể kéo người nghe đến đầy kín tòa nhà Zirkus Krone khổng lồ, nơi từ tháng 5 tới tháng 8 1923 ông ta đã diễn thuyết trước đám đông chen kín đến năm lần.

danngoc 22-01-2013 09:39

Đến lúc này tình hình tại nước Đức ngày càng đi xuống với tốc độ gia tăng đến chóng mặt. Giới trung lưu, với truyền thống tiết kiệm chắt bóp có từ lâu đời, bị ảnh hưởng đặc biệt nặng từ hậu quả của lạm phát. Họ bị thực sự khánh kiệt, dẫn đến nỗi cay đắng vô cùng. Không có gì khiến tầng lớp trung lưu Đức nghiêng về phía Hitler mạnh hơn cuộc lạm phát 1919-1923, như Stefan Zweig đã viết. Thậm chí với một gia đình sung túc như nhà Himmler, cuộc lạm phát phi mã bi thảm 1922-1923 cũng vẫn là một cú sốc bất ngờ. Do quá nhiều tài sản trước đây của họ, mà từ những năm đầu của cuộc hôn nhân đã là thứ đảm bảo an toàn cũng như gây dựng ảnh hưởng, vừa qua bị mất sạch trong trái phiếu chiến tranh, rất có thể là ngay khi chiến tranh vừa kết thúc họ sẽ bắt đầu tích cực tiết kiệm hơn trước. Vậy mà giờ đây những món mới tiết kiệm ấy đã biến thành mớ giấy lộn do lạm phát liên tục. Nhờ có khoản tiền lương hiệu trưởng của Gebhard Cha mà họ có rủng rỉnh tiền tiêu hơn những gia đình khác; nhưng thực ra cũng chẳng có thứ gì để mua được bằng tiền. Tháng 8/1923 đồng dollar đổi được một triệu mark Đức; đến tháng 9 người ta nói tới tỷ giá hàng trăm triệu, tới cuối tháng 10 đã là hàng tỷ.

Tháng 7 năm đó Gebhard tốt nghiệp bằng kỹ sư. Trong những năm cuối đại học ông tập trung học và có điểm xếp loại rất tốt. Mặc dù vậy, cơ hội để kiếm được việc làm gần như bằng không. Để không phải lâm vào cảnh ăn không ngồi rồi ở nhà, mấy tháng cuối năm 1923 ông làm cho một ngân hàng cầm cố và hối đoái vừa phải chuyển nhân viên thường trực sang “đối phó với hàng núi giấy lộn vô giá trị”. Ngày 1/9 Heinrich bỏ công việc tại Schleissheim; đến lúc này tiền lương của ông ta, vốn khá còm cõi, đã không mua nổi bất cứ món gì được nữa. Tuy nhiên, trên tất cả là ông ta nhận ra một cơ hội có thể chứng tỏ bản thân thông qua một cuộc đấu tranh vũ trang. Nhật ký của ông ta thời kỳ này đầy những đoạn viết về mong ước cháy bỏng nhất của mình là khoác lại lên người “bộ đồ ưa thích”, tức bộ quân phục. Ngày 15/9 ông ta gia nhập Đại đội Werner, một đại đội tình nguyện dự bị Bavaria trực thuộc quân đội.

Cha mẹ ông ta hẳn đã không vui khi ông ta bỏ việc. Nhưng có lẽ thời này quá hỗn loạn nên họ cũng không còn xem nặng chuyện này nữa. Thế giới xưa của Gebhard và Anna Himmler đã bị rúng động tới tận gốc rễ do mất mát các giá trị vật chất và văn hóa gây nên bởi sự bại trận và quá trình sụp đổ của nền quân chủ. Những khó khăn của các năm đầu thời kỳ cộng hòa, trên hết là cơn khủng hoảng đạt đến đỉnh điểm bi thảm mùa thu năm 1923, có lẽ đã chỉ khiến họ thêm hoài nghi đối với nền dân chủ non trẻ. Ước vọng chân thành của họ có lẽ là sớm khôi phục lại sự ổn định và trật tự. Và, cũng như nhiều nhà tư sản khác, có lẽ họ xem quân đội và các sĩ quan, những người thường xuất thân từ các dòng họ quý tộc lâu đời, là nhóm người duy nhất có thể đảm bảo được chuyện này.

Mối lo lắng của họ về tương lai của chính mình bị trầm trọng thêm bởi viễn cảnh xám xịt của các con, bởi cả hai đều đã trải qua những năm tháng như vậy. Hai con lớn của họ đã tốt nghiệp nhưng không có việc làm; những công việc ở đây lương lậu không đủ sống nổi. Mặt khác, con út của họ còn đang chuẩn bị thi tốt nghiệp và mặc dù điểm cao, thậm chí không thể biết liệu có vào được đại học hay không. Đã là cuối năm vậy mà không khí trong gia đình Himmler vẫn thật ủ rũ. Gebhard viết:

Những mất mát mà nhân dân Đức đang chịu đựng đang tăng gấp trăm gấp ngàn. Tình hình xấu đi với tốc độ ngày càng tăng, mọi người đều nói mọi chuyện không thể tiếp tục như thế này, nhưng không một ai biết cần phải làm gì để ngăn chặn thảm họa. Heinrich chuyển sang một đơn vị Reichsflagge (Ngọn cờ đế chế) trước khi tôi cũng làm theo, bởi Đại đội dự bị số 14 dường như quá vô thưởng vô phạt. Mọi chiến lược chỉ là kéo nhau đi qua đi lại; do đó tháng 10/1923 Reichsflagge chia ra thành Reichsflagge Cũ ở lại Nuremberg, trong khi chúng tôi tại Munich gia nhập vào Reichskriegsflagge (Ngọn cờ đế chế chiến đấu) do Đại úy Röhm chỉ huy.

danngoc 22-01-2013 09:45

Mùa xuân 1921 Gustav Ritter von Kahr, Thủ hiến bang Bavaria, dưới áp lực của chính phủ trung ương Berlin đã phải giải tán tổ chức Dân vệ Công dân Bavaria. Hiệp ước Versailles yêu cầu cắt giảm Quân đội Đức xuống còn một trăm ngàn người vào tháng 1/1921. Kết quả là sự sáp nhập vô số “hội ái quốc” cấp tiến, bao gồm Bund Oberland (Hội Oberland) vốn xuất thân từ Freikorps của Epp, và đơn vị Reichsflagge. Nhánh Munich của Reichsflagge là một đơn vị quân sự thực hành kỷ luật nghiêm ngặt, ban đầu chống lại tất cả các nhóm cánh tả, sau đó là chống lại toàn thể hệ thống của Cộng hòa Weimar, và ủng hộ việc tái lập nền quân chủ ở Bavaria. Người đứng đầu của nó là Ernst Röhm.

Chính từ sự khởi xướng của ông ta mà Hội Oberland, Reichsflagge và tổ chức SA Quốc xã đã thành lập Deutscher Kampfbund (Hội Chiến đấu Đức) ngày 1 và 2 tháng 9/1923 tại Nuremberg, với mục tiêu “bằng mọi giá chặn đứng nỗi ô nhục đáng xấu hổ mang tên Hiệp ước Versailles”. Hội Chiến đấu xác định là phải chiến đấu chống lại “chủ nghĩa Mác-xít, bọn Do Thái và hệ thống dân chủ nghị viện”. Adolf Hitler nắm lấy quyền lãnh đạo chính trị ngày 25/9/1923, dẫn tới sự chia tách Reichsflagge vào tháng 10. Những nhóm lớn rời khỏi Hội Chiến đấu, trừ Reichskriegsflagge vẫn còn dưới quyền Röhm, và chấp nhận Hitler làm lãnh tụ chính trị tức “Führer”của mình.

Từ năm 1921 Ernst Röhm, đại diện điển hình của thế hệ đã tham gia chiến đấu ngoài mặt trận, đã là một trong những nhân vật chủ chốt của quá trình biến chuyển từ bộ phận bảo vệ an ninh cho Đảng NSDAP của Hitler tại các cuộc mít tinh quần chúng trở thành một tổ chức bán quân sự Sturmabteilung (SA), và ông ta có các mối quan hệ tuyệt hảo với tất cả những tổ chức bán vũ trang khác. Vì là “cố vấn quân khí” nên ban đầu ông ta chịu trách nhiệm về việc đảm bảo bí mật – ở nước Đức đang giải trừ quân bị thì việc này là bất hợp pháp – cho kho vũ khí của Lữ đoàn bộ binh Epp, và từ năm 1921 trở đi chịu trách nhiệm cho toàn bộ quân khu Bavaria, khiến ông ta có biệt danh là “vua đại liên xứ Bavaria”.

Năm 1919 Gebhard và Heinrich được chuyển từ Dân vệ Công dân Munich sang Lữ đoàn bộ binh 21; bây giờ thì cả hai – Heinrich từ năm 1922, Gebhard từ đầu năm 1923 – cùng gia nhập Reichsflagge. Qua mấy năm gần đây thái độ của họ không chấp nhận nền cộng hòa nghị viện đã ngày càng chuyển sang quan điểm cấp tiến rõ rệt, và họ ngày càng quyết tâm trong việc sẵn sàng “giải quyết” tình thế chính trị và kinh tế bất ổn bằng vũ lực súng đạn. Không có bằng chứng nào về thái độ của cha mẹ với sự biến chuyển chính trị của hai người con, nhưng thật khó để cho rằng bọn họ có thể chịu sống chung dưới một mái nhà trong khi có quan điểm trái ngược nhau. Cả trong “Hồi ký” của Gebhard lẫn nhật ký của Heinrich đều không có bất kỳ đề cập nào đến sự phản đối của cha mẹ, kể cả khi hai anh em cuối cùng đều tham gia vào cuộc biến chính của Hitler.

Ngay từ tháng 9/1923 ở Munich đã có những tin đồn rằng về một cuộc đảo chính sắp xảy ra. Tồn tại một cảm giác lan tràn khắp nơi rằng có điều gì đó sắp xảy ra, và đặc biệt là những thành viên của Hội Chiến đấu đều hết sức căng thẳng chờ đợi. Cả Adolf Hitler cũng thúc giục hành động mau lẹ. Ông ta đang cạn dần nguồn quỹ để hỗ trợ cho SA, các hội dân tộc chủ nghĩa đang đe dọa tách ra theo những hướng khác nhau của riêng họ, và uy tín của ông ta trong đám lính chiến đấu cánh hữu đang có nguy cơ tan biến nếu ông ta không ra tay làm điều gì đó.

Trong những ngày tháng đó xứ Bavaria bị cai trị bởi tam đầu chế: Kahr, từ ngày 26/9/1923 là Cao ủy chính quyền với quyền lực gần như độc tài; Hans Ritter von Seisser, đứng đầu cảnh sát Bavaria; và Tổng tư lệnh quân đội xứ Bavaria von Lossow. Bọn họ đều mơ đến cuộc “hành quân về Berlin” – phỏng theo hình mẫu cuộc “hành quân về Rome” của Mussolini – để lập nên một chính phủ dân tộc chủ nghĩa tại đấy. Hitler cố gắng lôi kéo cả ba về phía mình – ông ta cần sự ủng hộ quân sự và ít nhất là sự đồng lõa ngầm của cảnh sát. Tuy nhiên, cuối cùng ông ta quyết định cứ tiến hành không cần đến họ, mặc dù làm một mình có nghĩa là cuộc biến chính của ông ta sẽ thấy rõ không thể thành công. Quyết định tấn công sớm hơn dự tính được ban ra ngày 7/11. Hitler muốn đưa ra một tín hiệu khích động. Ngày mùng 8 tất cả những chính trị gia hàng đầu ở Munich được tập trung ở Bürgerbräukeller để nghe bài diễn văn của Kahr.

Với sức chứa ba ngàn người, sảnh bia Bürgerbräukeller ở khu phía đông thành phố ngập tràn tiếng huyên náo. Kahr vừa kết thúc phần đầu bài phát biểu của mình thì Hitler và đám SA của ông ta xông vào tòa nhà và vừa vung khẩu súng lục giữa tiếng náo động không dứt vừa tuyên bố “cách mạng dân tộc”. Tướng von Lossow và Hans von Seisser cho tiến hành đối phó, một việc dù ít dù nhiều đã bóp chết cuộc biến chính từ trứng nước. Giờ đây Hitler và đám SA sắp phải trả giá cho việc vội vàng thiếu chuẩn bị của mình.

danngoc 22-01-2013 09:47

Chiều hôm ấy, Đại úy Röhm và đám ủng hộ viên trong Reichskriegsflagge đang tập hợp ở Löwenbräukeller phía bên kia thành phố Munich, chờ có lệnh của Hitler từ quán Bürgerbräukeller. Một liên lạc viên mang chỉ thị tới hướng dẫn chiếm lấy các sở chỉ huy quân sự, vốn nằm ở trung tâm Munich, giữa khu Odeonsplatz và trường đại học. Röhm thực hiện chuyện này thành công, nhưng ông ta quên không chiếm lấy tổng đài điện thoại, nơi tới đêm Lossow đã thông qua đó kêu gọi binh lính trung thành với chính phủ đến hỗ trợ ở khu vực xung quanh. Những cố gắng của phe biến chính muốn chiếm lấy những công thự chính phủ còn lại và các doanh trại đã sụp đổ vì sự thiếu tổ chức của chính họ.

Khi đến cuối buổi sáng ngày 9/11 Hitler cho hai ngàn người phần lớn có trang bị vũ khí xuống biểu tình ở trung tâm thành phố, cuộc biến chính xem như đã thất bại. Cuộc “cách mạng dân tộc” này chỉ thu hút được vài khán giả vãng lai cổ vũ, trong khi những người khác thì chế nhạo họ. Khi đoàn người kéo tới tòa nhà Feldherrnhalle trên quảng trường Odeonsplatz thì một trận đấu súng dữ dội nổ ra, trong đó mười bốn kẻ biến chính và bốn cảnh sát bị giết chết. Hitler suýt bị trúng một viên đạn. Hermann Göring, bị thương ở chân, đã tìm cách chạy qua biên giới Áo cùng một số kẻ đứng đầu biến chính. Julius Streicher, Wilhelm Frick, Ernst Röhm và những kẻ còn lại bị bắt. Hitler bị bắt vào ngày hôm sau trong nhà của chủ nhà in Ernst Hanfstängl và bị đưa về Nhà tù Landsberg, nơi Bá tước Arco-Alley từng chịu án trong căn phòng giam rộng rãi dành cho tù nhân cao cấp.

Gebhard và Heinrich cũng tham gia cuộc tụ họp ở Löwenbräukeller, “một buổi chiều thân mật với các đồng chí trong Reichskriegsflagge” như lời Gebhard tả trong “Hồi ký”. Cách mô tả của ông như thể họ chỉ tình cờ có mặt tại Löwenbräukeller, nhưng nhiều khả năng họ cùng với Röhm chờ đợi các mệnh lệnh kế tiếp của Hitler. Đột nhiên, Gebhard ghi lại, một người đưa tin từ Bürgerbräukeller xuất hiện và tuyên bố rằng Hitler

cùng với Kahr, Lossow và Seisser, đã tuyên bố thành lập một chính phủ dân tộc chủ nghĩa! Ngày nay người ta không thể tưởng tượng được sự phấn khởi khi tin này được đón chào bởi mọi người có mặt tại đó. Các cụ ông cụ bà nước mắt rưng rưng, thanh niên nhảy cẫng trên mặt bàn, mọi người đều cuồng lên vì phấn khích. Reichskriegsflagge được giao cho nhiệm vụ chiếm lấy Sở chỉ huy Quân khu nằm ở góc phố Ludwigstrasse và Schönfeldstrasse. Ngay lập tức toàn đại đội tập hợp lại thành đội hình và hành quân tới trung tâm thành phố dưới sự chỉ huy của Đại úy Röhm.

Khi tới nơi sau nửa tiếng hành quân, theo sau là “đám đông phấn khích trong hầm bia”, trông như thể “mọi việc đều ổn. Chúng tôi không hề lo chuyện gì sắp xảy ra tiếp theo, điều quan trọng là có gì đó đã xảy ra”. Khi họ tới đó “chỉ toàn là binh lính, sinh viên và công nhân yêu nước”, không “nhất thiết trung thành với Hitler”.

Trong “Hồi ký”, viết vào thập niên 1970, Gebhard cung cấp mô tả chi tiết về thiên sử thi anh hùng của cuộc Biến chính Hitler, trong đó ông tham gia ở tuyến đầu, sát cánh cùng Heinrich. Đó là bản báo cáo đầy những hồi tưởng nuối tiếc ngày tháng hào hùng của họ và về vai trò của chính ông trong đó. Ông mô tả tiến trình sự kiện diễn ra trong đêm, việc họ cuối cùng bị lính chính phủ bao vây; bằng những tình tiết trìu mến ông ta nhớ lại vị trí chính xác của từng ụ súng máy. Tôi nhìn xuống tấm ảnh nổi tiếng chụp Heinrich đứng cạnh chiến lũy chăng dây thép gai, tay ôm ngọn cờ hiệu của Reichskriegsflagge. Đột nhiên tôi cảm thấy mình nhận ra rõ Gebhard, đứng xa hơn về phía bên phải của tấm ảnh, đầu đội mũ mềm. Về sau khi nhìn lại thì cảm giác ấy không còn rõ nữa. Dù vậy, điều ấy vẫn là có thể.

Gebhard tả vô cùng chi tiết về những thời điểm mà ông thấy thật xúc động: đặc biệt là khi một trong các đồng chí của ông “cắm lá cờ hiệu vùng Annaberg của mình” lên chiến lũy. Lá cờ hiệu này vốn được tặng cho các thành viên Freikorps của Epp và Hội Oberland đã cố gắng ngăn chặn việc nhượng lại vùng đất phía đông của Thượng Silesia cho Ba Lan và đã tham gia cuộc trấn áp tàn bạo thành công cuộc nổi dậy của người Ba Lan ở vùng Thượng Silesia. Trận Annaberg tại vùng Erzgebirge, vùng núi trên biên giới Séc-Đức, được đánh giá gần như có vai trò huyền thoại trong giới cánh hữu.

Gebhard thậm chí đã tìm cách mô tả khoảng khắc khi phe biến chính đầu hàng như là một khải hoàn: “chúng tôi phải giao nộp tất cả vũ khí và đạn dược, sau đó chúng tôi được tự do rút lui. Tôi phải nói rằng xin ngả mũ tôn trọng đại đội bộ binh đã bắt chúng tôi đầu hàng giao nộp vũ khí. Họ không có động thái nào kể cả lúc sau khi nộp hết súng chúng tôi ném chỗ đạn xuống dưới chân họ đánh xoẻng một cái”. Nhiều năm sau dường như ông vẫn còn tự hào về hành động phô trương đó. Rõ ràng cả Gebhard, cũng như Heinrich, đều có điểm yếu dễ bị kích động khi đề cập tới dân tộc và đất nước Đức, về quân sự và về tình đồng chí đồng đội.

danngoc 22-01-2013 09:54

Và rồi là lúc rút lui. Ở giữa là Faust đồng đội đã ngã xuống của chúng tôi, được khiêng trên cáng. Chúng tôi muốn đưa anh về cho cha mẹ anh. Chúng tôi lặng lẽ đều bước qua những con phố. Tôi nhớ mãi nụ cười trên khuôn mặt nhiều thị dân đáng kính, trong khi chiều hôm trước chính họ đã hoan hô chúng tôi. Tại phố Theresienwiese chúng tôi gặp một đám công nhân vừa tan ca từ các xưởng máy tại Sendling và đi tìm chúng tôi. Chúng tôi cứ tưởng sẽ có cãi vã. Thật quá sai lầm! Không một lời trách móc. Đám công nhân lặng im đứng nhìn và bỏ mũ xuống khi chúng tôi khiêng người chết đều bước ngang qua; một vài phụ nữ đến chỗ cái cáng và nhẹ nhàng vuốt ve tấm vải phủ xác chết.

Vài hôm sau khi cuộc biến chính thất bại, ngày 15/11, đồng Rentenmark được công bố làm đồng tiền mới (sang năm sau được thay thế bởi đồng Reichsmark). Điều này cuối cùng đã ổn định được đời sống kinh tế, dù phải bù lại là số thất nghiệp gia tăng. Heinrich và Gebhard cũng bị ảnh hưởng bởi chuyện này, do công việc của Gebhard ở ngân hàng đã kết thúc khi không còn hàng núi giấy bạc vô giá trị nữa, và Đại đội Werner, nơi Heinrich từng đặt nhiều kỳ vọng để trở thành quân nhân, bị giải thể sau biến chính.

Nhiều cư dân của Munich có cảm tình với cuộc biến chính. Tuy nhiên, sau khi nó thất bại, đám lính xung kích với chữ thập ngoặc biến mất khỏi thành phố. Hitler, Röhm và những người khác phải ngồi tù, Đảng NSDAP bị cấm và phong trào dân tộc chủ nghĩa tan tác. Tuy nhiên, cảm tình với phe cánh hữu cấp tiến vẫn tồn tại. Tại cuộc bầu cử địa phương ở thành phố này ngày 6/4/1924, Völkischer Block, nhóm lớn nhất trong số các tổ chức thuộc phong trào dân tộc cực hữu, nhận được 33 % phiếu bầu, nhiều hơn Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Cộng sản cộng lại. Cùng với cải cách tiền tệ, tình hình chính trị cũng dần dần ổn định, và trong cuộc tổng tuyển cử tháng 12/1924 phe dân tộc chủ nghĩa không còn là một lực lượng bị xem thường nữa. Dù vấn đề chỉ còn là thời gian.


HẾT CHƯƠNG 6


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:42.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.