Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Văn hóa (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=29)
-   -   Dàn hợp xướng thần kỳ (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=5049)

danngoc 16-11-2011 14:26

http://i982.photobucket.com/albums/a...vsky-Genoa.jpg
Vaslav Vorovsky (1871 - 1923)

danngoc 16-11-2011 14:28

http://i982.photobucket.com/albums/a...a_by_Repin.jpg
Maria Fyodorovna Andreyeva (1868 – 1953), vợ của Maxim Gorky - tranh của Ilya Repin

danngoc 16-11-2011 14:31

http://i982.photobucket.com/albums/a...ss_Moskvin.jpg
Từ trái qua phải: nhạc sĩ A.Alexandrov, nhạc sĩ I.Dunaevsky, nhạc sĩ D.Pokrass, nghệ sĩ I.Moskvin, và chủ nhiệm A.Loktionov

danngoc 18-11-2011 20:00

Giới thương nhân Moscow, lâu nay vẫn bị báo chí phe tự do nhạo báng vì sự giàu có của nó và quan điểm hủ lậu mù quáng của nó, vào đầu thế kỷ hai mươi đã bảo trợ cho một số nhân vật kiệt xuất mạnh mẽ phát triển thanh thế của nền văn hóa Nga. Một ví dụ vào cuối thế kỷ mười chín là Pavel Tretyakov, người đã tập hợp bộ sưu tập lớn nhất về nghệ thuật Nga (em trai ông, Sergei, hầu như chỉ sưu tầm riêng các nghệ sĩ Pháp, từ Géricault tới Courbert). Đi theo con đường quốc tế hoá của Sergei Tretyakov, các thương nhân Moscow Ivan Morozov và Sergei Shchukin đã mua những tác phẩm phái tiền phong (avant-garde) của chàng thanh niên Picasso và Matisse, mà ngày nay đã trở thành niềm hãnh diện (và là nguồn thu nhập vững chắc thông qua việc cho mượn để triển lãm) của những viện bảo tàng chính ở Nga.

Sau này Matisse đã nói về Shchukin rằng ông ta luôn chọn lấy những những tác phẩm đẹp nhất của mình. Đôi khi Matisse không sẵn lòng chia tay với một bức tranh đẹp và nói với Shchukin, “Bức này chưa xong, để tôi cho ông xem bức khác nhé”. Shchukin thường nhìn chằm chằm xuống khung vải thật lâu rồi kết thức bằng lời tuyên bố, “Tôi sẽ lấy bức chưa xong này”. *


* Trích trong: Il’ia Erenburg, Liudi, gody, zhizn’. Vospominaniia [Con người, năm tháng, cuộc đời. Hồi tưởng], ba tập, tập 3 (Moscow, 1990), tr. 81

danngoc 18-11-2011 20:40

http://i982.photobucket.com/albums/a...h_Shchukin.jpg
Sergei Ivanovich Shchukin (1854 – 1936)

danngoc 18-11-2011 20:41

Nhiều thương gia Moscow khá lập dị, nhưng thậm chí khi đứng giữa bọn họ thì Savva Morozov (thuộc họ nhà Morozov) vẫn là kẻ nổi bật. Là chủ nhân ông thành đạt của nhiều lò nấu quặng sắt và nhà máy hoá chất tài sản của gia đình cùng hàng ngàn công nhân, ông cũng là một trong những nhà tài trợ chính của Đảng Dân chủ Xã hội Nga, mà thành phần cấp tiến của nó chính là những người Bolshevik do Lenin lãnh đạo.

Morozov cũng là một người hào phóng đỡ đầu cho nghệ thuật; ông đã cứu MAT khỏi bị phá sản. Toà nhà mới toanh của MAT, do kiến trúc sư trường phái Art Nouveau Fedor Shekhtel thiết kế với một sân khấu quay mà kể cả ở phương Tây cũng là của hiếm, cùng trang bị chiếu sáng đạt trình độ kỹ thuật tối tân nhất, được xây tại Kamergersky Pereulok bằng tiền túi của ông và được ông đích thân giám sát, ngày nay vẫn là một trong những điểm nhấn kiến trúc của Moscow.

danngoc 18-11-2011 20:42

http://i982.photobucket.com/albums/a...rus/___181.jpg
Savva Timofeyevich Morozov (1862-1905)


http://i982.photobucket.com/albums/a...htel_mkhat.jpg
MAT

http://i982.photobucket.com/albums/a...chtel_1902.jpg

danngoc 20-11-2011 07:22

Morozov trở thành giám đốc điều hành không chính thức của MAT. Chế độ chuyên chính tay ba điều hành cái nhà hát nổi tiếng tạo nên một bức tranh kỳ lạ: dáng người to lớn thanh nhã của Stanislavsky với mái tóc bạc, cặp lông mày đen ma quái và đôi mắt trẻ thơ; Nemirovich-Danchenko to ngang, đầy vẻ tự tin, sắc sảo, một quý ngài Moscow điển hình có bộ râu quai nón được xén tỉa gọn gàng; bên cạnh họ là Morozov nóng nảy, hay nhăn nhó và vô cùng thiếu hấp dẫn với khuôn mặt Tartar đỏ sậm và bộ tóc cắt ngắn trên mái đầu tròn.

Với quyền lực mới lập của mình tại nhà hát, Morozov bắt đầu chuyển các vai nữ chính cho vị nữ thần của ông Andreyeva, cắt bớt của một ngôi sao khác của MAT, Knipper. Dĩ nhiên, Gorky thấy thích thú và viết cho Chekhov: “Mỗi khi tôi thấy Morozov sau sân khấu, người lấm bụi và đầy lo lắng về sự thành công của vở kịch, tôi lại thấy mình sẵn sàng tha thứ cho anh ta vì tất cả những nhà máy của anh ta (một sự tha thứ mà anh ta chẳng cần) – tôi thích anh ta bởi anh ta yêu nhà hát một cách đầy vị tha”. * Chekhov, khó chịu và được vợ mình cho biết rằng Morozov cũng yêu Andreyeva đầy vị tha nhưng không quan tâm mấy tới Knipper, đã cố gắng giữ vị đỡ đầu cách xa khỏi sân khấu. “Anh ta không được phép tiếp cận quá gần quá trình thực hiện công việc. Anh ta có thể đánh giá diễn xuất, vở kịch và các diễn viên chỉ như một thành viên khán giả chứ không phải với vai một ông chủ hay ông giám đốc”. **

Rất ít người biết rằng Andreyeva (trước khi vào MAT bà đã lập gia đình với một quan chức cao cấp của chính phủ Sa hoàng) đã trở thành một người Mácxít tận tâm. Bà giữ trách nhiệm cung cấp tài chính cho báo chí Bolshevik; Lenin tặng bà biệt danh trong đảng là “Người phi thường”. Chỉ có bà mới dám dẫn một vị lãnh đạo Bolshevik, Nikolai Bauman, giấu vào phòng riêng của mình trong khi bà đang tiếp ông trùm cảnh sát Moscow ở phòng bên. Andreyeva là khách mời được đón chào ở dinh của Đại công tước Sergei, vợ ông này (em gái hoàng hậu) vẽ chân dung cho bà, không hề nghi ngờ về việc người bà vẽ là điệp viên tài chính của của Đảng Bolshevik. Andreyeva đã khiến cả Morozov lẫn Gorky đóng góp cho đảng, giới thiệu họ cho Lenin.


* Trích trong: A. Turkov, A. P. Chekhov i ego vremia [A. P. Chekhov với thời đại của ông] (Moscow, 1980), tr. 379.

** Chekhov, Sobranie sochinenii, tập 12, tr. 557

danngoc 20-11-2011 07:31

http://en.wikipedia.org/wiki/Grand_Duke_Sergei
Đại công tước Sergei Alexandrovich (Сергей Александрович) (1857 – 1905) em của Sa hoàng Aleksandr III, bị giết chết bởi bom của kẻ khủng bố

danngoc 21-11-2011 20:32

Đối với Gorky và Andreyeva có khuynh hướng cấp tiến, Chekhov, thần tượng mới đây của họ, không còn mang đủ tính cách mạng nữa. Năm 1903 khi đọc Vườn Anh đào, Gorky, vẫn còn nhức nhối vì nhận xét của Chekhov về thẩm mỹ lạc hậu của mình hai năm về trước, đã chê bai vở kịch: “Khi đọc, nó đã không gây ấn tượng với tôi như các tác phẩm chín chắn khác. Trong đó chẳng có một từ ngữ nào mới mẻ”. *

Bản thân Chekhov không phải không thích nổi tiếng và được nhiều người biết đến, và ông rất lo lắng về Vườn Anh đào. Ông khó chịu bởi đám khán giả “tiến bộ”, những khán giả điển hình của MAT, đã gạt vở kịch ra vì không mang tính chính trị và do đó đã lỗi thời. Ông cũng không khuây khoả ít ra với sự say sưa mê mệt của Stanislavsky, người nhắc đi nhắc lại rằng mình đã khóc như đàn bà khi xem vở kịch. Nước mắt của Stanislavsky, mà Chekhov biết quá rõ, không mang nhiều ý nghĩa, do vị giám đốc, người thừa nhận rằng mình không hiểu chút gì về văn học đương đại, đã xem Vườn Anh đào là một vở bi kịch, trong khi Chekhov mô tả nó như một hài kịch, thậm chí còn là một kịch hề nhộn.

Sự hiếu mộ Chekhov cũng qua dần. Giới phê bình không thấy gì mới trong các tác phẩm thấm đẫm giọng điệu bi thương của MAT, ngoài tính bi quan sâu sắc của tác giả. Một người đã viết: “Nếu nhà hát này cần một khẩu hiệu để ở cổng vào, tôi sẽ đề nghị lấy dòng chữ khắc trên chiếc chuông thời trung cổ: Vivos voco, mortuos plango [Tôi ca ngợi người sống, than khóc cho kẻ chết]… Mortous plango: Anton Chekhov. Vivos voco: Maxim Gorky”. **

Chekhov đổ lỗi cho Stanislavsky và MAT vì sự trình diễn không thành công vở kịch cuối cùng của ông; chẳng bao lâu sau đó ông qua đời. Andreyeva cảm thấy rằng bà và Gorky đang chiến thắng. Bà đã chiến đấu cùng Nemirovich-Danchenko và Stanislavsky, được ghi lại trong một lá thư khá gay gắt của Stanislavsky gửi cho chính bà (tháng 2/1902), trong đó ông gọi bà bằng cái từ xấu xí nhất trong kho từ ngữ của mình: “quê vụng”. “Tôi ghét con người diễn viên quê vụng trong cô (đừng nổi khùng lên nhé)… Cô bắt đầu dối trá, cô không còn tử tế và thông minh nữa, cô trở nên trơ ra, sống sượng, không thành thật trên sân khấu và trong cuộc sống”. ***


* Trích trong: Turkov, Chekhov, tr. 389

** Rus’, số ngày 3/4/1904

*** K. S. Stanislavsky, Sobranie sochinenii [Tuyển tập tác phẩm], tám tập, tập 7 (Moscow, 1960), tr. 227

danngoc 21-11-2011 21:14

Quay lại khi đó, năm 1902, Andreyeva vờ như không phản đối. Nhưng đến năm 1904, bà rời bỏ MAT, nói với Stanislavsky khi chia tay, “Tôi không còn quan tâm đến công việc của Nhà hát Nghệ thuật nữa”. Đương nhiên, Gorky cũng cắt đứt quan hệ với MAT. Cú đấm tồi tệ nhất với nhà hát là tuyên bố của Morozov rằng ông thôi chức giám đốc của MAT và không ủng hộ tài chính nữa. Stanislavsky phát hoảng: nhà hát đột nhiên mất đi hai soạn giả chủ yếu của mình, Chekhov và Gorky, một nữ diễn viên hàng đầu và nhà bảo trợ chính của mình.

Và rồi xuất hiện cái tin giật gân rằng Morozov đang dự định lập một nhà hát mới tại St. Petersburg dành riêng cho Andreyeva, thậm chí còn lộng lẫy hơn cả cái ông xây cho MAT. Báo chí có một ngày bận rộn, thêm mắm muối cho câu chuyện rằng đoàn này sẽ là một địch thủ nguy hiểm cho MAT, mở cửa mùa thu năm 1905 bằng một vở kịch mới hấp dẫn của Gorky. Stanislavsky viết cho bạn tâm tình của mình: “Có ai đó đang lan truyền tin đồn tại Moscow và trên báo rằng chúng tôi bị chia xé, rằng mọi thứ đang sụp đổ, rằng tôi đang rời bỏ Nhà hát Nghệ thuật”. *

Tất cả chấm đứt đúng là đánh đùng một cái. Ngày 13/5/1905, Savva Morozov tự sát bằng súng trong phòng khách sạn của mình tại Nice. Để nhắm cho chính xác, ông đã khoanh tròn chỗ trái tim trên ngực mình bằng chiếc bút chì màu. Suy sụp tinh thần không phải là điều gì lạ lẫm trong họ nhà Morozov, nhưng ngày nay lời giải thích chính thức do suy nhược thần kinh nghiêm trọng bị xem là đang ngờ. Một số kẻ cho rằng những người Bolshevik có liên quan, và gia đình Morozov có ám chỉ rằng đó là một vụ giết người: trên hết tất cả, Morozov đã mua bảo hiểm tính mạng mình bằng một trăm ngàn rúp (một số tiền khổng lồ thời đó) và ông trao quyền thừa hưởng cho Andreyeva, người đã chuyển hết số tiền cho người Bolshevik ngay sau khi ông chết.


* K. S. Stanislavsky, Sobranie sochinenii [Tuyển tập tác phẩm], tám tập, tập 7 (Moscow, 1960), tr. 307

danngoc 22-11-2011 23:35

Hoá ra, cái chết của Morozov đã cứu thoát MAT. Không có người bảo trợ, nhà hát cạnh tranh dự kiến ở St. Petersburg đã không thể thành hiện thực, Andreyeva mau chóng lặng lẽ quay về MAT, và thậm chí cả Gorky, người từng khinh miệt tuyên bố rằng không thể có chuyện ông đưa vở kịch mới cho Nhà hát Nghệ thuật, đã suy nghĩ lại. Vở kịch Những đứa con của mặt trời của ông trình diễn lần đầu ngày 24/10/1904 tại MAT, và nó được nhớ đến bởi cảnh hỗn loạn trong đêm diễn mở đầu.

Vào lúc này, tình hình tại Moscow, cũng như mọi nơi khác ở nước Nga, là vô cùng căng thẳng. Năm 1904, Nikolai tuyên chiến với Nhật Bản, một cuộc chiến dự kiến sẽ nhanh chóng và thắng lợi nhưng lại kết thúc sau mười tám tháng với một thất bại nhục nhã. Và rồi vào chủ nhật 9/1/1905, một cuộc tuần hành của hàng ngàn công nhân đi tới cung điện của Sa hoàng với một đơn thỉnh nguyện nội dung than phiền đã chấm dứt khi quân đội và cảnh sát nổ súng giết chết hàng trăm người.

danngoc 23-11-2011 16:33

Sau ngày Chủ nhật Đẫm máu ấy tại St. Petersburg, các cuộc bãi công biểu tình của công nhân tại Moscow và nhiều thành phố khác đã biến thành giao chiến đường phố với cảnh sát và binh lính. Dưới sức ép của các cố vấn, Sa hoàng miễn cưỡng ký một tuyên ngôn ngày 17/10/1905, trao các quyền hiến pháp – tự do ngôn luận, hội họp và lập đảng chính trị – và tuyên bố thành lập quốc hội dân bầu đầu tiên tại Nga, viện Duma.

Bản tuyên ngôn không xoa dịu được tình thế. Ngày hôm sau 18/10, Bauman, nhà Bolshevik trốn cảnh sát tại căn hộ của nữ diễn viên Andreyeva và giờ là một lãnh đạo của cuộc nổi dậy, bị giết chết bởi một thành viên Trăm Đen, một tổ chức dân tuý cánh hữu dân tộc cực đoan. Đám tang của ông ngày 20/10 đã biến thành cuộc biểu tình tập thể tại Moscow, sự kiện lần đầu diễn ra trong lịch sử của thành phố. Gorky, người có tham dự cùng với Andreyeva, khăng khăng khẳng định rằng hàng trăm ngàn người, “tất cả Moscow”, đã tham gia cuộc biểu tình này: công nhân, sinh viên, trí thức, diễn viên và nghệ sĩ, bao gồm cả Stanislavsky và danh ca giọng bass Fedor Chaliapin. Hơn một trăm năm mươi vòng hoa tang, trong đó có vòng hoa của Gorky và Andreyeva: “Kính viếng người đồng chí đã ngã xuống”. Khi người biểu tình bắt đầu giải tán, họ bị lính côdắc và một nhóm ủng hộ viên của Sa hoàng tấn công.

Màn cuối vở Những đứa con của mặt trời của Gorky tại MAT mô tả một cuộc náo loạn: một đám đông phẫn nộ ùa ra sân khấu, có tiếng súng vang lên và nhân vật kép chính do diễn viên được khán giả ái mộ Vassily Kachalov ngã xuống. Stanislavsky có lẽ đã bất ngờ với thủ thuật sân khấu tương đương với tiếng hô “Cháy!” trong một nhà hát đông nghẹt người. Khán giả trong buổi diễn ra mắt nổi cáu: họ sợ tất cả các kiểu khích động và thậm chí cả khả năng mưu hại tác giả. Cảnh đám đông và phát súng dường như quá thật đối với người xem, họ tưởng đó là bọn côn đồ dùng vũ khí tấn công diễn viên. Kachalov nhớ lại: “Tiếng động thật huyên náo. Đám phụ nữ như phát điên. Một phần đám đông đổ xô lên sân khấu, có lẽ để bảo vệ chúng tôi. Những người khác chạy tìm nơi an toàn. Một số xô đến phòng gửi áo khoác để lấy súng trong túi áo khoác. Một số hét lớn: “Hạ màn!”. *

Buổi diễn bị gián đoạn. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhà hát Nga mà nghệ thuật và chính trị trở nên xoắn xuýt với nhau đến nỗi khán giả không thể phân biệt nổi đâu với đâu.


* Trích trong: Vinogradskaia, Zhizn’ i tvorchestvo Stanislavskogo, tập 1, tr. 537

danngoc 25-11-2011 06:26

Hầu hết tinh túy của giới nghệ sĩ Nga đều cách này hay cách khác có liên quan tới xáo động cách mạng năm 1905, và quan điểm – tại nước Nga lúc nào cũng vậy – mau chóng bị phân cực. Nhà thơ Zinaida Hippius than vãn trong bài báo “Chọn bị để chui vào” của mình rằng các nhân vật văn hóa ở Nga “chia tách ra và bị nhét vào hai cái bị, một cái dán nhãn ‘bảo thủ’, cái kia là ‘tự do’ ”. * Ngay khi một người bước vào chốn công chúng và cất tiếng nói, Hippius cằn nhằn, anh ta lập tức bị ném vào một trong hai cái bị. Không còn chọn lựa nào khác.

Đối đầu là không thể tránh được thậm chí cả trong âm nhạc, theo truyền thống là lĩnh vực ít mang tính chính trị nhất của văn hóa. Tranh luận tập trung quanh nhà soạn nhạc Nikolai Rimsky-Korsakov, là nhạc sĩ Nga có ảnh hưởng nhất sau khi Tchaikovsky qua đời năm 1893.

Tại Học viện Âm nhạc St. Petersburg, nơi Rimsky-Korsakov là một giáo sư được kính trọng, sự trì trệ ngày càng tăng sau sự kiện Chủ nhật Đẫm máu. Một học viên trong dàn nhạc quân đội khoe rằng anh ta có tham gia việc nổ súng vào các công nhân. Các học viên khác phẫn nộ và yêu cầu đuổi anh ta. Ban giám hiệu lảng tránh. Khi Rimsky-Korsakov, người có quan điểm chính trị “mang sắc đỏ ngời”, như ông tự nhận, ủng hộ đòi hỏi của các học viên, thì nhà soạn nhạc bị mời ra khỏi ban giảng viên.

Hành vi vội vàng này của các quan chức hữu trách một lần nữa cho thấy sự thiển cận chính trị điển hình của giới quan chức văn hoá Nga. Việc cách chức Rimsky-Korsakov mau chóng trở thành xì căng đan báo chí và khiến công chúng phẫn nộ: nhà soạn nhạc được hàng chồng thư từ và điện tín ủng hộ từ khắp nơi trên đất nước, thậm chí từ những người trước đây chưa từng nghe nói về ông. Các nông dân góp tiền để giúp đỡ “người nhạc sĩ chịu đau khổ vì nhân dân”. Rimsky-Korsakov trở thành một người hùng dân tộc.


* Novyi put’, 1 (1904), tr. 254

danngoc 25-11-2011 06:29

Tờ báo St. Petersburg đầy ảnh hưởng Novosti, trong một bài viết có tựa đề đầy mỉa mai “Chúng ta giúp đỡ nhân tài như thế nào”, đã lần đầu tiên trong lịch sử Nga điền thêm tên của nhà soạn nhạc vào danh sách các nạn nhân chính trị của chế độ sa hoàng. “Chúng ta đã xô Pushkin vào một cuộc đấu súng tự sát. Chúng ta đẩy Lermontov ra đối đầu với đạn chì. Chúng ta kết án Dostoevsky đi lao động khổ sai. Chúng ta chôn sống Chernyshevsky ở miền cực bắc chết chóc. Chúng ta tống đi đày một trong những bộ óc vĩ đại nhất của mình, Herzen. Chúng ta phát vãng biệt xứ Turgenev. Chúng ta rút phép thông công và lăng mạ Tolstoi. Chúng ta trục xuất Rimsky-Korsakov khỏi nhạc viện”. *

Đỉnh điểm của cuộc đối đầu với chế độ đến cùng với buổi diễn ra mắt tại St. Petersburg vở opera một hồi Kashchei Bất tử của Rimsky-Korsakov, viết năm 1902. Vở này rõ ràng có bóng gió tới chính trị, trong đó Kashchei, gã phù thuỷ xấu xa trong cổ tích Nga, đã bị đánh bại bởi sức mạnh của tình yêu. Truyện cổ tích âm nhạc là một thể loại trong đó Rimsky-Korsakov, một bậc thầy về sử dụng chất liệu dân tộc và lối viết nhạc sử dụng dàn nhạc phong phú, không hề có đối thủ. Nhưng đối với ông Kashchei là một thử nghiệm khác thường, trong đó nhà soạn nhạc, vốn được biết là không ưa các cách tân của Debussy và Richard Strauss, đã bất ngờ ôm lấy chủ nghĩa hiện đại trong âm nhạc, đưa thêm vào đó những hòa âm kỳ lạ và các màu sắc ấn tượng, mạnh mẽ cũng giống như những tình cảm chính trị của ông.

Buổi công diễn Kashchei ngày 27/3/1905 bởi các sinh viên của chính cái nhạc viện mà nhà soạn nhạc bị đuổi khỏi đó, đã biến thành một sự kiện được báo chí mô tả như “một cuộc tuần hành quần chúng chưa có tiền lệ, khổng lồ và tràn ngập. Nhà nghệ sĩ được yêu mến ngập mình dưới các tràng hoa, vòng lá và những lời chúc tụng”. ** Lần này chính quyền cũng lại hành xử ngu xuẩn. Khi từ phía khán giả có tiếng hét kêu gọi “Hạ bệ chế độ chuyên quyền!” thì cảnh sát liền hạ màn chống cháy xuống với sự sốt sắng đến nỗi gần như đè bẹp ông già Rimsky-Korsakov sáu mươi mốt tuổi, người đang trên sân khấu để đáp tạ. Theo lệnh của Dmitri Trepov, tổng đốc St. Petersburg (người chẳng bao lâu sau đó sẽ ra lệnh cho các binh lính đi trấn áp cuộc nổi loạn: “Không cần bắn cảnh cáo và đừng có tiếc đạn!”), khán giả bị lùa ra khỏi khán phòng. Chẳng có gì ngạc nhiên khi anh Igor Stravinsky hai mươi ba tuổi, một sinh viên của Rimsky-Korsakov, năm 1905 đã viết cho con trai thầy giáo mình với sự phẫn nộ cấp tiến trái với bản tính mình: “Đáng nguyền rủa cái vương quốc của bọn du côn và lũ ngu đần loạn thần kinh! Quỷ dữ bắt chúng đi!” *** rồi viết tiếp với cùng thứ ngôn ngữ không thể in ra trên sách vở.

Cơn bùng phát của Stravinsky thể hiện một lỗ hổng đang toác rộng nhanh chóng giữa giới trí thức Nga với chế độ chuyên quyền. Nikolai II đang mất dần uy tín của mình. Đó là một sự tiến triển không thể chặn lại được và bị tác động bởi cả những vị khổng lồ văn hóa như Tolstoi, Chekhov cùng với MAT, Gorky và Rimsky-Korsakov, mỗi người theo cách thức và mức độ của riêng mình. Chiếc Bánh xe Đỏ, sử dụng lối ẩn dụ của Solzhenitsyn, đã bắt đầu lăn tới.

* Novosti, số 27/3/1905

** Trích trong: A. V. Ossovskii, Muzykal’no-kriticheskie stat’i [Các bài viết phê bình âm nhạc] (Leningrad, 1971), tr. 82

*** I. F. Stravinsky, Perepiska s russkimi korrespondentami. Materialy k biografii [Thư từ trao đổi với các phóng viên Nga. Chất liệu cho viết tiểu sử], tập 1 (Moscow, 1998), tr. 152


HẾT CHƯƠNG 1

danngoc 29-11-2011 08:59

Chương hai


Những sự kiện chóng mặt của năm 1905, và đặc biệt là tuyên bố của Sa hoàng ngày 17/10 về việc chấp thuận tự do lập hiến, đã khích lệ những người tự do và cũng đưa vào chính trường một lực lượng bảo thủ mạnh mẽ về sau nổi tiếng với cái tên Trăm Đen. Thuật ngữ này áp dụng cho các thành viên của Liên minh Nhân dân Nga, một đảng phái cực hữu tồn tại từ tháng 11/1905 cho tới Cách mạng tháng Hai 1917. Trong một nghĩa rộng hơn, từ đó trở đi nó được sử dụng cho tất cả những người đề xướng một đường hướng bảo thủ và bài ngoại cứng rắn trong xã hội và đời sống văn hóa Nga.

Theo năm tháng, thuật ngữ “Trăm Đen” trở nên cực kỳ xấu xa, đấy là lý do tại sao những vị bảo thủ hàng đầu như Solzhenitsyn không thích nó. Nhưng người Trăm Đen nguyên gốc lại tự hào về nó. Một trong những người lập ra phong trào này, Vladimir Gringmut, trong bài báo năm 1906 của mình “Cẩm nang cho người Trăm Đen bảo hoàng”, đã giải thích “Những kẻ thù của chế độ chuyên quyền sử dụng thuật ngữ ‘Trăm Đen’ dành cho những người Nga giản dị, đen đủi [trong tiếng Nga, từ này cũng có nghĩa là người thất học, u tối] trong thời gian nổi loạn vũ trang năm 1905 đã đứng lên bảo vệ Đấng Sa hoàng tối thượng. Phải chăng đấy là một cái tên đầy vinh dự, ‘trăm đen’? Đúng vậy, đầy vinh dự”. * Vadim Kozhinov, một người tân bảo thủ hàng đầu của cuối thế kỷ hai mươi, cũng xem thuật ngữ này là thích đáng.

Theo lời Kozhinov, Trăm Đen là một phong trào “bảo hoàng cực đoan”, dẫn đầu cuộc chiến không khoan nhượng chống lại cách mạng. Những người Do Thái Nga, theo quan điểm của Trăm Đen, giữ một vai trò tích cực thiếu cân xứng hoặc thậm chí là dẫn hàng đầu trong phong trào cách mạng. Điều này được phát biểu rõ ràng chính xác một cách súc tích bởi nhà bảo hoàng Vassily Shulgin: “Đối với tôi ‘ưu thế Do Thái’ trong tầng lớp trí thức Nga là rất rõ ràng vào đầu thế kỷ. Người Do Thái đã nắm lấy, ngoài các trường đại học, hệ thống báo chí và thông qua nó, kiểm soát đời sống trí thức của đất nước. Kết quả của ưu thế này là uy lực và tính độc hại của ‘phong trào giải phóng’ năm 1905, trong đó người Do Thái giữ vị trí xương sống”. ** Theo ý kiến của Shulgin và những người cực hữu khác, vào năm 1905 “Người Do Thái đã nắm trọn nước Nga về mặt chính trị... Những bộ não của đất nước (ngoại trừ trong chính quyền và các nhóm xung quanh chính quyền) đều trong tay người Do Thái”. ***


* Trích trong: Vadim Kozhinov, Rossiia. Vek XX-i (1901-1939) [Nước Nga: thế kỷ 20 (1901-1939)] (Moscow, 1999), tr. 22

** V. V. Shul’gin, “Chto nam v nikh ne nravitsia...” Ob antisemitizme v Rossii [“Điều chúng ta không ưa về họ là...” Về chủ nghĩa bài Do Thái tại Nga] (Moscow, 1992), tr. 47

V. V. Shul’gin, “Chto nam v nikh ne nravitsia...” Ob antisemitizme v Rossii [“Điều chúng ta không ưa về họ là...” Về chủ nghĩa bài Do Thái tại Nga] (Moscow, 1992), tr. 45

danngoc 29-11-2011 09:35

Nhà văn tiểu luận và triết gia Vassily Rozanov, có lẽ là người dẫn giải lỗi lạc nhất và gây tranh cãi nhất về tư tưởng chống chủ nghĩa tự do Nga, một nhân vật mà một số người thấy hấp dẫn và một số khác đồng thời lại thấy khó chịu, đã có một quan điểm hơi khác về vấn đề này. “Lũ Do Thái, cơn điên rồ, lòng nhiệt tình, và sự thuần khiết thánh thiện của con trai con gái Nga – đó là điều dệt nên cuộc cách mạng của chúng ta, và nó đã vác ngọn cờ hồng xuống đại lộ Nevsky Prospekt ngay cái ngày sau khi bản tuyên ngôn 17 tháng Mười được công bố”. *

Rozanov là một mẫu người lập dị. Có hình thể khá là không hấp dẫn (tóc đỏ chĩa lung tung tứ phía, răng mục đen, nói năng lúng búng nước bọt văng tung tóe), ông lại còn thổi phồng cái ngoại hình xấu xí của mình trong bản khai lý lịch viết tay rất thẳng thắn. Ông bắt đầu nghiệp văn bằng một luận án triết học dày cộp hơn bảy trăm trang, được ông đem xuất bản bằng tiền túi của mình và không được mấy người chú ý tới. Rozanov dần dần phát triển một phong cách mang tính cách ngôn tương tự Nietzsche, trước đây chưa từng thấy xuất hiện trong văn học Nga.

Nhà lý luận Rozanov là một người đề xuất tận tụy chế độ quân chủ và là một người Cơ đốc Chính thống thành kính. Nhưng những người đọc các cuốn sách hay nhất của ông theo thể loại cách ngôn – Solitaria (1912), Những chiếc lá rụng (1913 và 1915), và Sách khải huyền của thời đại chúng ta (1917-1918) – sẽ dễ dàng rơi vào bùa mê của Rozanov bất kể tư tưởng của họ ra sao. Nhà bất đồng chính kiến thời Liên Xô Andrei Sinyavsky, người xem Rozanov là một trong những nhà văn quan trọng nhất với mình, đã nhận xét đúng đắn rằng Những chiếc lá rụng không đơn giản chỉ là một tựa sách mà là định nghĩa của một thể loại. Hay như bản thân Rozanov đã xác định, “Gió thổi vào nửa đêm và cuốn đi những chiếc lá... Cuộc đời với thời gian trôi nhanh bứt đứt khỏi tâm hồn ta những lời ta thán, tiếng thở dài, các suy nghĩ nửa chừng và các cảm xúc dang dở”.

Rozanov rất tự hào về phong cách văn học cách tân của mình. Với tất cả chiều sâu và khả năng cảm thụ của những bình luận của ông về văn học hay tôn giáo, đôi khi dường như đối với ông tính căn nguyên của văn phong còn quan trọng hơn cả các ý tưởng của ông. “Không phải mọi suy nghĩ đều có thể viết ra, chỉ trừ đối với âm nhạc”. Bởi vì ông chủ tâm xuất bản các bài viết thân và chống cách mạng, để ủng hộ chế độ quan chủ và chỉ trích nó, các bài viết bài Do Thái và thân Do Thái, Rozanov được dán nhãn vô luân lý. Ông phản ứng lại, “Chẳng phải cách mạng mang trong nó sự thật thứ một trăm? Và cả Trăm Đen cũng có sự thật thứ một trăm của nó? ... Vậy thì, tất cả các anh đều nên cúi mình trước Rozanov bởi anh ấy đã, nói thế nào nhỉ, ‘đập vỡ vỏ trứng’ của đủ mọi giống cầm điểu – ngỗng, vịt hay chim sẻ – dân chủ lập hiến, Trăm Đen, cách mạng – và rồi thảy họ vào chung một cái ‘chảo rán’, để cho các anh không còn phân biệt nổi đâu là ‘hữu’ đâu là ‘tả’, đâu là ‘đen’ đâu là ‘trắng’ ”. **

Với Rozanov có lẽ chủ đề cốt lõi là mối quan hệ giữa Chúa và tình dục. Ông phát biểu và viết về nó với sự thẳng thắn không thể phản bác được, vốn ngày nay vẫn còn gây sốc (cuốn Solitaria của ông đã bị cấm một thời gian vì mang tính khiêu dâm). Mối quan tâm của Rozanov với đề tài này là điển hình của giới trí thức ưu tú Nga đầu thế kỷ hai mươi. Một trong những nhà tư tưởng phôi thai của thời kỳ này, Nikolai Berdyaev, đã tự xếp loại mình là “một thứ triết gia về tình dục”.

“Vấn đề tình dục” là một chủ đề thống trị tại phòng khách trí thức có tầm ảnh hưởng mạnh của nhà văn và triết gia St. Petersburg Dmitri Merezhkovsky cùng vợ mình, thi sĩ Zinaida Hippius, một người đẹp tóc đỏ có cặp mắt hớp hồn của nàng tiên cá. Như Berdyaev ghi lại, “một thú nhục dục huyền bí độc hại, vốn trước đây chưa từng tồn tại ở nước Nga, nay có mặt khắp nơi”. ***


* V. V. Rozanov, Sredi khudozhnikov [Giữa những người họa sĩ] (Moscow, 1994), tr. 398

** V. V. Rozanov, Mysli o literature [Những suy nghĩ về văn học] (Moscow, 1989), tr. 394-395

*** Để tham khảo, ta có thể xem tập 1 tiểu thuyết Con đường đau khổ của A. Tolstoi, hay mới đây là bộ phim Morfii [Moóc phin] của đạo diễn Aleksei Balabanov thực hiện năm 2008. - ND

danngoc 29-11-2011 09:38

Vassily Shulgin
http://en.wikipedia.org/wiki/Vasily_Shulgin

danngoc 29-11-2011 09:39

Vassily Rozanov
http://en.wikipedia.org/wiki/Vasily_Rozanov

danngoc 29-11-2011 09:41

Vassily Rozanov
http://en.wikipedia.org/wiki/Vasily_Rozanov

danngoc 29-11-2011 09:41

Dmitri Merezhkovsky - được đề cử Nobel Văn học năm 1933
http://en.wikipedia.org/wiki/Dmitri_Merezhkovsky

danngoc 29-11-2011 09:42

Zinaida Hippius
http://en.wikipedia.org/wiki/Zinaida_Gippius

danngoc 29-11-2011 10:25

Sự ám ảnh tình dục-tín ngưỡng này đã kết tinh thành một vụ việc tai tiếng ở St. Petersburg. Ngày 1/5/1905, một nhóm người tụ tập tại căn hộ của nhà thơ trường phái suy đồi (decadent) Nikolai Minsky, bao gồm có Berdyaev, nhà thơ theo phái tượng trưng (Symbolist) có ảnh hưởng lớn Vyacheslav Ivanov, nhà văn Alexei Remizov (tất cả đi cùng vợ), Rozanov, Fedor Sologub, người sẽ sớm được ca tụng bởi cuốn tiểu thuyết của ông Con quỷ nhỏ, và một nhạc sĩ nào đó, theo như một nhân chứng ghi lại, “một người Do Thái tóc vàng, đẹp trai, chưa được nhập môn”. Họ vặn mờ các ngọn đèn và quấn vào thành một vũ điệu theo kiểu các đạo sĩ quay Hồi giáo như trong bí lễ bắt chước thần rượu nho Dionysos dâm tục phóng đãng. * Sau đó họ đóng đinh câu rút một cách tượng trưng vị nhạc sĩ, người đã tình nguyện tham gia.

Điểm cốt yếu của cuộc hội họp này là để tiến hành một cuộc tế máu. Ivanov và vợ mình, Lydia Zinovyeva-Annibal, mặc áo ngắn kiểu Hy Lạp đỏ rực với tay áo xắn lên (“hệt như một kẻ đồ tể”, như lời của vị nhân chứng) cắt cổ tay người nhạc sĩ, hòa máu với rượu vang trong chiếc cốc lễ và đưa mời khắp những người tham gia. Nghi lễ kết thúc với “những nụ hôn bằng hữu”.


* Nguyên văn tiếng Anh “...twirled in a dervish-like dance in a mock Dionysian mystery”. - ND

danngoc 29-11-2011 10:28

Vyacheslav Ivanovich Ivanov
http://en.wikipedia.org/wiki/Vyaches...anovich_Ivanov

Nikolai Minsky
http://en.wikipedia.org/wiki/Nikolai_Minsky

Nikolai Berdyaev
http://en.wikipedia.org/wiki/Nikolai_Berdyaev

Alexei Remizov
http://en.wikipedia.org/wiki/Alexei_Remizov

Fedor Sologub
http://en.wikipedia.org/wiki/Fedor_Sologub

Lydia Zinovyeva-Annibal
http://en.wikipedia.org/wiki/Lydia_Zinovieva-Annibal

danngoc 29-11-2011 15:08

Lời lẽ về cuộc tụ họp nghi lễ kỳ dị mau chóng lan đi khắp St. Petersburg, mắm muối thêm vào các tình tiết mới. Theo dị bản của nhà văn Mikhail Prishvin, người không có mặt ở đó, Rozanov trở thành nhân vật giữ vai chính: “Họ ăn tối, uống rượu vang, và rồi chịu lễ ban thánh thể bằng máu của một phụ nữ Do Thái. Rozanov làm dấu thập và uống. Anh ta cố gắng khiến cô này cởi quần áo và chui dưới bàn, rồi xung phong cởi quần áo và leo lên bàn”. *

Không có gì ngạc nhiên khi Prishvin, người biết rõ Rozanov, đã tưởng tượng ra ông này là người khởi xướng một nghi lễ tình dục-tôn giáo khiếm nhã như vậy. Các bài viết triết học của Rozanov luôn luôn chông chênh bên bờ của khiêu khích tình dục, và nhiều người nghi ngờ rằng ông sẵn sàng vượt qua lằn ranh ấy không chỉ trong lý thuyết mà cả trong thực hành. Alexandre Benois đúng mực, nhà phê bình nghệ thuật hàng đầu thời đó, đã rùng mình khi nhớ lại một lần khác Rozanov gần như đã biến cả một buổi chiều tối thành “cuộc cưỡng hiếp”.

Rozanov, Merezhkovsky và Zinaida Hippius, Benois và vài người khác đang tranh luận về tầm quan trọng tượng trưng của đoạn trong kinh Tân Ước khi Jesus rửa chân cho các môn đệ của mình trước Bữa tối Cuối cùng. Vợ chồng Merezhkovsky hoan hô “hành động nhục nhã và sự hầu hạ” đó, và đề nghị rằng họ sẽ diễn nghi lễ đó tại một số nơi. Theo lời Benois, người nhiệt tình nhất với ý tưởng này là Rozanov, ông này lảm nhảm, mắt sáng rực, “Vâng, chúng ta phải làm, chúng ta phải làm thế và làm thế ngay bây giờ”. Benois, nói chung là người thông cảm nhiều nhất với Rozanov và tính lập dị của ông, lần này hoài nghi “sự hiếu kỳ suy đồi”, bởi Rozanov hiển nhiên đang định rửa đôi chân trắng trẻo, mảnh dẻ của Hippius đầy quyến rũ, và không ai có thể đoán trước chuyện này sẽ dẫn đến đâu. Nhà phê bình nghệ thuật tính tình cẩn trọng, khiếp hãi trước nỗi lo ngại một cuộc quần giao không kiềm chế, đã chặn ngang cơn ngây ngất tôn giáo của đám khách thân của mình, vì thế mà Rozanov sau này đã nhiếc móc ông; Benois, ông này nói, chủ nghĩa hoài nghi của anh đã gây kinh hãi và xua mất một cuộc tiêm truyền Thánh linh.


* Trích trong: Alexander Etkind, Khlyst (Sekty, literatura i revolutsiia) [Khlyst (Giáo phái, văn học và cách mạng)] (Moscow, 1998), tr. 10

danngoc 01-12-2011 08:40

Benois nhớ lại rằng mình và những người trong nhóm nghệ sĩ quanh mình “vào các năm tháng ấy quan tâm sâu sắc đến sự huyền bí của cuộc đời và tìm kiếm câu trả lời trong tôn giáo”. Để tranh luận về những chủ đề này, họ quyết định lập ra Hội đồng Tôn giáo-Triết học, bắt đầu hoạt động vào tháng 11/1901 tại tòa nhà của Hội Địa lý Đế chế trên phố Nhà Hát, dọc con đường dẫn tới Trường Ba lê Đế chế nổi tiếng.

Với nước Nga, vốn thiếu một truyền thống thường xuyên tranh luận công cộng về tôn giáo có sự tham gia của giới trí thức, đây là một sự kiện chưa hề có tiền lệ. Trước hết họ phải có được sự cho phép của Giáo hội Chính thống, mới chỉ chín tháng trước đã rút phép thông công của Lev Tolstoi. Giáo hội đồng ý cho phép. Khi mà đám trí thức muốn hạ bệ vị thế của chủ nghĩa thực chứng, vốn đã thống trị các đàm luận tại nước Nga kể từ thập niên 1860, các giới chức nhà thờ lại hăm hở muốn cho thấy rằng họ muốn cởi mở đối thoại với giới trí thức. Vậy là một phái đoàn gồm các nhân vật sáng lập ra Hội đồng tới dự lễ ban phước của Tổng giám mục Anthony của St. Petersburg tại Tu viện Aleksander Nevsky.

danngoc 01-12-2011 08:41

Tổng giám mục Anthony

http://orthodoxwiki.org/Anthony_%28K...sky%29_of_Kiev

danngoc 01-12-2011 14:42

Benois, người đã mô tả chuyến đi với một chút hài hước, đã khá ấn tượng với chiếc mũ lễ trắng có đính chiếc chữ thập kim cương của vị tổng giám mục vương giả nhưng hòa nhã, với thứ nước trà tuyệt vời đựng trong các cốc uống nặng có nhiều mặt và với món bánh ngọt tuyệt ngon. Ông cũng thích thú với thực tế rằng phái đoàn có bao gồm, bên cạnh những người Nga Chính thống giáo Merezhkovsky và Hippius, có hai người Do Thái (Nikolai Minsky và nghệ sĩ Leon Bakst) cùng với, như lời tín đồ Cơ đốc Benois viết, con người “hết sức bị ám ảnh bởi Do Thái” Rozanov. Do đó, phái đoàn thoạt đầu buộc phải bàn luận về việc có nên tới gần để tổng giám mục ban phước hay không, và nếu họ làm vậy, thì có nên hôn tay ngài khi ngài làm dấu thánh cho họ hay không.

Những hồi ức đó của một người tham dự đầy khao khát tham gia công cuộc khôi phục tín ngưỡng ở Nga hồi đầu thế kỷ hai mươi cho ta biết rất nhiều điều. Chúng chứng tỏ bề rộng khác thường của phạm vi của phong trào, vốn giờ đây đã bị lãng quên, đôi khi chứng tỏ một cách cố tình ở trong cố gắng nhấn mạnh các tính chất cơ bản của nó. Và phong trào phục hưng tín ngưỡng này, vốn giữ một vai trò đặc biệt trong văn hóa Nga thế kỷ hai mươi, bao gồm cả những người bảo thủ lẫn cách tân – “mỗi loại có hai người”, như trên con thuyền của Nô-ê: có những người cuồng tín tôn giáo nhưng lại chống giáo hội như Maxim Gorky, các nhà soạn nhạc Nikolai Rimsky-Korsakov và Sergei Taneyev, nhà thơ Sergei Esenin; người bảo hoàng, người dân túy và người Bolshevik (loại người sau đại diện bởi Anatoly Lunacharsky và Alexander Bogdanov); các họa sĩ duy thực và những người sáng lập nghệ thuật trừu tượng (Vassily Kandinsky); cùng những người chống tình dục đồng tính lẫn một số người đồng tính công khai (nổi tiếng nhất trong số này là các thi sĩ Mikhail Kuzmin và Nikolai Klyuev).

danngoc 01-12-2011 14:54

Họa sĩ và nhà thiết kế trang phục người Nga Leon Bakst

http://en.wikipedia.org/wiki/L%C3%A9on_Bakst

trong nhóm của Sergei Diaghilev và Đoàn Ba lê Nga

danngoc 01-12-2011 15:00

Nhà soạn nhạc Sergei Taneyev
http://en.wikipedia.org/wiki/Sergei_Taneyev

Thi sĩ Sergei Esenin, thời Stalin và Khrushchev thơ của ông bị cấm, và việc nhân vật chính Ivan trong phim Kukushka có bức ảnh ông trong thực tế là một điều kiện chắc chắn cho anh ta một chỗ trong Gulag.
http://en.wikipedia.org/wiki/Sergei_Esenin


Alexander Bogdanov
http://en.wikipedia.org/wiki/Alexander_Bogdanov

Họa sĩ Vassily Kandinsky
http://en.wikipedia.org/wiki/Vassily_Kandinsky

Mikhail Kuzmin
http://en.wikipedia.org/wiki/Mikhail_Kuzmin

Nikolai Klyuev
http://en.wikipedia.org/wiki/Nikolai_Klyuev

danngoc 01-12-2011 21:55

Những người dẫn giải đầu tiên về ý tưởng phục hưng tôn giáo là các họa sĩ Viktor Vasnetsov và Mikhail Nesterov (ngày nay được một số người dân tộc chủ nghĩa xem là họa sĩ Nga vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi; Nesterov còn sống tới khi được nhận Giải thưởng Stalin năm 1941), những người bắt đầu vẽ các bích họa tuyệt vời từ cuối thế kỷ mười chín tại các tu viện và nhà thờ. Cùng với họ là Mikhail Vrubel, nhân vật ghê gớm nhất của nghệ thuật trường phái Tượng trưng Nga, vẫn chưa được đánh giá đúng mức ở phương Tây, nhưng lúc này tại Nga được xem là nhân vật hạt giống của thời đại.

Vrubel, một người gốc Ba Lan có pha máu Nga, Đức, Đan Mạch và Tartar, đôi khi được gọi là Cézanne người Nga (với tính khí cáu bẳn của Van Gogh, ta có thể nói thêm như vậy), là rất đáng chú ý bởi thuyết nhị nguyên nghệ thuật của mình. Ông bắt đầu với việc sáng tạo ra tấm bình phong tranh thánh (iconostasis) cho một nhà thờ và kết thúc bằng bức tranh khổng lồ, huyền bí Ác quỷ trông xuống (1902), đỉnh cao của gần hai mươi năm ám ảnh với đề tài này. (Niềm tin ma quỷ theo cách hiểu của Nietzsche rất thịnh hành trong số những nghệ sĩ Tượng trưng Nga). Thậm chí Đấng tiên tri Moses (vẽ trên bức bích hoạ của nhà thờ Thánh Kyril ở Kiev) cũng được Vrubel ban cho một cái nhìn quỷ quái rất kỳ lạ. Nhà nghệ sĩ cảm thấy rằng đám ma quỷ của mình không quá xấu xa như các linh hồn ái nam ái nữ đau đớn khổ sở. Con Quỷ đang nhìn xuống của Vrubel, dõi theo cảnh quan núi non quái dị, có một thân hình dài ngoằng, hai cánh tay mảnh khảnh khoanh sau đầu và một cái nhìn rất đàn bà, bị tổn thương, mỏng manh, nhưng đồng thời cũng hống hách và thắng cuộc.


Viktor Vasnetsov
http://en.wikipedia.org/wiki/Viktor_Vasnetsov

Mikhail Nesterov
http://en.wikipedia.org/wiki/Mikhail_Nesterov

Mikhail Vrubel
http://en.wikipedia.org/wiki/Mikhail_Vrubel

Ác quỷ trông xuống
http://i982.photobucket.com/albums/a.../ddowncast.jpg

Moses của Vrubel
http://i982.photobucket.com/albums/a...ubel_Moses.jpg

danngoc 01-12-2011 22:11

http://i982.photobucket.com/albums/a...sterov_042.jpg
Chân dung Gorky của Mikhail Nesterov


http://i982.photobucket.com/albums/a...-Igorsvyat.jpg
Bức Sau trận đánh của công tước Igor Svyatoslavich với người Polovtsy của Viktor Vasnetsov

danngoc 02-12-2011 11:42

Những nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng cùng một khuôn mặt thiếu nữ đã được dùng làm mẫu để chàng Vrubel hai tám tuổi nghiên cứu cho bức tranh thánh Đức mẹ Đồng trinh và cho những phác thảo đầu tiên của hình ảnh Con Quỷ. Sự tự mâu thuẫn về triết học và nghệ thuật giằng xé trong tâm trí nhà nghệ sĩ (cũng như những gien xấu) năm 1902 đã đưa Vrubel vào một viện tâm thần, tại đó ông qua đời năm 1910 ở tuổi năm mươi tư, với cặp mắt đã mù hoàn toàn. Họa sĩ Sergei Sudeikin đã viết lại mô tả chuyến ông tới thăm bệnh viện, về thân hình bé nhỏ của Vrubel, khuôn mặt hồng tươi với tròng trắng cặp mắt ông hóa màu xanh xám trông dễ sợ, một vành xanh sậm viền dưới mắt và quanh đôi môi. Sudeikin nghĩ những màu đó tượng trưng cho “cơn điên đông cứng”, nhưng Vrubel làm ông bất ngờ khi ngâm cho ông nghe Trường ca Iliad bằng tiếng Hy Lạp, thơ của Virgil bằng tiếng Latin, Faust bằng tiếng Đức, Hamlet bằng tiếng Anh và Dante bằng tiếng Ý, thêm vào lời bình bằng tiếng Pháp. * Sudeikin trông thấy một phác thảo cái đầu Con Quỷ trong phòng của Vrubel – hình ảnh này vẫn tiếp tục ám ảnh nhà nghệ sĩ.

Năm 1906, Sudeikin tham dự cuộc triển lãm những họa sĩ Nga được tổ chức bởi Sergei Diaghilev ở Salon d’Automne, Paris. Phòng triển lãm bắt đầu bởi các tranh thánh và kết thúc bằng Vrubel. Gian Vrubel bao gồm một bức trướng lớn kích thước mười nhân mười sáu mét, bức Mikula Selyaninovich, diễn tả vị anh hùng Nga trong thần thoại. Năm 1896 nó được ra mắt tại cuộc Triển lãm Nghệ thuật Công nghiệp Quốc gia Nga ở Nizhni Novgorod. Mặc dù phác thảo của nó được Nikolai II thông qua, phong cách hiện đại bất thường của bức trướng đã tạo ra một xì căng đan giữa những người xem và trên mặt báo (đặc biệt, nó bị công kích dữ dội bởi nhà báo trẻ tuổi Maxim Gorky). Do sự khăng khăng yêu cầu của Viện Hàn lâm Nghệ thuật, bức trướng bị đưa ra khỏi gian triển lãm chính thức. Đó là một trong những sự hiểu lầm rắc rối về nghệ thuật-chính trị rất nổi tiếng vào khởi đầu thế kỷ.

Sudeikin và họa sĩ thần bí tao nhã Pavel Kuznetsov, cả hai đều có tác phẩm của mình tại cuộc trưng bày của Diaghilev, đã khôi phục bức trướng của Vrubel, lúc này đã bắt đầu bị bong ra trong kho chứa, gập lại như cái chăn. Cùng với bạn mình, họa sĩ phái Vị lai (Futurist) Mikhail Larionov, Sudeikin mỗi ngày đều rảo quanh Salon d’Automne và luôn trông thấy một người bè bè chắc nịch trong gian của Vrubel, đứng hàng giờ liền trước bức Mikula Selyaninovich. ** Đó là chàng thanh niên Pablo Picasso. Đây ắt hẳn là trường hợp duy nhất khi phong vị của một họa sĩ Tây Ban Nha phái tiền phong (avant-garde) và một quốc vương Nga vô cùng bảo thủ trùng hợp với nhau.


* Mikhail Vrubel, Perepiska. Vospominaniia o khudozhnike [Thư từ. Hời ức về người họa sĩ] (Leningrad, 1976), tr. 293

** Mikhail Vrubel, Perepiska. Vospominaniia o khudozhnike [Thư từ. Hời ức về người họa sĩ] (Leningrad, 1976), tr. 295

Sergei Sudeikin
http://en.wikipedia.org/wiki/Serge_Sudeikin

Một tác phẩm của Sudeikin
http://i982.photobucket.com/albums/a...Sudeikin_1.jpg

Mikhail Larionov
http://en.wikipedia.org/wiki/Mikhail_Larionov

Chân dung tự họa của Larionov
http://i982.photobucket.com/albums/a...f_portrait.jpg

Pavel Kuznetsov
http://en.wikipedia.org/wiki/Pavel_Kuznetsov

Motif Phương Đông của Pavel Kuznetsov
http://i982.photobucket.com/albums/a...ternMotive.jpg

Bức trướng Mikula Selyaninovich của M. Vrubel
http://i982.photobucket.com/albums/a...s/vrubel81.jpg

danngoc 04-12-2011 11:21

Tại đám tang Vrubel ngày 3/4/1910 ở St. Petersburg, bài điếu văn tán dương duy nhất bên huyệt mộ là của Alexander Blok, nhà thơ phái Tượng trưng người Nga nổi tiếng nhất ở phương Tây và là một trong những nhà thơ được quý mến nhất tại Nga thế kỷ hai mươi. Bề ngoài “ác nghiệt, xa cách, cháy tàn” (theo lời của người bạn và là đối thủ của ông, nhà văn Andrei Bely), Blok hai mươi chín tuổi, có khuôn mặt như cái mặt nạ Apollon đầy bí hiểm, thốt ra những lời buồn bã với giọng đều đều về chiến thắng của bóng đêm, cả trong tranh của Vrubel lẫn trong cuộc sống, bởi “còn có chiến thắng nào đen tối hơn”. *

Bài diễn văn của Blok được lắng nghe trong im lặng bởi các nhân vật có uy tín của giới nghệ sĩ Nga: Benois, Bakst và Diaghilev, Valentin Serov, Nikolai Roerich, Boris Kustodiev, Mstislav Dobuzhinsky, Kuzma Petrov-Vodkin. Liệu họ có đoán biết rằng khi tán dương Vrubel, Blok cũng đã ngầm than khóc cho thất bại của cách mạng năm 1905? Giống như nghệ thuật của Vrubel, thơ của Blok mang tính tự mâu thuẫn: nó chứa cả sự kiêu kỳ lẫn tính nền tảng, cả am thờ lẫn tửu quán, cả Đức Mẹ lẫn nhân vật nữ chính của một trong những bài thơ phổ biến nhất của ông, bài Người phụ nữ không quen biết, một cô gái điếm từ từ rẽ bước qua đám người say rượu “có cặp mắt thỏ đế” trong quán bar.

Thơ của Blok biểu thị lối đi của chủ nghĩa Tượng trưng Nga, vốn là sự hưởng ứng tự nhiên đối với các thử nghiệm tại Pháp của Charles Baudelaire, Paul Verlaine và Arthur Rimbaud. Nhưng giống như mọi thứ tại nước Nga, phong trào văn chương này nở hoa cùng với chủ nghĩa thần bí và nâng cao các khát vọng mang tính triết học lấy mẫu theo Tolstoi và Dostoevsky.

Boris Eikhenbaum, trong bài phát biểu tại một lễ tưởng niệm Blok năm 1921, đã nói: “Vị hiệp sĩ của Quý bà Sắc đẹp; chàng Hamlet trầm tư về cái không tồn tại; kẻ phóng đãng hoang dã, nhà tiên tri tàn nhẫn về sự hỗn loạn và cái chết – tất cả những điều đó với chúng ta là sự mở ra một tai hoạ duy nhất, mà Blok là vị anh hùng của nó”. **


* Alexander Blok, Sobranie sochinenii [Tuyển tập tác phẩm], tám tập, tập 5 (Moscow và Leningrad, 1962), tr. 435

** B. Eikhenbaum, O literature. Raboty raznykh let [Về văn học: các tác phẩm của những năm tháng khác nhau] (Moscow, 1987), tr. 355

danngoc 04-12-2011 11:22

Sớm hơn những người khác, Blok được định vị bởi giới nghiên cứu văn học Nga (đặc biệt bởi những “người theo chủ nghĩa hình thức” Eikhenbaum và Yuri Tynyanov) như là người sáng tạo ra huyền thoại tiểu sử của chính ông. Tynyanov giải thích “hiện tượng Blok” như sau: “Khi mọi người nói về thơ của anh, hầu như họ luôn luôn thay thế một cách vô ý thức thơ của anh bằng khuôn mặt con người – và ai cũng đi tới chuyện yêu mến khuôn mặt chứ không phải nghệ thuật”. *

Đúng, hình ảnh mà Blok sáng tạo ra, không chỉ trong thơ của ông mà cả trong thư từ, nhật ký và sổ tay của ông, của một vị thánh tử vì đạo tự hy sinh bản thân vì nghệ thuật và sự thật, là một hình ảnh gây cảm hứng. Không có vấn đề gì khi con người thật của Blok trong hồi ức của những người cùng thời với ông xuất hiện như một kẻ nghiện rượu, trác táng, căm ghét hôn nhân, người đã huỷ hoại cuộc đời vợ mình, và kẻ bài Do Thái (Zinaida Hippius, người chia sẻ quan điểm ám ảnh Do Thái của Blok, đã gọi ông là một “người bài Do Thái dữ dội một cách hiếm có” và ghi trong nhật ký của bà nỗi khao khát của ông “muốn treo cổ tất cả bọn Do Thái”). ** Nhưng không một bằng chứng nào lay chuyển huyền thoại về Blok mạnh như hình ảnh của chính ông: ánh mắt nghiêm nghị và đầy ý nghĩa, xác nhận một cách lý tưởng ý niệm về cách một “thi sĩ” cần có bề ngoài và cách hành xử như thế nào; giọng điệu và chất nhạc bi thảm chân thực trong thơ của ông; và cái chết quá sớm đầy tính tượng trưng của ông. Nhưng hình ảnh của Blok cũng không bị các cuộc công kích của các đối thủ văn chương của ông làm hao tổn – đặc biệt là Blok bị nhại một cách đầy đố kỵ trong tiểu thuyết Con đường Đau khổ của Aleksei Tolstoi, trong đó ông trở thành anh chàng thi sĩ nổi tiếng Alexei Bessonov, nuốt chửng rượu vang, quyến rũ đàn bà con gái xung quanh và viết về số phận của nước Nga, mặc dù anh ta biết đất nước “chỉ qua sách vở và tranh ảnh”.

Tynyanov là người đầu tiên đặt “tính cách văn học” của Blok trong một truyền thống lịch sử-nặn thành huyền thoại có nguồn gốc từ thời Pushkin và Lev Tolstoi và được tiếp nối bởi Vladimir Mayakovsky và Sergei Esenin, những người mà “huyền thoại Blok” phục vụ như một hình mẫu. (Giờ đây chúng ta có thể đưa thêm những văn sĩ sau vào danh sách này: Anna Akhmatova, Boris Pasternak, Joseph Brodsky). Blok cũng tự làm mẫu mình theo Vrubel (một huyền thoại trong giới nghệ sĩ như là “kẻ điên thần thánh”).


* Yu. N. Tynianov, Poetika. Istoriia literatury. Kino [Thơ ca. Lịch sử văn học. Điện ảnh] (Moscow, 1977), tr. 118-119

** Trích trong: Dmitri Merezhkovsky, Bol’naia Rossiia [Nước Nga đau yếu] (Leningrad, 1991), tr. 221

danngoc 06-12-2011 10:57

Alexander Blok

http://en.wikipedia.org/wiki/Alexander_Blok

Về cái chết đậm chất chủ nghĩa Tượng trưng của Blok: Năm 1921, Blok tan vỡ niềm tin về Cách mạng và không thể viết thơ được nữa. Ông ngã bệnh và qua đời trước khi được cho phép ra nước ngoài chữa trị. - ND

danngoc 06-12-2011 11:01

Đôi cánh Con Quỷ của Vrubel đã chạm tới tác phẩm và huyền thoại sau khi qua đời của một người nổi tiếng khác theo chủ nghĩa Nietzsche và là nhà huyền bí của thời ấy, nhạc sĩ Alexander Scriabin (1872-1915), âm nhạc của ông là kết hợp giữa sự khó hiểu, nỗi cáu bực và giận dữ, cùng với sự hân hoan và sùng bái tương tự với sự sùng bái của Blok. Scriabin là người được đặc biệt hâm mộ bởi các nghệ sĩ phái Tượng trưng người Nga Andrei Bely và Vyacheslav Ivanov, và sau đó là các nhà thơ trẻ Boris Pasternak và Osip Mandelstam, người đã tuyên bố theo cái lối khoa trương rất điển hình: “Trong những giờ khắc định mệnh của cuộc tẩy rửa và bão tố, chúng ta đã giương cao Scriabin, người có trái tim như mặt trời cháy đỏ rọi chiếu trên đầu chúng ta”. *

Nhiều nghệ sĩ phái Tượng trưng Nga hàng đầu đã nối bước các nhà Lãng mạn Đức (Friedrich Schiller) và Dostoevsky trong niềm tin vào quyền năng biến chuyển vĩ đại của nghệ thuật. “Từ nghệ thuật”, con người mộng ảo và huyền bí Bely, tác giả của tiểu thuyết Petersburg – tác phẩm được con người cầu kỳ kiểu cách Vladimir Nabokov đặt ngang tầm với các tác phẩm của Proust, Joyce và Kafka như là một kiệt tác của văn học thế giới thế kỷ hai mươi – đã nói, “sẽ xuất hiện một lối sống mới và sự cứu rỗi cho nhân loại”. **

Nhưng Scriabin không đơn giản nói về khả năng kết hợp nghệ thuật với đạo đức và tôn giáo: ông cố gắng biến các ý tưởng lãng mạn-tượng trưng chủ nghĩa không tưởng của mình thành hiện thực. Là một con người ăn mặc bảnh bao nhỏ bé, điệu bộ linh hoạt với chòm râu hàm gọn gàng và hàng ria mép chĩa ngược, Scriabin, một người duy ngã cực đoan, đã tiến tới việc tin rằng mình là một nhà tiên tri có đức tin (“người có phép màu nhiệm”, theo biệt ngữ của phái Tượng trưng). Từ thời thanh niên ông đã không ngừng “cằn nhằn về số phận và Chúa Trời” (như ông thừa nhận), ông tiến tới tự tôn là thần thánh và những ý tưởng liên quan về sự hiến mình, không ngừng bỡn cợt với niềm tin vào ma quỷ của Nietzsche (“Quỷ Satan là men bia của Vũ trụ”). Do đó, mô típ ma quỷ xuất hiện trong một số sáng tác piano hay nhất của ông, như là “Poème satanique” (1903) và bản Sonata số 9 (1913), vốn được nhà soạn nhạc gọi tên là Lễ Mass Đen.


* Mandelstam, Sochineniia, tập 2, tr. 157

** Apollon, 11 (1910), tr. 3


Alexander Scriabin
http://en.wikipedia.org/wiki/Scriabin

danngoc 06-12-2011 11:23

Âm nhạc của Scriabin là hứng khởi và có sức cám dỗ, có thể so sánh được với tranh sơn dầu quỷ quái của Vrubel và thơ ca say men của Blok. Đỉnh điểm của cuộc bỡn cợt ve vãn đối với sự huyền bí xuất hiện cùng tác phẩm Prométhée – Trường ca của Lửa (1910), một tác phẩm tuyệt vời viết cho dàn nhạc giao hưởng lớn và piano, đàn ống organ, dàn đồng ca, sử dụng bộ phím phối nhạc đặc biệt ứng theo màu sắc. * Chủ nghĩa tượng trưng âm nhạc của sáng tác để đời (opus) mang tính cách tân này bị ảnh hưởng bởi tác phẩm Học thuyết Bí mật (1888), tác phẩm cơ bản của vị đứng đầu Thuyết Thần bí (Theosophy) Helene Blavatsky, người đã giải thích nhân vật thần thoại Prô-mê-tê là một vị anh hùng theo thuyết thần bí, một người khổng lồ dám nổi loạn chống lại Đấng Chúa tể.

* Scriabin sử dụng hệ phím nhạc phối theo màu sắc (keyboard hay clavier à lumières) của riêng mình gọi là Vòng bộ ngũ. - ND

Clavier à lumières
http://en.wikipedia.org/wiki/Clavier..._lumi%C3%A8res

Helena Petrovna Blavatsky
http://en.wikipedia.org/wiki/Helena_Petrovna_Blavatsky

Danngoc không biết chút gì về nhạc lý, nên mong bác nào rành rẽ chỉ dẫn giùm thuật ngữ trên có dịch đúng không. Xin cám ơn.

P/S: Càng đọc, ta càng thấy văn hóa Nga đã ảnh hưởng tới nền tảng cho nghệ thuật và triết học thế giới đầu thế kỷ 20 ghe gớm tới mức nào.

danngoc 06-12-2011 15:35

Quan niệm của Blavatsky về Lucifer như là “người cầm đuốc sáng” (lux fero) có lẽ đã gợi ý cho Scriabin đưa phần Luce (ánh sáng) vào bản tổng phổ Prométhée: trong khi trình diễn, nhà soạn nhạc đã yêu cầu có “những cây cột rực cháy” nhiều màu sắc trong khán phòng. Bản tổng phổ được xuất bản năm 1911 bởi một người hâm mộ nhà soạn nhạc, nhạc trưởng Sergei Koussevitzky, với bìa ngoài màu cam đỏ rực, có ghi chú của Scriabin và ảnh minh họa con quỷ Lucifer ái nam ái nữ (tham khảo bản chất lưỡng tính của Con Quỷ của Vrubel).

Scriabin dự định viết tác phẩm lớn Mysterium (Điều thần bí), một vở nhạc khải huyền mà một khi ta hiểu rõ, nó sẽ dẫn ta tới “tận cùng của thế giới”, khi vật chất không còn tồn tại và và tinh thần sẽ lên ngôi: sức mạnh của nghệ thuật qua bàn tay biến đổi của Scriabin sẽ đem lại một Tương lai Mới. Bely và Ivanov chỉ có thể ngắm nhìn trong ghen tỵ khi ý tưởng khá trừu tượng về một điều thần bí mà họ từng truyền bá nay đột nhiên tiến gần tới hiện thực: Scriabin đang bàn luận xem làm thế nào ông có thể xây một ngôi đền độc đáo giữa một hồ nước ở Ấn Độ để trở thành trung tâm của cái nghi lễ chưa từng được nghe tới ấy, mà trong một vài khía cạnh có liên quan tới tất cả nhân loại; nhà soạn nhạc bắt đầu gây quỹ để xây đền thờ; ông đang đi tìm chọn nơi để xây...

Tất cả kết thúc đột ngột vào mùa xuân năm 1915, khi Scriabin chết vì nhiễm trùng máu ở tuổi bốn mươi ba. Chỉ còn bốn mươi trang giấy phác thảo của Màn khai vở (Acte préalable) của vở Mysterium, một thứ lời giới thiệu. Những người khác cố tìm cách biến các phác thảo ấy thành một tác phẩm hoàn chỉnh; nó thậm chí đã được trình diễn và ghi âm, nhưng than ôi, không hề có hiệu ứng thần bí nào như đã được dự tính.

danngoc 21-12-2011 10:10

.....

Diaghilev, chàng Rastignac* tỉnh lẻ Nga (ông đến St. Petersburg từ tỉnh Perm xa xôi, có cặp má hồng, đôi môi đỏ và hiển nhiên là hết sức lạc quan), đã tìm cách kết hợp được sự tôn sùng nghệ thuật đầy vị tha với chủ nghĩa cơ hội đầy sức quyến rũ, và ông là người đầu tiên chấp nhận chuyện này. Điều này có thể thấy rõ trong mối quan hệ giữa ông với Rimsky-Korsakov, người mà ông tuyên bố là đã đi theo học sáng tác nhạc (có lẽ chỉ là giai thoại).

Nhưng đúng là vào năm 1894 Diaghilev đã có một lần đưa sáng tác nhạc của mình cho Rimsky-Korsakov, và nhạc sĩ bậc thầy đã gọi chúng là “còn hơn cả ngu xuẩn”. Anh thanh niên hăm hai tuổi Diaghilev tức điên nói với Rimsky-Korsakov: “Tương lai sẽ cho chúng ta thấy thứ gì sẽ được lịch sử xem trọng hơn!” rồi kiêu hãnh bỏ đi, đóng sập cửa sau lưng mình. **

Cuộc gặp mặt này không hề ngăn cản Diaghilev, khi đang tập hợp một nhóm tiên phong cho âm nhạc Nga đổ bộ lên Paris năm 1907 để thực hiện sự kiện ngày nay đã trở thành truyền thuyết tên gọi là Những Buổi hòa nhạc Lịch sử Nga, đứng ra ngỏ lời đề nghị giúp đỡ và cộng tác từ phía Rimsky-Korsakov, người mà vào lúc này ông gọi là “người thầy kính mến và yêu quý” của mình. Rimsky-Korsakov không muốn xuất hiện trước “đám người Pháp khoái chuộng tiểu phẩm ấy” những kể “không hiểu chút gì”, nhưng Diaghilev quả là một nhà vận động vĩ đại. Một người đã chứng kiến kể lại rằng Diaghilev “tâng bốc tán tụng tận mây xanh, anh ấy nhiếc móc, sôi sục, làm điệu bộ giận dữ và chạy quanh khắp phòng”. *** Cuối cùng, nhà soạn nhạc đại tài nhưng khắc khổ viết cho Diaghilev, “Nếu chúng ta phải đi, vậy thì đi, nói như con vẹt khi bị con mèo lôi ra khỏi cái lồng ấy”, rồi lên đường đi Paris, nơi ông và các nhà soạn nhạc và nghệ sĩ Nga khác bị lôi tới bởi vị bầu gánh dai như đỉa – Alexander Glazunov, Rachmaninoff, Scriabin và Chaliapin – nhận được thành công vĩ đại (mặc cho tin đồn gở cho rằng có “bọn khủng bố mang bom” xuất hiện tại cuộc hòa nhạc).

Năm 1897, Diaghilev phác ra tham vọng của mình trong một lá thư gửi Benois: “Để đánh bóng cho hội họa Nga, làm cho nó thanh khiết, và quan trọng nhất là để giới thiệu nó với phương Tây, ngợi ca nó ngay tại phương Tây”. **** Diaghilev đã không thực hiện được chương trình này thành công trong hội họa, nhưng mười năm sau ông bắt đầu bổ sung nó bằng âm nhạc (và sau đó là nghệ thuật balê), và mọi việc trở nên tốt hơn hẳn.

Những Buổi hòa nhạc Lịch sử Nga năm 1907 (gồm năm buổi diễn) tốn một chi phí khổng lồ là 180.000 franc, vốn không phải lấy từ ngân khố của sa hoàng như lời đồn, mà từ các thương gia của Hiệp hội Cao su Nga-Mỹ, những người có được buổi “uống trà” với vị bảo trợ của Diaghilev, Đại Công tước Vladimir, để đổi lại. Diaghilev là một nhà cách tân thậm chí cả trong lĩnh vực tìm kiếm nhà tài trợ; tuy nhiên, báo giới Nga mau chóng đặt cho ông biệt danh “thiên tài Do Thái cắt da bì”. *****


* Rastignac: nhân vật trong tiểu thuyết Lão Goriot của Honoré de Balzac. – ND

** S. Lifar, Diagilev (St. Petersburg, 1993), tr. 51

*** Sergei Diagilev i russkoe iskusstvo [Sergei Diaghilev với Nghệ thuật Nga], hai tập, tập 2 (Moscow, 1982), tr. 309

**** Sergei Diagilev i russkoe iskusstvo [Sergei Diaghilev với Nghệ thuật Nga], hai tập, tập 2 (Moscow, 1982), tr. 26

***** Peterburgskii listok, số ngày 12/5/1907
Do Thái cắt da bì: nguyên văn "Gescheftmacher", một từ truyền thống mà những kẻ bài Do Thái Nga và Ukraina sử dụng với hàm ý khinh miệt, có nghĩa như “thằng cắt da quy đầu”, “gã con buôn Do Thái”. Diaghilev là người Nga - ND


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:56.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.