![]() |
Bác nào quan tâm thì vào Youtube gõ "Mig-21 in the Vietnam War" sẽ xem (tải) được 1 đoạn phim (12,9 MB, dài 5 phút rưỡi) nói về việc phi công VN chê MiG-21 không hiệu quả, LX phải cử Phi công thực nghiệm Anh hùng LX Kozlov sang tìm hiểu mới biết phi công VN quen đánh bằng MiG-17, cứ áp sát mới phóng tên lửa nên không trúng. Trong đoạn phim này có cảnh: ông Kozlov đang bay trên chiếc MiG-21 2 chỗ ngồi (loại máy bay huấn luyện) thì F-4H xuất hiện, thế là 2 thầy trò (ông Kozlov và Nguyễn Đức Soát) quyết định tiêu diệt thằng Mỹ này - và phóng tên lửa: chiếc F-4H nổ tung! Nhưng đấy là các bác Nga bốc phét, ghép cảnh thôi (mặc dù tôi rất yêu LX và nước Nga). Tôi tin ông Nguyễn Thành Chơn hơn: chuyện này xảy ra với Đinh Tôn chứ không phải Nguyễn Đức Soát. Đinh Tôn không bay chiến đấu đã hơn 2 tuần (theo quy định thì cả phi công sừng sỏ nếu nghỉ bay 2 tuần là phải bay huấn luyện để lấy lại cảm giác bay mới được tham gia trực chiến), ông chuyên gia LX (ko rõ có phải ông Kozlov này không) và Đinh Tôn bay huấn luyện trên chiếc MiG-21 2 chỗ ngồi không có vũ khí. Đang bay lượn thì 1 chiếc F-4H chẳng biết từ đâu xuất hiện. Ông thầy LX bảo Đinh Tôn: "Nhảy!". Đinh Tôn không đồng ý vì tiếc máy bay, bảo: "Thầy cứ yên tâm!". Ông thầy LX trao tay lái cho Đinh Tôn và làm dấu cầu Chúa (mỗi người 1 buồng lái, ai lái cũng được). Đinh Tôn biết mình không có vũ khí thì chẳng làm gì được thằng F-4, nhưng vẫn bình tĩnh nhào lộn hù dọa như thật và tranh thủ lúc thằng F-4 vòng ra xa thì Đinh Tôn cho máy bay hạ cánh, thế là cứu được cả thầy, cả máy bay. Còn ông thầy thì lắc đầu thở phù phù khen trò giỏi và nói: "Nếu là tôi thì tôi vứt quách máy bay và nhảy dù rồi!".
|
Linhami là con gái, nhưng từ bé đã thích lịch sử, những chuyện về chiến tranh và vũ khí. Linhami chơi thân với con trai hơn là con gái vì "buôn" về bóng đá, chiến tranh hay vũ khí thì được, chứ còn về giày dép, son phấn và thời trang thì Linhami mù tịt. Linhami không xấu, nhưng...hơi bị béo nên chẳng có anh nào có ý định thân với Linhami quá mức tình bạn. Linhami đành chúi mũi vào sách vở để giải khuây. Những chuyện đại loại thế này thì các bác các chú các cô người lớn biết cả, nhưng họ bận làm ăn, bận việc cơ quan, rồi thì con cái nên họ không có thời gian mà kể cho các bạn trẻ nghe. Mà cũng có khi họ nghĩ lớp trẻ bây giờ không quan tâm đến những chuyện lịch sử hay chiến tranh nữa cũng nên. Nếu các bạn trẻ thấy thích nghe thì Linhami sẽ kể tiếp, nhưng chỉ những sự kiện và con số nào Linhami biết chắc là đúng thì mới dám nêu ra chứ Linhami tuyệt đối không dám bịa. Và 1 điều nữa: đề nghị Ban Quản Trị nếu thấy có điều gì không thích hợp thì cứ xóa nhé!
|
Kể cho các bạn cùng lứa nghe chuyện ta lừa Mỹ-ngụy thế nào vào cuối tháng 4 năm 1975 nhé. Khoảng 20-21.4.1975 thì quân ta đã vây chặt Sài Gòn rồi, nhưng tương quan lực lượng chưa đủ để đè bẹp nó một cách dễ dàng nên ta nghĩ cách hoãn binh tranh thủ thời gian đưa thêm quân đến mà lại làm cho nó chủ quan, không nghĩ gì đến việc tăng cường phòng thủ Sài Gòn. Trong sân bay Tân Sơn Nhất có Trại David của Ủy ban quân sự hỗn hợp 4 bên (Đoàn VNDCCH do Thiếu tướng Lê Quang Hòa làm Trưởng Đoàn, Đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN thì [hình như] do Trung tướng Trần Nam Trung làm Trưởng Đoàn). 2 đoàn vẫn giao lưu thân thiết với nhau, chiều nào cũng đánh bóng chuyền. Ấy thế nhưng tự nhiên 2 Đoàn ngừng quan hệ với nhau. Bọn ngụy để ý thấy thế bèn thăm dò cả 2 bên. Bên VNDCCH thì tỏ ý bực bội là MTGP không biết điều, không có sự chi viện của miền Bắc thì làm gì được như ngày hôm nay, còn bên MTGP thì bực bội là HN quá đáng, không có MTGP làm tay trong thì thử hỏi HN có chiếm được gần hết miền Nam này không...Mỹ-ngụy thấy "anh em nhà Cộng Sản bất hòa" thì mừng lắm. HN bắn tin cho Pháp là sẵn sàng đàm phán hòa bình nếu không phải là Nguyễn Văn Thiệu. Pháp bị Mỹ hất cẳng từ lâu, đang bực bội Mỹ, bèn nhân cơ hội này định đưa Dương Văn Minh thân Pháp lên để...đàm phán! TQ thì đã ve vãn MTGP từ lâu (ta biết, nhưng chủ trương để cho MTGP tiếp xúc bí mật với TQ xem họ định làm gì [TQ chỉ quý MTGP thôi vì cho rằng HN theo LX rồi]), nay thấy MTGP bất hòa với HN thì khoái lắm. Tóm lại là Mỹ ép Thiệu từ chức rồi suốt 1 tuần liền Mỹ-ngụy-Pháp-TQ liên lạc bàn bạc với nhau đủ các kiểu, thống nhất là khi đàm phán sẽ đưa vấn đề chia VN thành 3 phần: HN theo LX thì chỉ cho đến Đà Nẵng thôi, từ Đà Nẵng đến gần Sài Gòn là của MTGP thân TQ, từ Sài Gòn trở về trong (đồng bằng sông Cửu Long) là của Dương Văn Minh thân Pháp...hay Mỹ thì tính sau! Bàn xong xuôi, đến sáng 28.4 gặp chẳng được, gọi điện chẳng được, bên kia lấy làm lạ: có chuyện gì trục trặc à? Đúng lúc ấy thì mình chuẩn bị xong lực lượng đủ mạnh và tấn công, tuyên bố: chẳng có đàm phán nào hết, chỉ có đầu hàng vô điều kiện! Ối giời, thế là Mỹ-Pháp-TQ-Ngụy ngã ngửa cả ra vì ăn phải quả lừa to quá!
|
Thêm chuyện nữa nhé: Không nhớ rõ là năm nào có một tàu chiến Mỹ vào cảng Cửa Việt đem theo bao nhiêu là vũ khí cho quân Mỹ-ngụy. Ta muốn đánh chìm cái tàu này lắm nhưng không được vì nó canh gác phòng thủ rất kỹ: nó chăng lưới thép xung quanh tàu, ca-nô nó đậu kín xung quanh, đặc công nước của ta không sao tiếp cận tàu được. Ta quyết định dùng không quân đánh cái tàu này. Nhưng dùng MiG thì lộ, ra-đa nó phát hiện được ngay, với lại MiG là tiêm kích, đeo bom cũng chẳng được bao nhiêu. Ta dùng máy bay vận tải An-24 chở đầy bom ì ạch bay thật thấp đến cứ quanh quẩn trên cái tàu chiến ấy mà thả bom như rắc sỏi! Tàu chiến Mỹ cháy đùng đùng, nhưng nó bắn cháy máy bay mình, 5 phi công hy sinh.
Năm 1974 ta được tin Nguyễn Văn Thiệu sẽ ra Quảng Trị úy lạo binh sĩ. Ta cho 2 chiếc MiG đeo bom và tên lửa bay dọc đường quốc lộ ngó nghiêng, bay ngang bay dọc mãi chẳng thấy chỗ nào quân nó túm tụm, đành quay về. Hôm ấy số thằng Thiệu đỏ: chẳng biết vì lý do gì mà nó hoãn, không ra thăm Quảng Trị nữa. Nó mà ra thì chẳng còn cái ngày 21.4.1975 lên ti-vi khóc hu hu chửi Mỹ rồi từ chức nữa! |
Linhami nhớ ra thêm được 2 tình tiết nhỏ trong cuốn sách của Trung tá Nguyễn Thành Chơn:
1) Có lần 1 tốp MiG-17 của ta bay vòng qua Yên Bái để vòng xuống Hòa Bình đánh tập hậu máy bay Mỹ. Lúc bay ngang qua Yên Bái thì chả hiểu sao lại bị pháo cao xạ ta bắn (lúc ấy bộ đội phòng không đã biết là ta đã có máy bay). Chiếc bay cuối cùng bị trúng đạn - cụt đuôi, phi công nhảy dù. Biên đội 4 chiếc chỉ còn 3, thế là phải quay về (vì 1 người lao vào công kích thì ít nhất phải có 1 người bay sau và cao hơn bảo vệ - người đang lao vào công kích không thể quan sát hết được, dễ bị tên khác bắn). Ta làm hỏng việc của ta! 2) Có 1 phi công của ta (không nhớ tên là gì) lao vào gần máy bay Mỹ (200 mét) mới bắn. Chả hiểu bắn trúng chỗ nào mà máy bay Mỹ nổ tung! Vì gần quá và nhanh quá nên phi công không thể xử lý kịp, máy bay ta đâm thẳng vào chỗ đám nổ. Qua khỏi chỗ ấy thì phi công ta thấy xung quanh tối sầm, cứ tưởng mình bị cháy bèn lắc cánh. bổ nhào thử thì thấy máy bay vẫn ổn. Khi hạ cánh xuống sân bay thì ai cũng ngạc nhiên: toàn máy bay đen trũi vì ám khói. Các chuyên gia LX tấm tắc khen phi công VN thông minh vì chỉ có lao thẳng vào điểm nổ của máy bay Mỹ thì mới an toàn (chỗ ấy không có gì), còn nếu tránh là ăn mảnh máy bay Mỹ văng ra, nhất định mình cũng cháy nốt! Còn anh phi công ta sau khi nghe chuyên gia LX khen thì cười khì khì bảo với đồng đội: "Thông minh con khỉ gì, lúc ấy nhanh quá, chả kịp nghĩ gì cả, cứ thế là đâm vào thôi!". |
Cuối năm 1972 Mỹ thực hiện chiến dịch Linebaker-II đánh phá tổng lực miền Bắc từ ngày 18.12 đến ngày 30.12. Trong chiến dịch này Mỹ huy động 193 máy bay ném bom chiến lược Stratofortress B-52 và hơn 800 máy bay phản lực các loại (trong đó có máy bay cánh cụp-cánh xòe F-111A hiện đại nhất của Mỹ lúc bấy giờ). Máy bay B-52 dài 48 m, sải cánh 56 m, vận tốc 1000-1100 km/h, chở được 27 tấn bom (tương đương 120 quả bom loại 225 kg [450 lb]), mỗi máy bay B-52 khi rải thảm tạo nên một dải chết chóc dài 1 km và rộng 300 m. Máy bay B-52 cất cánh từ căn cứ quân sự Anderson trên đảo Gu-am và từ sân bay tại Thái Lan, được tiếp dầu trên không bằng máy bay KC-135 cất cánh từ căn cứ Mỹ trên đảo Ô-ki-na-oa (Nhật).
Lý do Mỹ dùng B-52 đánh phá miền Bắc (chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng và các sân bay, kho xăng dầu, vũ khí của ta): Lê Đức Thọ và Kissinger họp kín với nhau, đã thỏa thuận ổn cả, dự định ký Hiệp định vào 31.10.1972. Tất nhiên những gì VNDCCH thỏa thuận với Mỹ thì CHMNVN (Cộng hòa miền Nam VN) biết và nhất trí, nhưng Mỹ thỏa thuận với ta những gì thì Thiệu chỉ biết đại thể, Mỹ không cho Thiệu biết hết vì sợ Thiệu bướng, không chịu đồng ý ký thì hỏng việc của Mỹ (Mỹ muốn rút ra lắm rồi). Nhưng khi Mỹ yêu cầu Thiệu ký thì Thiệu nhất định cứng đầu không chịu ký với lý do chính: không thể chấp nhận được việc Mỹ rút khỏi Nam VN mà quân đội Bắc VN vẫn ở lại! Một mặt Mỹ vừa thuyết phục vừa đe dọa Thiệu (sau 2 lần Kissinger đi đi lại lại thuyết phục Thiệu không thành thì Nixon gửi thư cho Thiệu đe: "nếu ngài không ký thì Mỹ sẽ ký riêng rẽ với VNDCCH, nhưng ngài đừng có trông chờ gì vào viện trợ của Mỹ nữa nhé!", mặt khác Mỹ lại thông báo với phía ta là: "phải xem xét lại một số điều, Thiệu không đồng ý ký như chúng tôi với các ông đã thỏa thuận". Ta biết là Mỹ muốn rút ra lắm rồi nên làm căng, bỏ Hội nghị Pa-ri vê nước, đồng thời ngày 26.10.1972 ta cho công bố trên đài phát thanh toàn văn thỏa thuận đã đạt được với Mỹ (cho cả thế giới biết: đấy, đã thỏa thuận thế này rồi mà Mỹ lại lật lọng!". 1) Nixon tuyên bố: "Cho HN 72 giờ suy nghĩ, nếu sau 72 giờ mà không quay lại Pa-ri ký (theo văn bản có những điều sửa đổi mà Thiệu yêu cầu) là đánh!". Ta không quay lại, nó đánh thật. Tức là Mỹ đánh để ép ta phải ký theo văn bản có những sửa đổi của Thiệu. 2) Mỹ đánh để làm yên lòng Thiệu, chứng minh cho Thiệu thấy là Mỹ vẫn còn nhiệt tình với Thiệu lắm (để cái thằng cứng đầu này nó ký cho một chữ mà còn về!). 3) Mỹ đánh để phá tan hoang miền Bắc trước khi Mỹ rút (Mỹ tính là sau đợt đánh phá này thì miền Bắc phải mất 2 năm mới gượng dậy được) - tức là "câu giờ" cho Thiệu có 2 năm củng cố chính quyền, không sợ bị đánh lớn. |
Tình báo ta biết trước là Mỹ sẽ dùng B-52 đánh phá Hà Nội và Hải Phòng. Ta gấp rút chuẩn bị đối phó:
1) Rút trung đoàn tên lửa ở Vĩnh Linh ra tăng cường bảo vệ Hà Nội. 2) Lắp đặt một số trạm ra-đa tại Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An nối với các trận địa tên lửa ở ngoài Bắc (đề phòng Mỹ đánh "mù mắt" ta [đánh hỏng hết ra-đa] ở Hà Nội thì ta sẽ dùng "mắt" ở Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An để nhìn mà chiến đấu). 3) Tổng hợp các kinh nghiệm đánh B-52 đúc rút được in thành sách phát cho các đơn vị tên lửa nghiên cứu (tuy nhiên, đây chỉ là những kinh nghiệm mà trung đoàn tên lửa ở Vĩnh Linh vừa đánh vừa nghiền ngẫm suốt trong mấy năm và cũng chưa mấy hiệu quả - chủ yếu mang tính chất gợi ý). 4) Thành lập đơn vị không quân đặc biệt (nôm na là cảm tử) để trong trường hợp tên lửa không hiệu quả thì tung đội tiêm kích cảm tử vào trận (1 MiG đổi 1 B-52). Ta buộc phải là việc này vì hiểu rõ: trận này là cố gắng cao nhất của Mỹ rồi, nếu ta thắng trận này thì sẽ có hòa bình, còn nếu không thắng được thì hòa bình còn xa lắm - vì lẽ ấy bằng mọi giá ta phải quyết thắng! Rất may là trong một hội nghị bàn về cách đánh B-52 thì có 1 sĩ quan tên lửa của ta lập luận: "Thế này cũng giống như trong đêm tối có 2 người rình bắn nhau, mỗi bên có 1 đèn pin và 1 súng lục. Muốn tiêu diệt đối phương chỉ có cách căng tai nghe ngóng động tĩnh, cảm thấy đối phương ở đâu thì chĩa súng về phía ấy và bấm đèn: nếu đúng là bắn ngay, không đúng - tắt đèn ngay, tránh ngay. Ta nên phân tích trong rất nhiều mục tiêu trên màn hình xem mục tiêu nào có vẻ là thật rồi ngắm tên lửa vào đấy, sau đó tập trung công suất phát sóng nhìn cho rõ - nếu đúng là B-52 là phóng luôn, nếu không đúng thì tắt sóng rồi bật lại lùng sục sau. Tất nhiên là nguy hiểm - mình cũng sẽ tự phơi mình lộ ra, nhưng ai nhanh hơn thì người ấy thắng!". Chính bằng cách đánh này mà bộ đội tên lửa của ta chiến đấu đạt hiệu quả khá cao, cũng có những trường hợp bị lộ trận địa, mình chưa kịp phóng tên lửa thì bọn phản lực phát hiện ra, phóng tên lửa xuống, chính chùm sóng mạnh của mình lại dẫn hướng cho tên lửa nó trúng đích! Mãi đến 27.12 thì Không quân ta mới tham chiến, nhưng vì Không quân cũng muốn có thành tích thôi, chứ đã 9 ngày trôi qua, tên lửa mình đánh tốt (riêng đêm 26.12 mình hạ được 8 B-52), không cần đế biện pháp cuối cùng là dùng Không quân "1 đổi 1" với Mỹ. Trước đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thành lập 1 Tổ nghiên cứu đặc biệt để trả lời cho Quân Ủy T.Ư câu hỏi: "Mình bắn rơi được bao nhiêu % B-52 tham chiến thì dư luận Mỹ rung động và Quốc hội Mỹ sẽ phải can thiệp, không cho Nixon tự tung tự tác nữa?". Câu trả lời là 8-10%. Nếu 10% tức là Mỹ sẽ chùn tay nếu ta bắn hạ được 19 chiếc B-52 (10% của 193 chiếc). Và ta còn làm được hơn thế: trong 12 ngày đêm (18-30.12.1972) ta bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 B-52 và 1 F-111A. Mỹ chỉ công nhận có 15 B-52 bị bắn hạ, nhưng thế cũng quá đủ để Mỹ chùn tay rồi. Có 1 nguyên nhân góp phần giúp ta bắn B-52 được thuận lợi (mãi sau cả Mỹ, cả ta mới biết): trong những ngày cuối tháng 12 năm 1972 miền Bắc có gió mùa đông-bắc thổi mạnh, những dải giấy bạc cắt vụn được B-52 thả ra gây nhiễu (kết hợp với nhiễu điện tử) nhanh chóng bị gió thổi tạt đi khiến cho nhiễu không đủ mạnh như Mỹ dự tính. |
31.12.1972 Nixon tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc VN.
Lý do chính thống như chúng ta vẫn biết là: Mỹ thua đau, buộc phải xuống thang, quay sang Pa-ri ký vào Hiệp định trong nhục nhã. Thật ra thì không hẳn thế. Có nhiều lý do để Mỹ ngừng ném bom: 1) Tổn thất lớn hơn so với Mỹ dự kiến (có báo Mỹ viết: "cứ cái đà này chỉ 3 tháng nữa là Mỹ hết sạch B-52" [Mỹ có tất cả gần 400 B-52]). 2) Thế giới phản đối ghê quá (có báo Mỹ giật tít: "TT Nixon có bình thường không?"). 3) Thiệu đã hài lòng, đồng ý ký Hiệp định Pa-ri. 4) Những gì cần phá thì Mỹ đã phá gần hết rồi, còn gì nữa đâu để phá tiếp. Nixon tuyên bố ngừng ném bom và nghe ngóng. Ta quyết định xuống nước, báo cho Mỹ biết là ta sẽ quay lại Pa-ri. Thật ra thì không phải là ta sợ. Còn gì để mất nữa đâu mà sợ - nó chả phá tan hoang hết rồi (riêng 12 ngày cuối 1972 này Nixon phá của ta còn hơn cả mấy năm trước cộng lại)! (Coi như hòa: 1 anh sứt đầu, 1 anh mẻ trán). Ta sang là để bảo cho Mỹ biết: tao cóc sợ, mày chả phá hết của tao rồi, còn gì nữa đâu mà tao sợ, tao sang đây là để cho mày mát mặt, coi như tao sợ, coi như tao thua, mày hài lòng rồi nhé, thế thì ký nào! Cái mình cần là Mỹ ký rồi cút cho mau mau (TBT Lê Duẩn đã từng nói: "Dù có phải trải thảm đỏ cho Mỹ rút thì ta cũng làm!" - ta đã thử chọi cả 2 thầy trò chúng nó vào dịp Tết Mậu Thân 1968, nhưng không xong, ta biết là Mỹ còn ở miền Nam thì ta không đủ sức nên ta đi từng bước: làm sao cho Mỹ rút đã, rồi tính sổ với Ngụy sau). Ta nhún Mỹ một tí để nó ký cho được việc của ta, nếu ta cương không chịu sang thì nó cũng không sang Pa-ri, lúc ấy thì đánh nhau đến bao giờ? Phải tranh thủ lúc này chịu nhún cho nó về đi đã. Đấy, ta sang Pa-ri là vì thế! Sang đấy thì lại mặc cả một hồi nữa. Tóm lại là ta nhượng bộ nó một số điều, nhưng có 1 điều ta nói thẳng cho Mỹ biết: không bao giờ chịu rút quân ra khỏi miền Nam! Muốn ra sao thì ra, sẵn sàng đánh nhau 20 năm nữa, 30 năm nữa, kiên quyết không nhượng bộ khoản này! Mỹ quay sang an ủi Thiệu: "Thôi, nó bướng thế thì tao cũng phải chịu, mày cứ ký cho tao 1 chữ để tao rút chân ra cái đã, tao mệt mỏi lắm rồi, có gì tao bảo vệ cho, đừng lo! Với lại nó cũng chịu nhún mày mấy điểm rồi cơ mà, thôi, ký đi!". Thế là ký. Sau đó như thế nào thì mọi người đã rõ: Mỹ cút rồi thì Ngụy chịu thế nào nổi ta! Thiệu xin gì thì TT Mỹ cũng phải đưa ra Quốc hội biểu quyết. TT Mỹ hứa viện trợ cho 2 tỉ USD, nhưng Quốc hội sau một hồi tranh cãi chỉ duyệt cho 722 triệu USD. Đen cho Thiệu là năm 1973 chiến tranh Trung Đông nổ ra, Mỹ bênh Israel, các nước A-rập ghét phương Tây nên đồng loạt giảm sản lượng khai thác dầu và tăng giá dầu, đồng USD mất giá nghiêm trọng, 722 triệu trên thực tế chỉ còn 400 triệu. Thiệu kêu trời, đem tất cả vàng bạc của Ngụy ra thế chấp để vay Ả-Rập Xê-út 1,5 tỉ USD. Quốc vương Ả-Rập Xê-út đồng ý, nhưng đột nhiên ông ấy chết bất đắc kỳ tử, Quốc vương mới lên không đồng ý cho vay nữa. Thiệu nghèo đi rõ rệt - đúng là Israel làm hại Thiệu! Trong khi đó thì quân đội của Thiệu được Mỹ dạy đánh trận kiểu Mỹ: biết đối phương ở đâu thì trước tiên là gọi máy bay ném bom, sau đó đến pháo binh bắn tan nát rồi trực thăng đổ quân để tiêu diệt nốt những lính đối phương còn sống sót - tức là đánh theo kiểu con nhà giàu: bom đạn xài không tiếc, miễn sao lính chết ít nhất. Nay Mỹ về rồi, máy bay đầy ra đấy nhưng phi công thiếu, bom thiếu, xăng dầu thiếu, đạn pháo thiếu...cái gì cũng đắt - lấy gì mà đánh? Trong khi đó thì LX đang giúp VN ở mức độ vừa phải đột ngột thay đổi sách lược: ờ, Mỹ cút rồi, dễ rồi, tranh thủ giúp ông em xơi tái miền Nam đi, thế là ta có 1 ông em trung thành ở Đông Nam Á, lừng chừng nhỡ TQ nó nhiệt tình hơn thì bao nhiêu công sức mình giúp từ trước đến giờ thành công cốc à? LX đổ vũ khí ào ào vào cho ta mà dân LX chẳng biết gì (đâu có khốn khổ như TT Mỹ: cái gì cũng phải đưa ra Quốc hội bàn). Đấy, khi ký Hiệp định Pa-ri thì Thiệu run rồi, nhưng được Mỹ động viên nên hơi vững dạ. Sau vụ Watergate thì Nixon đổ, Ford chẳng mặn mà gì với Thiệu nên mặc kệ, chỉ động viên mồm, Thiệu xin gì là Ford đưa ra Quốc hội (ở nước tôi dân chủ nên cái sự nó phải thế!). Lại thêm ông bạn Israel gây sự với bọn Ả-Rập ở bên kia làm khổ Thiệu ở bên này (bị nghèo hẳn đi - tiền Mỹ cho chỉ là đống giấy lộn!). LX khối dầu, LX không phụ thuộc vào dầu của Ả-Rập, LX không xài USD nên không bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng nhiên liệu năm 1973. Thế mới biết ở đời chuyện nọ lại liên quan đến chuyện kia. Israel không thể ngờ là mình thắng lại làm cho bạn sạt nghiệp! Mà mấy anh Ả-Rập hò hét chống Mỹ với Israel thực ra chỉ được cái to còi, đánh đấm luôn thua, LX giúp nhiệt tình nhưng thấy thua mãi cũng chán! Mấy anh Ả-Rập này chỉ có mỗi 1 miếng võ cùn: hạn chế sản lượng, tăng giá dầu (Mỹ cũng khá là sợ võ này đấy, nhưng Mỹ biết: nếu bị bọn Ả-Rập giở võ này ra thì Mỹ sẽ ve vãn 1 chú Ả-Rập nào đấy, cho kha khá tiền , chú này bập vào, quyết tâm xìu ngay, các chú khác thấy thế thì nghĩ: "ơ, tội gì căng với Mỹ nhỉ" và bắt chước để được lợi. Thế là hỏng hết khối đoàn kết!). |
Rất cảm ơn bạn Linhami về những thông tin và tài liệu quý giá.:emoticon-0150-hands
Tôi cũng hơi ngạc nhiên và khâm phục vì bạn Linhami là nữ mà lại quan tâm đến chính trị, quân sự, súng ống... đến như vậy. He he!:emoticon-0100-smile Chỉ có điều xin hỏi Linhami là những thông tin quý trên đây do bạn dịch hoặc lấy ở đâu thì cũng cho xin cái nguồn để mọi người tiện theo dõi hoặc khi cần tìm hiểu sâu hơn. Xin cảm ơn!:emoticon-0155-flowe |
Cháu kính chào Bác Hổ ạ. Cháu là con gái, không xấu lắm (chỉ hơi xấu tí thôi), nhưng mà hơi bị thừa ki-lô nên từ bé cháu mặc cảm lắm, cháu chỉ biết làm bạn với sách vở thôi. Mà không hiểu tại sao tuy là con gái nhưng cháu rất thích tìm hiểu chiến tranh và các loại vũ khí. Khâu vá, thêu thùa, nấu nướng cháu chẳng thấy hay bằng tìm hiểu tại sao xe tăng các thế hệ mới đi trên địa hình gập ghềnh mà pháo thủ đã ngắm vào đâu là nòng pháo luôn chĩa đúng vào đấy bất kể là xe chúc xuống, chồm lên hay rẽ phải, rẽ trái; hoặc những tấm như những viên gạch bên ngoài tháp pháo có tác dụng gì, nòng trơn và nòng có khương tuyến thì tính năng khác nhau thế nào, cánh vuốt ngược như SU-47 thì được lợi gì so với cánh vuốt xuôi như các máy bay khác, tại sao tàu ngầm phóng tên lửa từ dưới nước mà không bị nước tràn vào tàu, tên lửa I-ran có thể bắn đến đâu, kế hoạch mới của Obama thì đỡ hơn cho Nga hay là nguy hơn so với kế hoạch của Bush v.v...
Những điều cháu viết trên đây là để phục vụ các bạn cùng lứa tuổi với cháu chỉ biết về cuộc chiến tranh hơn 30 năm trước qua sách vở và đài báo của ta. Cháu lấy những số liệu này từ các bài báo hồi ký của các chuyên gia quân sự Liên Xô, các bộ phim tài liệu và sách về chiến tranh VN trên nhat-nam.ru và airwar.ru, wikipedia.org, hồi ký của Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Thảo, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Thành Chơn và qua lời kể của một số bạn của bố cháu bên Quân chủng Phòng không - Không quân (cháu biết cả chuyện bác Nguyễn Văn Cốc không biết đi xe máy, đi đâu toàn con trai chở, vợ bác Cốc bảo: "Ông ấy chỉ tài đi trên giời thôi, đi dưới đất thì kém lắm!"). |
Cám ơn các câu chuyện của bạn Linhami, rất hay, rạch ròi.. nhiều chuyện nếu không chịu khó tìm hiểu, sưu tập.. thì chẳng biết được. Các chứng nhân, người trong cuộc ( thế hệ già ) phần thì khiêm tốn, phần cũng không biết đến intenet nên có lẽ ít kể lại cho con cháu ( nhiều sử gia và cà chuyên gia nước ngoài vì lí do này nọ cũng không nói đúng sự thật ). Việc của bạn rất hữu ích, mong bạn tiếp tục có nhiều câu chuyện nữa.
|
Từ lâu Mỹ đã không hài lòng về chế độ Sài Gòn. Tham nhũng thì tràn lan, tiền của Mỹ đổ vào cứ thất thoát bao nhiêu là bao nhiêu, các tướng lĩnh thì được cất nhắc dựa vào lòng trung thành với giới chóp bu chứ không căn cứ vào năng lực chỉ huy chiến đấu, các tướng nghi kỵ lẫn nhau và chỉ giỏi đi buôn (Nguyễn Cao Kỳ còn thành lập hẳn một đội máy bay chuyện đi sang tam giác vàng đổi vũ khí của Mỹ cấp cho lấy thuốc phiện của Khun Sa), giới chóp bu sợ các tướng dưới quyền đảo chính hơn là sợ Việt Cộng, cách thức điều hành thì chồng chéo: TT hay thủ tướng đều là tướng mà ra nên hay "ý kiến ý cò" chỉ đạo khiến cho quân nhân chuyên nghiệp Đại tướng Cao Văn Viên biết nhưng chẳng làm thế nào được, bên dưới thì nhiều lúc chẳng biết nên theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu hay lệnh của Tổng thống, cách tổ chức quân đội thì vô cùng bất hợp lý. Ngụy có 13 sư đoàn bộ binh đóng trên 4 quân khu (gọi là 4 vùng chiến thuật), Thiệu ra lệnh: "phải giữ từng tấc đất!" nên quân khu nào chỉ biết quân khu ấy, khi Bộ Tổng tham mưu điều động thì Tư lệnh quân khu viện cớ có chỉ thị của Tổng thống nên không nghe, mà sư đoàn đóng quân ở đâu thì khu gia binh ở gần đấy, mỗi khi có lệnh điều động thì lính đòi phải chuyển cả vợ con theo, xảy ra đánh lớn thì binh lính lo sơ tán vợ con cái đã, đánh nhau sau. Mỹ ngán ngẩm hết sức, bảo Ngụy: "Xem VC kia kìa, chúng nó chỉ nhè tiêu diệt sinh lực đối phương chứ không giữ đất, nếu căng là nó chạy để bảo toàn lực lượng. Chúng mày cứ khư khư ngồi yên một chỗ, thằng nào cũng chỉ biết cái thân mình, ở đâu cũng 1 đống vợ con bìu ríu thế thì đánh đấm gì!". Thiệu đã từng tính chuyện gom tất cả vợ con lính Ngụy lại một chỗ và bảo vệ an toàn cho lính yên tâm đánh nhau, nhưng lính không nghe. Thiệu phải chịu.Cho nên quân Ngụy chỉ được giao giữ đồng bằng sông Cửu Long và thực thi chiến dịch bình định nông thôn, còn đánh nhau với VC thì Mỹ phải lo. Khốn nỗi "cứ 4 nhân viên của chính phủ thì ít nhất có 1 là điệp viên của VC" (F. Davidson) nên Mỹ làm gì cũng lộ, bao giờ VC cũng biết trước. Các chiến dịch "Attenboro", "Junction City" Mỹ ra quân rầm rộ định vây mình, nhưng mình đều biết trước và chạy hết sang Campuchia, Mỹ chả đánh được, đành phá vài cái kho rồi về căn cứ, VC lại mò về. Đánh sang Campuchia thì Mỹ không có quyền, thế mới cay. Mỹ biết thừa là ông Xi-ha-nuc bề ngoài thì trung lập, nhưng vẫn nhận tiền của VC, làm ngơ cho VC mượn lãnh thổ CPC để làm đường mòn Hồ Chí Minh với bao nhiêu là kho tàng và căn cứ, lại còn cho tàu LX và tàu VN cập cảng Xi-ha-nuc-vin dỡ hàng chuyển lên biên giới (bộ đội ta đóng giả làm phu, chỉ huy đóng làm ông chủ Ba Tàu buôn gạo). Xi-ha-nuc cũng hay: đối nội thì triệt hạ CS, nhưng đối ngoại thì thân với VNDCCH (vì biết: không thân thì ăn đòn!). Mỹ không làm thế nào được bèn móc nối với thủ tướng Lon Nol làm đảo chính trong khi ông Xi-ha-nuc đi Pháp chơi. Ông Xi-ha-nuc đang ở Moskva thì được tin mình bị phế truất, xin tị nạn chính trị ở LX, nhưng LX bảo: "Không tiện lắm, mời Ngài đi chỗ khác!", thế là Xi-ha-nuc về Bắc Kinh. TQ nắm Xi-ha-nuc, VNDCCH nắm Khơ-me CS - tức là TQ nắm ngọn, VN nắm gốc. Lon Nol lên, ra tối hậu thư: "Quân đội Bắc VN phải rút khỏi CPC trong vòng 48 giờ!". Nhưng quân Bắc VN không rút, quân Bắc VN từ trước vẫn mải đánh Mỹ-Ngụy và chỉ giúp các đồng chí CPC một cách vừa phải thấy "thằng này láo thật, không cho ở nhờ à?" bèn tập trung nện cho Lon Nol tơi bời, vây chặt thủ đô Phnom Pênh. Mỹ không sang cứu được (Quốc hội Mỹ không cho phép) bèn phái Ngụy sang cứu. Nhưng Ngụy vốn ghét dân CPC (Diệm hồi còn sống còn cho người ám sát Xi-ha-núc suýt chết làm cho Xi-ha-núc càng thân VC) luôn to còi đòi trả đồng bằng sông Cửu Long nên sang CPC không đánh VC mà...cướp bóc! Cướp xong thì về. Ta thấy Lon Nol nguy rồi thì để các đồng chí CPC tự giải quyết lấy, quay về đánh Mỹ-Ngụy (đấy mới là việc chính của mình, tội gì sa đà vào việc hàng xóm, cái chính là Lon Nol gay go, không gây khó khăn gì cho đường mòn HCM của mình là được rồi).
Sau Mỹ nghĩ ra: CPC rộng quá, có đánh sang đấy cũng chẳng ăn thua, VC nó tản hết ra, chỉ phá được vài cái kho là cùng! Mỹ bèn dùng B-52 từ Thái Lan bay sang thả bom CPC vào khu vực kho tàng của ta (bí mật! Đến cả bọn phi công B-52 còn chẳng biết là thả ở đâu, cứ theo hướng dẫn từ mặt đất, thả xong thì về - cứ tưởng là thả bom ở Nam VN). Nhưng các nhà báo Mỹ biết, làm ầm lên. Quốc hội Mỹ họp, thông qua nghị quyết tịch thu quyền tự ý điều hành chiến tranh của TT mà Quốc hội đã cấp cho Johnson năm 1974 sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và cấm TT Mỹ không được tự tiện mở rộng chiến tranh sang Lào và CPC. Mỹ bèn xui Ngụy: "Chỗ Nam Lào ấy hẹp, bên kia là Thái Lan rồi, tao không được phép sang Lào, nhưng mày thì chả ai cấm, mày sang chịt cái chỗ hẹp ấy lại là VC trong Nam tắc thở!". Kế hoạch Lam Sơn 719 ra đời. |
Xin lỗi, bài trước có 1 chỗ gõ nhầm: sau sự kiên Vịnh Bắc Bộ năm 1964 (chứ không phải 1974).
Thế là ngụy hăm hở sang chịt Nam Lào để bóp cho VC trong Nam nghẹt thở. Khốn nỗi kế hoạch Lam Sơn 719 chưa đến các tư lệnh các quân khu của Ngụy thì Bộ Tổng tham mưu ta ở HN đã có chi tiết tường tận (có những văn ban Mỹ gửi cho Thiệu, Thiệu còn chưa nhận được thì ta đã có trong tay, đến nỗi có lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp hài lòng nói: "Cứ như là mình ngồi trong trụ sở Bộ Tổng tham mưu nó!"). 8.2.1971 Ngụy xuất quân sang Lào. Ta đã chuẩn bị sẵn phần tử bắn cho pháo binh ở tất cả các cao điểm mà Ngụy sẽ đổ quân (tóm lại là ta chủ động "đón tiếp" rất chu đáo). Mỹ chỉ có thể yểm hộ bằng trực thăng bắn phá và đổ quân, trên mặt đất thì Ngụy phải tự mà lo lấy. Ta chuẩn bị sẵn lực lượng phòng không rất mạnh để "đón" trực thăng Mỹ. Chiến dịch Lam Sơn 719 của Ngụy đại bại - te tua luôn! 40.000 quân ta ăn no nằm khểnh chờ từ lâu, ngụy có 20.000 bị bất ngờ hoàn toàn, chết gần nửa, Mỹ mất gần 700 trực thăng. Lần đầu tiên quân Ngụy ra trận để thầy Mỹ xem kết quả Việt Nam hóa chiến tranh thế nào - kết quả là vô cùng ảm đạm. |
Xin chúc tất cả các thành viên NNN một tối Giáng sinh vui vẻ. Linhami tủi thân lắm, chả có ai mời đi chơi nên đành ở nhà đọc sách thôi. Lúc nãy hì hục gõ gần 1 trang kể chuyện đánh nhau trong Nam cho các bạn nghe, nhưng chả hiểu sao ko post được, bay mất luôn Tthuwowfng thế, luôn tốn công gấp đôi mọi người: hầu như bài nào cũng phải gõ lần 2 thì mới post được. Kém tin học quá ấy mà.
Kể hầu các bạn một vài chuyện lẻ tẻ vậy: 1) Năm 1950 Bác Hồ bí mật sang thăm LX cùng với Mao Trạch Đông. Bác đặt vấn đề với Stalin, đề nghị cấp cho VN vũ khí đủ trang bị cho 10 sư đoàn bộ binh. Stalin bảo: "Chở từ đây sang VN thì lâu, VN lấy vũ khí của TQ mà dùng, LX cấp bù cho TQ sau" và bảo Mao: "Thế là lãi nhé, cho đi vũ khí cũ mà lại được vũ khí mới! Nhưng LX không cho không đâu! Mỗi khẩu súng đổi 1 con gà, mỗi viên đạn đổi 1 quả trứng gà đấy!" (chắc Stalin nói đùa). 2) Mình chọn các chiến sĩ là học sinh sang TQ học sử dụng pháo binh và pháo cao xạ chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ sau này. TQ thấy học viên VN sáng dạ quá bèn cảnh báo: "Trong quân đội các đồng chí thành phần tiểu tư sản hơi nhiều đấy!". Mình bảo: "Làm gì có, toàn con em công-nông thôi!". TQ: "Sao học giỏi thế?" (rõ ràng là để sử dụng pháo binh và pháo cao xạ phải biết lượng giác để tra phần tử bắn). Mình trả lời: "Đấy toàn là con em công-nông mù chữ, đi bộ đội rồi mới học văn hóa đấy!". Rõ ràng là tàu khựa: cứ giàu, cứ giỏi là hỏng (Mao đã từng nói: "Trí thức không bằng cục phân bón ruộng!"). 3) Chính vì thái độ coi thường trí thức thế nên Mao bị trả giá ít nhất là 2 lần vì dốt: a) Diệt chim sẻ. Mao tính: 1 con chim sẻ mỗi năm ăn mất mấy hạt lúa mì, mấy hạt ấy lẽ ra phải thành mấy cây lúa mì v.v... Kết luận: chim sẻ gây hại to quá, phải tiêu diệt! Thế là toàn dân Bắc Kinh đổ ra đường diệt chim sẻ: gõ mâm, gõ xoong, thanh la, não bạt phèng phèng ầm ĩ cả lên. Chim sẻ sợ, bay lung tung, nhưng không thể đậu xuống chỗ nào được: đâu cũng đầy người gõ và phất chổi! Chim sẻ bay, bay mãi, cuối cùng kiệt sức rơi xuống. Chỉ việc nhặt vứt lên xe tải. Đến chiều hàng đoàn xe tải chở chim sẻ chết ra ngoại ô chôn. Năm ấy xung quanh Bắc Kinh mất mùa to: không có chim sẻ nên các loài sâu tha hồ nở rộ. Thiên nhiên cho ông Mao 1 cái tát vì sự ngu dốt! b) Luyện gang thép. Ông Mao quyết tâm vượt Mỹ và LX về sản lượng gang thép bèn phát động phong trào "toàn dân làm gang thép". Thế là trên khắp đất nước TQ hàng triệu lò luyện gang thép mọc lên, ngày đêm tỏa khói nghi ngút khắp các chân núi, bờ ruộng...bộ đội, công an, giáo viên, học sinh, sinh viên đều hăng say luyện gang thép bằng đủ các loại phế liệu. Kết quả: cân lên thì vượt Mỹ và LX thật, nhưng sản phẩm chẳng ra gang cũng chẳng phải thép, chẳng dùng vào việc gì được, tốn hàng trăm triệu ngày công của nhân dân! Kế hoạch "Đại nhảy vọt" của ông Mao thất bại thảm hại. Hậu quả là mất uy tín, phải nhường chức Chủ tịch nước cho Lưu Thiếu Kỳ. 3) Tối 30 Tết Bác Hồ đột nhiên bảo bộ phận phục vụ: "Chuẩn bị xe cho Bác đi chúc Tết nhân dân!". Bác vào chúc Tết bà con trong tập thể Nhà máy cao su Sao Vàng. Vào đến ngõ thì xe dừng. Bác đi bộ vào ngõ. Ngõ ngập nước. Cán bộ phường vội chạy lên trước rải gạch và bắc ván cho Bác đi. Nhưng Bác thản nhiên xắn quần lội tùm tũm, không chịu đi trên ván (Bác đi dép cao-su mà không đi tất). Các chú đi sau Bác đành cứ để giày thế mà lội theo! (Lúc về thì Bác chỉ cần rửa chân bằng nước sạch là xong, nhưng các chú kia thì ???). 4) Bác có đôi dép cao su. Thấy dép Bác đã cũ quá rồi, bộ phận phục vụ làm 1 đôi dép khác giống hệt đôi dép của Bác rồi nhân lúc Bộ Chính trị họp (phải bỏ giày dép ở ngoài) thì bác Vũ Kỳ lén tráo dép của Bác. Họp xong Bác ra xỏ chân vào dép rồi bảo: "Ơ...không phải dép Bác!". Bác Vũ Kỳ vội nói: "Phải đấy, đúng dép Bác rồi đấy!". Bác bảo: "Các chú trả dép cho Bác đi!". Bác Vũ Kỳ cứ "ngoan cố" khẳng định đây là dép Bác, thế là Bác ...đi chân đất về! Các chú sợ quá, phải trả đôi dép cũ cho Bác. 5) Năm 1946. Ngoài Bắc thì quân Tưởng, trong Nam thì quân Pháp. Bác đau đầu tìm cách gỡ rối. Nhà thơ Tố Hữu hỏi Bác: "Thưa Bác, quân Tưởng đáng sợ hơn hay quân Pháp đáng sợ hơn ạ?". Bác nửa đùa nửa thật: "Tưởng không đáng sợ, Pháp cũng không đáng sợ!" và chỉ vào Tố Hữu nói tiếp: "Đáng sợ nhất chính là các chú đấy!". |
"Đáng sợ nhất chính là các chú đấy!".
Chả biết có phải cụ Hồ nói như thế thật không song câu này thì quá đúng. Đáng sợ thật đấy, các chú ạ. Hê hê, NNN có một chú cũng đáng sợ lắm ợ: Hổ già. Đáng sợ thế nào, hồi sau sẽ rõ. |
Về câu này của Bác thì có thể tin được là Bác đã nói thế vì chuyện này là do cụ Hà Huy Giáp đáng kính kể. Bọn cháu không dám bình luận gì về CÁC CHÚ của Bác, nhưng cháu chưa thấy chú Old Tiger trên NNN có gì đáng sợ cả. Hay là...hồi sau mới rõ?
|
Kể tiếp cho các bạn cùng lứa vài câu chuyện nhỏ về Bác Hồ:
1) Năm 1948 tại Đại hội Liên-Việt (hiểu nôm na là như Quốc hội bây giờ) các đại biểu đề nghị Bác lấy vợ. Bác đồng ý, nhưng ra 2 điều kiện: a) Phải đẹp. Các đại biểu ồ lên, ý là "Nhất trí!"; b) Phải thay Bác làm những công việc của Bác khi Bác mệt, cần nghỉ ngơi. Các đại biểu bí: tìm đâu ra một bà giỏi như Bác bây giờ? 2) Năm 1948 Bác Hồ phong quân hàm cho các tướng đợt đầu tiên. Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng, còn lại là 11 Thiếu tướng. Tướng Nguyễn Sơn từng chinh chiến trong hàng ngũ Hồng Quân Trung Hoa nhiều năm nói với Bác: "Tôi đã từng chỉ huy cả quân đoàn bộ đội TQ, sao Bác chỉ phong cho tôi Thiếu tướng?". Bác cười: "Ừ thôi được, chú không đồng ý làm Thiếu tướng thì Bác phong chú làm Thừa tướng nhé?" (Hồi xưa Thừa tướng tương đương với Thủ tướng bây giờ, nhưng Bác chơi chữ, Thừa tướng còn có nghĩa là tướng...thừa - tức là...cho ngồi chơi xơi nước bây giờ!). 3) Có phóng viên nước ngoài hỏi Bác: "Ông Giáp chưa qua một Trường quân sự nào, sao Chủ tịch lại phong cho ông ấy cấp bậc Đại tướng?". Bác trả lời: "Trong quân đội chúng tôi thế này: đánh thắng tướng cấp nào thì phong tướng cấp ấy. Ông Giáp tuy chưa qua Trường quân sự nào, nhưng ông ấy đánh bại mấy Đại tướng của Pháp rồi, thế thì phong Đại tướng còn là khiêm tốn đấy!". |
Tướng Nguyễn Sơn chưa từng chỉ huy cả quân đoàn hồng quân công nông Trung quốc bao giờ cả, do vậy ông ấy không thể nói như vậy với Hồ chủ tịch - người có quan hệ tốt với ban lãnh đạo TQ lúc bấy giờ nên hẳn biết rõ lúc ở TQ tướng Nguyễn Sơn làm gì. Bản thân tướng Nguyễn Sơn là một người khá trực tính nên hẳn không có thái độ tị nạnh như vậy. Để tôi sẽ hỏi lại các con của tướng Nguyễn Sơn về giai thoại này nhé. Bạn có kể những điều gì trên 4R thì cũng nên cân nhắc kỹ.
|
Kính gửi chú ngbinhdi! Vâng, cháu xin nhận lỗi. Thật ra thì đây chỉ là những giai thoại mà cháu nghe được từ những người bạn của bố cháu kể, có thể là các bác các chú ấy không quan tâm lắm đến sự thật là thế nào và cụ thể người nói là ai, cái chính là họ lấy làm tâm đắc về việc chơi chữ của Bác Hồ thôi (mà chưa chắc đã là có chuyện này). Cháu không hề có ý định xúc phạm tướng Nguyễn Sơn, quả thật là cháu đã thiếu thận trọng. Cháu kính đề nghị BQT xóa bài này của cháu đi ạ. Cháu xin rút kinh nghiệm là từ giờ không nhắc đến một nhân vật cụ thể nào nữa ạ. Một lần nữa cháu xin cám ơn chú ngbinhdi.
|
Kính đề nghị chị Nina xóa giúp em đoạn về tướng Nguyễn Sơn. Xin cám ơn chị.
|
Trích:
|
Cám ơn P.T.A.H_89, nhưng dùng từ gì mà nghe hãi thế? Khiếp, "kinh nghiệm xương máu" nghe...nghiêm trọng quá đi mất!
|
Trích:
Trích:
Bạn chỉ cần rút kinh nghiệm thôi, không cần phải xóa cái gì cả, cũng nên để đó để các thành viên khác của 4R rút kinh nghiệm, có trách nhiệm hơn với bài viết, trước là để rèn luyện mình về cách trao đổi, sau là để tôn trọng người đọc. Chúng ta thảy đều là người, và do đó đều có thể có sai, quan trọng là ta biết phục thiện và biết rút kinh nghiệm. Con người đã trở thành khổng lồ chính là nhờ hoạt động rút kinh nghiệm không ngừng trong suốt quá trình phát triển của loài người đấy. |
Trích:
:emoticon-0100-smile |
Tôi đã đọc kỹ những bài viết của bạn linhami về chiến tranh trong mục này. Đáng khen, thậm chí là rất đáng khen đối với một bạn trẻ (mà lại là nữ!) đã dày công tìm tòi tài liệu và viết lên phục vụ công chúng trên forum. Thế hệ chúng tôi không lạ gì chiến tranh, riêng tôi thì trong 4 năm (1965-1967 và 1972) đã trải qua không biết bao nhiêu là trận bom, quê tôi chi chít hố bom - hố bom chồng lên hố bom, tôi đã không ít lần chứng kiến cảnh người chết vì bom đạn và bản thân tôi cũng vài lần bị Thần chết sờ tai. Các bạn trẻ ngày nay quá may mắn khi được sống dưới bầu trời hòa bình chứ không phải như chúng tôi ngày trước - thỉnh thoảng lớp lại vắng vĩnh viễn một bạn vì trận bom chiều hôm trước và trong lòng không khỏi tự thầm hỏi: bao giờ thì đến lượt mình? Có thể các bạn ngạc nhiên: tôi thi đại học dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu (chúng tôi nhận giấy thông báo đi thi đại học phải đem theo gạo, muối v.v...nhưng nhất thiết phải có 1 cây đèn dầu). Thi Toán từ 4 giờ sáng, đến 7 giờ sáng nộp bài, chiều thi Lý từ 5 giờ chiều đến 8 giờ tối, sáng hôm sau lại thi Hóa từ 4 giờ sáng đến 7 giờ. Phải thi thế để tránh máy bay Mỹ oanh tạc. Tất nhiên là mỗi người phải có 1 cây đèn dầu để trên bàn trước mặt. Giấy thi đen sì, còn lẫn những cọng nứa. Đề thi chung toàn miền Bắc, mỗi tỉnh thành lập một điểm thi ở nơi an toàn nhất trong tỉnh. Tôi không biết các tỉnh khác thi từ mấy giờ đến mấy giờ, nhưng ở tỉnh tôi là thế (dạo ấy làm gì có điện thoại mà sợ lộ đề - chỉ cần có công an gác không cho ai ra vào là yên tâm không thể lộ được!).
Tôi hơi lạc đề. Nhưng tôi muốn nói vài câu thế để các bạn trẻ thấy rằng các bạn may mắn hơn chúng tôi nhiều lắm, điều kiện học hành của các bạn thuận lợi vô cùng. Vì thế nếu các bạn mà không cố gắng học thì phí, phí quá! Còn bạn linhami thì đáng khen rồi, nhưng...À mà không, không có gì đâu, tôi quên mất rằng bây giờ được phép nói ra sự thật lịch sử mà không ngại. Nhưng dù sao thì lịch sử luôn gắn liền với chính trị nên tôi vẫn muốn khuyên bạn hãy thận trọng. Ai thì không biết, nhưng tôi thì tôi không bao giờ dám viết câu "trận ấy ta thua", mặc dù sự thật đúng là như thế. |
Cháu xin kính chào bác vidinhdhkt ạ. Cháu thấy lời khuyên của bác rất chí lý ạ. Cháu sẽ không viết về chiến tranh và lịch sử nữa.
|
Cháu linhami này, hình như cháu chưa hiểu đúng ý của bác. Ý của bác là thế này: cháu thích tìm hiểu về chiến tranh, lịch sử, chính trị thì cứ tìm hiểu chứ, tại sao lại không? Và cứ viết ra cho mọi người cùng đọc - có phải ai cũng có thời gian và điều kiện để tìm hiểu đâu! Đảm bảo mọi người sẽ rất thích thú. Ý của bác là: hoặc là cháu chỉ cho mọi người biết chỗ mà đọc, hoặc là cháu dịch các bài viết hay của các tác giả khác (và nói rõ là dịch + xuất xứ của tài liệu gốc), còn một khi đã viết bằng lời của mình - tức là mình đang thể hiện quan điểm của mình THÌ PHẢI CẨN THẬN. Bác đơn cử 1 ví dụ: Có thể viết "Lê Đức Thọ", có thể viết "Ông Lê Đức Thọ", có thể viết "Đồng chí Lê Đức Thọ" - đấy là 3 cách viết khác nhau mà dựa vào đó những người đọc có thể cảm nhận được thái độ chính trị của người viết bài. Đối với phần lớn người đọc thì người ta không quan tâm lắm đến thái độ chính trị của người viết - người ta thấy rằng cả 3 cách viết ấy đều là để chỉ một nhân vật lịch sử trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, thế thôi. Nhưng bác khuyên cháu chân thành: tốt nhất là khi viết về các nhân vật lãnh đạo của ta thì cháu nên cho chữ "đ/c" đằng trước cho nó lành cháu ạ - gõ phím 3 lần thì có gì là khó đâu cơ chứ! Còn Johnson, Nixon, Kissinger, Thiệu thì không cần thêm "tên", "thằng" làm gì. Thế nhé, có gì thì bác cháu mình trao đổi riêng kẻo các chú các cô trong BQT lại nhắc nhở bác cháu mình bây giờ đấy!
|
Thật ra thì Nina muốn nói với bạn linhami thế này - đọc nhiều tài liệu là rất quý, nhưng phải cân nhắc độ tin cậy của tài liệu nữa bạn à. Ví dụ, khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, thì wikipedia tiếng Việt không phải là một nguồn đáng tin cậy, chính là vì tính mở của wikipedia, và tính chính trị của thông tin.
Còn ý kiến cá nhân của Nina là khi một ý trong bài viết của mình đã được thành viên khác trả lời thì không nên xóa, sửa ý đó, cho dù còn quyền sửa bài. Vì như thế thì nói chung các người khác khi đọc bài trả lời sẽ không hiểu gì cả, hoặc cảm thấy bài trả lời kia quá ư là vô duyên, thậm chí lố bịch. Tất nhiên đó là ý kiến riêng của Nina, và các thành viên khác hoàn toàn có thể có quan điểm khác. Nhưng Nina cũng thấy - sai sót là chuyện bình thường, chỉ có không làm mới không có sai, do đó chẳng có gì phải xấu hổ khi trong bài viết có sai sót, cũng không cần phải quy kết điều đó thành tội lỗi tày đình. Nếu Nina được người khác chỉ cho sai sót trong kiến thức của bài viết, thì Nina sẽ rất cám ơn. |
Ơ...cái cô bé linhami này đâu rồi nhỉ? Trước đây thấy post bài chăm chỉ lắm cơ mà! Hay là các bác các chú nhận xét rồi thì là tự ái? Nếu thế thì không nên, cháu gái ạ! Xét cho cùng thì các bác sống quá 2/3 đời người rồi, cần gì nữa đâu, nếu các bác các chú góp ý thì chỉ có 1 mục đích duy nhất là sao cho đời cháu tốt hơn thôi!
|
Không hiểu vì lý do gì mà cô bạn linhami không viết tiếp mục này nữa. Tôi thấy đây là một mục rất hay nên viết vài dòng tiếp vào mạch này để các bạn trẻ hiểu thêm về cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta.
Như chúng ta đã biết, Hiệp định Geneve (20.7.1954) tạm thời chia nước ta ra làm 2 miền và quy định 2 năm sau (20.7.1956) sẽ tiến hành Tổng tuyển cử trên cả nước. Chúng ta nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định, nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm thì đã có ý đồ ngăn chặn Tổng tuyển cử vì chúng nhận định: "nếu tiến hành Tổng tuyển cử tự do thì ít nhất 80% dân chúng sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh". Sau khi dùng vũ lực tiêu diệt các lực lượng vũ trang chống đối (Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo) thì Ngô Đình Diệm tiến hành đàn áp những người kháng chiến cũ (những người đã tham gia kháng chiến chống Pháp), chụp cho họ cái mũ "cộng sản" mặc dù không phải tất cả những người tham gia kháng chiến chống Pháp đều là cộng sản. Ta chủ trương đấu tranh chính trị (biểu tình phản đối trong khuôn khổ luật pháp), nhưng Diệm thẳng tay đàn áp. Con giun xéo lắm cũng quằn - nhân dân miền Nam buộc phải đứng lên cầm vũ khí, dùng vũ lực để đáp trả vũ lực. Khởi điểm là phong trào đồng khởi (phá tề, diệt ác ôn) ở Bến Tre năm 1960 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đ/c Nguyễn Thị Định. Noi gương Bến Tre, nhiều địa phương khác cũng đứng lên. 20.12.1960 Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời để lãnh đạo phong trào nổi dậy của nhân dân miền Nam. Từ tháng 5.1959 miền Bắc bắt đầu chi viện cho miền Nam bằng cách thành lập Đoàn 559 mở đường Trường Sơn để đưa vũ khí vào cho các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam. Lúc đầu chỉ là những con đường mòn, phương chuyện vận chuyển thô sơ, nhưng càng về sau quy mô con đường càng lớn dần. Cuối năm 1961 chưa cần sự can thiệp của miền Bắc thì chính quyền Ngô Đình Diệm đã đứng trước nguy cơ sụp đổ vì đây là một chính quyền độc tài kiểu gia đình trị bị tất cả các lục lượng chính trị chống đối. Mỹ đã khuyên Diệm nên ổn định chính quyền bằng cách dân chủ hơn (theo hình mẫu phương Tây) thì mới có thể chống lại mặt trận DTGPMNVN một cách hữu hiệu, nhưng Diệm không nghe. Mỹ muốn gạt bỏ Diệm từ thời điểm đó, nhưng vì chưa tìm được con bài nào khả dĩ tỏ ra xứng đáng nên đành cố giúp Diệm vì tình hình đã khá nguy cấp. Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt: đưa cố vấn ào ạt vào miền Nam, đổ thêm nhiều vũ khí hiện đại trang bị cho quân đội của Diệm, dạy quân ngụy cách đánh trận theo kiểu hiện đại. Khó khăn lớn nhất mà Mỹ-Diệm gây cho ta là chiến thuật "trực thăng vận": khi phát hiện được ta ở đâu là phi công Mỹ lái máy bay chở quân Diệm đến nhanh chóng bao vây tấn công. Ta hành quân bằng đôi chân, địch có trực thăng cơ động hơn hẳn nên ta buộc phải ngừng các trận đánh lớn, chỉ tiến hành các trận đánh quy mô nhỏ trong khi nghiền ngẫm cách phá chiến thuật "trực thăng vận" lợi hại của địch. |
Ngày 2.1.1963 Quân giải phóng miền Nam thắng trận rực rỡ tại Ấp Bắc (đồng bằng sông Cửu Long). Đây là một trận thử nghiệm của ta, và thử nghiệm đã thành công mỹ mãn.
Trong suốt năm 1962 ta không tiến hành đánh lớn - vì đánh lớn là mắc mưu địch: chúng cơ động hơn, có thể trong một thời gian ngắn điều động một số quân lớn để tạo ưu thế vượt trội về quân số (chưa kể ưu thế tuyệt đối về không quân và pháo binh). Mỹ-Diệm chỉ còn phải đối phó với những trận đánh nhỏ và lẻ tẻ của ta, kết quả là từ thế nguy ngập cuối năm 1961 thì đến cuối năm 1962 chúng đã có ưu thế hơn hẳn ta. Ta quyết định đánh một trận "hoành tráng" để hạ uy thế của địch, tạo đà cho ta đi lên. Tại Ấp Bắc ta có tiểu đoàn 514 với 550 chiến sĩ, nhưng bằng cách tung tin giả ta đã làm cho địch mắc lừa khiến chúng tưởng rằng ta chỉ có 1 đại đội chừng hơn 100 người. Địch tung trung đoàn 11 của sư đoàn 7 vào trận. Trước tiên địch dùng máy bay ném bom đánh phá, nhưng ta đã chuẩn bị sẵn công sự kiên cố nên không bị thiệt hại. Rồi địch dùng trực thăng đổ quân kết hợp với xe bọc thép lội nước M113 bao vây tấn công. Địch vẫn cho rằng ta chẳng có gì "đỡ" được trực thăng và xe bọc thép nên rất ngông nghênh, chủ quan. Chúng có ngờ đâu đây là tiểu đoàn Quân giải phóng được trang bị vũ khí mới toanh từ miền Bắc đưa vào: bazooka và súng không giật SKZ, các loại súng phòng không 12,7 và 14,5 mm. Các loại vũ khí này thừa sức "trị" xe bọc thép và trực thăng. Địch thiệt hại nặng: một số trực thăng bị bắn rơi, xe bọc thép bị bắn cháy, địch chết và bị thương hơn 400 (trong đó có 3 cố vấn Mỹ chết), ta hy sinh có 9 người [số liệu của Mỹ-Diệm], tất cả tiểu đoàn rút lui an toàn. Địch choáng váng, hoang mang: con át chủ bài "trực thăng + xe bọc thép" bị đánh gục. Tinh thần quân ta lên cao, toàn miền Nam phát động phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công". Phong trào lại lên, ta dần dần lấy lại thế quân bình. Địch bắt đầu phải thận trọng hơn, quân địch ra trận không còn hung hăng như trước. Tháng 5.1963 nổ ra phong trào đấu tranh của các sư sãi đòi tự do dân chủ. Diệm thẳng tay đàn áp các sư sãi. Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngay trên đường phố Sài Gòn, nhưng Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu - em dâu của Diệm, nghị sĩ Quốc hội và là chủ tịch "Tổ chức phụ nữ Việt Nam") tuyên bố với các phóng viên nước ngoài: "Chúng tôi đâu có ngán! Mấy thằng trọc đó thích tự chiên giòn thì tôi vỗ tay hoan hô!". Sự đàn áp của chính quyền Diệm khiến cả thế giới nổi giận - nhất là các nước theo đạo Phật. Chưa kể dân Mỹ cũng thấy chính quyền Diệm chẳng có tí tự do dân chủ nào, bắt đầu phản đối chính quyền Kennedy ủng hộ Diệm. Đã thế anh em nhà Diệm-Nhu luôn tỏ ra bất trị, chỉ có biết đàn áp và đàn áp và thậm chí có những biện pháp đề phòng Mỹ. Mỹ không thể o bế một chế độ bị cả thế giới lên án được nữa, Mỹ bật đèn xanh cho các tướng ngụy làm đảo chính lật Diệm trong khi bề ngoài làm ra vẻ khách quan không can thiệp vào chuyện nội bộ của Nam Việt Nam. Ngày 1.11.1963 cuộc đảo chính nổ ra. Diệm-Nhu trốn khỏi dinh Gia Long. Sau khi nhận được lời hứa của "Hội đồng quân nhân cách mạng" là sẽ bảo toàn sinh mạng và cho đi lưu vong ở nước ngoài thì Diệm-Nhu khai ra mình đang ở đâu. "Hội đồng" cho xe bọc thép đến đón anh em Diệm-Nhu, nhưng Diệm-Nhu bị bắn chết trong xe trên đường về. Sĩ quan đi đón Diệm-Nhu (thiếu tá Nhung) bị xử tử để bịt đầu mối, do đó đến bây giờ lịch sử vẫn chưa xác định được ai là người đã ra lệnh thủ tiêu anh em Diệm-Nhu. Nghi vấn rơi vào những người cầm đầu cuộc đảo chính (Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh), nhưng không ai trong số họ chịu nhận trách nhiệm. |
Diệm bị lật đổ, nhưng ngay sau đó những người lãnh đạo của cái gọi là "Hội đồng quân nhân cách mạng" quay ra cắn xé nhau. Liên tục những cuộc đảo chính và phản đảo chính. Mỹ không ủng hộ ai nhưng chăm chú theo dõi tình hình. Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ là 2 cái tên được Mỹ đánh giá là có triển vọng, nhưng tạm thời Thiệu và Kỳ chưa đủ tầm để cạnh tranh với Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và Nguyễn Khánh.
Sau vài tháng lục đục thì Nguyễn Khánh thắng thế, trở thành "Quốc trưởng". Tranh thủ tầng lớp chóp bu của địch mải đấu đá nhau, ta đã mở rộng được đáng kể vùng giải phóng và đến cuối năm 1964 thì tình hình trở nên nguy ngập đối với chính phủ Sài Gòn. Thấy rõ là quân đội Sài Gòn không thể đối phó nổi với Quân giải phóng, Mỹ quyết định đổ quân vào miền Nam trực tiếp tham chiến. Tháng 3 năm 1965 những đơn vị đầu tiên của Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng và số binh lính Mỹ tăng lên nhanh chóng - đến đầu năm 1966 thì lực lượng Mỹ ở Nam Việt Nam đã lên đến 430.000 quân. Khi đổ quân vào Việt Nam thì các tướng lĩnh Mỹ rất lạc quan, cho rằng quân đội Sài Gòn không đủ mạnh, chứ với lực lượng hùng hậu (tỉ lệ 4 chọi 1) cộng với ưu thế tuyệt đối về hỏa lực thì Mỹ sẽ nhanh chóng đè bẹp Quân giải phóng. Ý đồ của Mỹ là mở những chiến dịch lớn bao vây từng vùng rồi tiêu diệt gọn đối phương. Đầu năm 1966 Mỹ tung 80.000 quân tấn công đối tượng mà Mỹ cho là "dễ xơi": sư đoàn 9 Quân giải phóng tại Chiến khu C (Tây Ninh) [Mỹ biết ở Tây nguyên ta có bộ đội chủ lực quân miền Bắc, nhưng Mỹ thử gặm đối tượng "mềm hơn" là Quân giải phóng trước]. Mỹ rầm rộ ra quân, nhưng kết quả là chẳng thu được gì: sư đoàn 9 chủ lực của Quân giải phóng như tan biến mất không để lại dấu vết, Mỹ gặp phải sự chống cự dai dẳng của du kích - những trận đánh tiêu hao gây mệt mỏi cho quân Mỹ. Bực mình, Mỹ ném bom tan hoang vùng "Tam giác sắt" Củ Chi và đưa sư đoàn 25 của Mỹ đến lập căn cứ ngay tại Củ Chi. Lính Mỹ cứ chết liên tục bởi những loạt đạn chẳng biết từ đâu. Mãi sau Mỹ mới kinh hoàng phát hiện ra: du kích nằm ngay bên dưới căn cứ Mỹ - trong những địa đạo. Mỹ tiến hành phá địa đạo, nhưng kết quả thu được chẳng mấy khả quan. Mỹ không thể ngờ đến quy mô to lớn của địa đạo Củ Chi: hơn 300 km chằng chịt (điều này sau chiến tranh Mỹ mới biết). Mỹ liên tiếp tung ra mấy chiến dịch lớn: Attenboro, Junction City, nhưng không thể vồ được quân chủ lực của đối phương. Mỹ muốn ta ra mặt đối đầu với Mỹ bằng lực lượng lớn, đánh nhau theo kiểu chiến tranh quy ước để Mỹ tiêu diệt bằng hỏa lực của không quân chứ không phải bằng bộ binh xung trận. Ta biết rõ điểm mạnh của Mỹ nên khôn ngoan không đối đầu: Mỹ lùng sục thì ta lẩn tránh, Mỹ lùng sục chán chê sẽ mỏi mệt và chán nản, ta rình lúc Mỹ sơ hở thì đánh bằng lực lượng hạn chế (tối đa cỡ trung đoàn) rồi nhanh chóng rút lui. Suốt 2 năm 1966 và 1967 Mỹ không tài nào "bắt" ta đánh nhau được một trận khiến Mỹ hài lòng. Mỹ bắt đầu mệt mỏi và chán nản: cứ cái kiểu này thì lực lượng đối phương không bị sứt mẻ, trong khi đó thì Mỹ bị đánh quấy rối, cứ tiêu hao dần. Mỹ không biết phải làm thế nào để "được đánh nhau"! |
Từ năm 1965 Thiệu và Kỳ đứng đầu chính quyền Sài Gòn (Thiệu làm Tổng thống, Kỳ làm Thủ tướng). Mỹ tương đối yên tâm hơn về tầng lớp chóp bu vì đây là những tướng tương đối trẻ, gắn bó mật thiết với Mỹ và không thân Pháp như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn trước đó.
Trên chiến trường thì gánh nặng đánh nhau với Quân giải phóng vẫn do Mỹ đảm nhiệm vì quân ngụy tuy đông nhưng khả năng chiến đấu kém, chủ yếu chỉ có nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho những vùng còn giữ được. Mỹ cố tăng quân để đảm bảo ưu thế vượt trội về quân số so với ta. Nhưng bộ đội miền Bắc cũng tiếp tục vào Nam chiến đấu nên vào thời điểm quân Mỹ đông nhất (544.000 tên) thì Mỹ cũng chỉ đạt được tỉ lệ 3 chọi 1 về quân số. Nhưng điều khiến các tướng lĩnh Mỹ bực bội và ngán ngẩm nhất là thế chủ động luôn thuộc về ta: Mỹ luôn phải căng thẳng chờ xem ta đánh ở đâu để mà đỡ, những lúc Mỹ chủ động tấn công thì ta luôn biết trước và tránh được. Thời gian ấy đã có tờ báo Mỹ vẽ biếm họa mô tả rất đúng tình hình quân Mỹ ở Nam Việt Nam: một võ sĩ đấm bốc lực lưỡng đấm nhau với một con ong vò vẽ - võ sĩ đấm mãi chẳng trúng được con ong, trong khi đó thì con ong cứ liên tục đốt cho võ sĩ mặt mày sưng vù! Đầu năm 1968 ta mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu thân. Tuy không giành được thắng lợi trọn vẹn trên chiến trường và cũng bị tổn thất, nhưng cuộc tổng tấn công dịp Tết Mậu thân lại mở ra một bước ngoặt mới cho cuộc chiến tranh. Trước đó chính quyền Giôn-xơn luôn bưng bít sự thật, trấn an dân Mỹ rằng tình hình Nam Việt Nam rất khả quan, đối phương chỉ là một phong trào du kích yếu ớt, chính phủ Gài Gòn gần như ổn định được tình hình rồi và chẳng mấy chốc nữa quân Mỹ sẽ được về nhà. Nhưng khi những thước phim về các trận đánh dịp Tết Mậu thân được chiếu trên màn ảnh truyền hình khắp thế giới thì dân Mỹ hiểu ra: đối phương không hề yếu (yếu mà lại cùng một lúc tấn công 44 thành phố và thị xã khắp miền Nam?) mà ngược lại - đối phương rất mạnh. Những cảnh quân Mỹ co cụm phòng thủ, Đại sứ quán Mỹ bị tấn công, những trận đánh xảy ra ngay trong khuôn viên Đại sứ quán, cảnh quân Mỹ chết và bị thương la liệt khiến cho dân Mỹ bị sốc. Dân Mỹ hiểu: đây là cuộc chiến tranh quy mô lớn, đối phương rất mạnh (đánh nhau ngang ngửa với nửa triệu quân Mỹ lại công thêm gần triệu quân Sài Gòn), chiến tranh sẽ còn kéo dài và ác liệt, quân Mỹ sẽ còn chết nhiều (đầu năm 1968 số quân Mỹ chết ở Việt Nam đã hơn 33.000 - tức là vượt số lính Mỹ chết trong chiến tranh Triều tiên) và điều quan trọng nhất là: Mỹ sẽ không thể thắng được. Cuộc tổng tấn công Tết Mậu thân của ta đã xóa nốt hy vọng mong manh cuối cùng của giới lãnh đạo Mỹ rằng nếu cố chút nữa thì có thể thắng. Mỹ buộc phải tìm lối thoát. Mỹ xuống thang, 31.3.1968 Mỹ tuyên bố đơn phương ngừng ném bom trên phần lớn lãnh thổ miền Bắc (chỉ đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở vào) và đề nghị ta ngồi vào bàn đàm phán tìm cách kết thúc chiến tranh. Ta cũng hiểu ra một điều: Mỹ còn ở lại miền Nam thì rất khó cho ta có thể đánh bay cả Mỹ lẫn ngụy. Phải làm thế nào cho Mỹ rút đã, Mỹ rút rồi thì ta sẽ "giải quyết" ngụy sau. Ta chấp nhận đàm phán. |
Ta đề nghị địa điểm là Varszava (Ba Lan). Mỹ không đồng ý, lấy lý do đây là nước cộng sản. Ta đề nghị Pa-ri. Mỹ chẳng có lý do gì để phản đối nữa.
Tháng 5.1968 Hội nghị Pa-ri về Việt Nam bắt đầu. Nhưng ngay từ đầu Hội nghị đã đi vào ngõ cụt vì Mỹ khăng khăng đòi "cùng rút quân": quân Mỹ và quân Bắc Việt Nam phải cùng rút khỏi Nam Việt Nam. Ta nhất định không chịu. Lý lẽ của ta là: "Các ông là những kẻ xâm lược. Các ông phải rút! Còn chúng tôi không bao giờ rút - người Việt Nam có quyền đi bất cứ đâu trên lãnh thổ Việt Nam để chống quân xâm lược!". Hơn 4 năm trời Mỹ xoay đủ mọi cách, sẵn sàng nhượng bộ nhiều điều để đạt được điều khoản "cùng rút quân", nhưng lập trường của ta không thay đổi: bàn gì cũng có thể bàn, nhưng kiên quyết không bàn về việc quân đội miền Bắc rút ra khỏi miền Nam! Tất nhiên, trong điều kiện như thế thì mọi việc phải được giải quyết trên chiến trường. Ta biết ta có một điểm mạnh hơn hẳn so với Mỹ: thời gian ủng hộ chúng ta. Và ta nói thẳng điều này cho Mỹ biết để Mỹ nhụt chí. Rõ ràng: cuộc chiến đấu của chúng ta là chính nghĩa, ta ở trên đất của ta, ta sẵn sàng chiến đấu "10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa" (lời Bác Hồ). Đó cũng chính là điểm yếu nhất của Mỹ: người Mỹ luôn cho rằng họ có trách nhiệm cai quản thế giới, bắt người khác phải thế này hoặc thế kia, nếu trái ý Mỹ là Mỹ dùng vũ lực; khi mọi việc xuôi chèo mát mái (Mỹ đè được người khác) thì dân Mỹ chả có ý kiến gì, cho rằng chính phủ mình đúng, nhưng nếu bị ăn đòn đau thì dân Mỹ bắt đầu lên tiếng (khi Mỹ đánh Grenada hay I-rắc thử hỏi dân Mỹ có biểu tình phản đối chiến tranh không?). Ta biết Mỹ đang rất sốt ruột muốn rút khỏi Việt Nam vì: 1- Mỹ biết rằng Mỹ không thể thắng; 2- dân Mỹ phản đối rầm rộ, đòi rút quân vì Mỹ đã chết quá nhiều. Cho nên ta kiên trì đường lối: không nóng vội, đánh chậm, đánh nhỏ mà chắc thắng, không đánh lớn. Mỹ không còn cách nào khác là...tự rút quân dần dần theo kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh: rút dần quân Mỹ song song với việc xây dựng quân đội Sài Gòn thành một quân đội mạnh có thể thay Mỹ chiến đấu. Trong 2 năm 1969-1970 ta tiếp tục đánh nhỏ (không đánh lớn khiến Mỹ lo ngại mà có thể tạm dừng việc rút quân - cứ từ từ cho nó rút đã) và ra sức củng cố hậu cần, rèn quân chuẩn bị đánh lớn. Năm 1971 quân ngụy Sài Gòn đại bại trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (Lam Sơn 719). Ta thấy rõ: quân ngụy đông, trang bị hiện đại nhưng không đáng ngại nếu không có Mỹ. 31.3.1972 (khi Mỹ chỉ còn 32.000 quân ở miền Nam) ta mở chiến dịch Nguyễn Huệ tấn công Quảng Trị. |
Hoan hô bác Vidinhdhkt, bác viết tiếp đi nhé, cảm ơn bác.
Cô bé Linhhami nữa, sao cháu không viết tiếp? những bài của cháu cũng rất hay, cháu chỉ cần lưu ý những ý kiến của các bác đã góp ý khi viết bài thôi. Thân ái |
Trích:
Nếu cô bé không quay lại thì thật là đáng tiếc! |
Sau trận đại bại tại Đường 9 - Nam Lào (20.000 quân ngụy tấn công sang Lào để cắt đường mòn Hồ Chí Minh của ta thì chết 8.000 và bị thương 4.000, gần 700 máy bay trực thăng bị bắn rơi hoặc hỏng) thì trong năm 1971 địch không mở được chiến dịch lớn nào. Ta tiếp tục tăng cường lực lượng chờ thời cơ để đánh lớn.
Địch biết ta thường đánh lớn vào mùa khô nên cuối năm 1971 địch căng thẳng chờ đợi. Trong cơn căng thẳng, Mỹ huy động không quân đánh phá ác liệt tuyến hậu cần của ta dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh và những nơi địch nghi là có các kho hậu cần của ta tại Tây Nguyên. Sau Tết Nhâm Tý 1972 không thấy ta đánh lớn thì địch thở phào nhẹ nhõm. Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Melvin Laird tuyên bố với báo chí: "Các cuộc oanh tạc của không quân Mỹ đã gây tổn thất nặng nề cho cộng sản, đối phương không thể đánh lớn trong năm nay". Chỉ 4 tuần sau tuyên bố trên (31.3.1972) quân ta cùng một lúc tấn công trên 4 hướng: Tây Ninh, Huế và Quảng Trị ở mức độ lớn kết hợp với Tây Nguyên ở mức độ vừa (mặt trận Quảng Trị: sư 308 và sư 320 của ta tấn công sư 13 bộ binh ngụy, mặt trận Huế: sư 304 và sư 324 của ta tấn công sư 1 bộ binh và lữ đoàn thủy quân lục chiến của địch, mặt trận Tây Ninh: sư 5, sư 7 và sư 9 của ta tấn công gây áp lực lên Sài Gòn do sư 5, sư 18 và sư 25 địch trấn giữ). Địch hoang mang, không biết đâu là hướng tấn công chính của ta, cuối cùng chúng cho rằng hướng Tây Ninh là hướng chính của ta vì gần Sài Gòn mà ta lại tập trung những 3 sư đoàn, bèn dồn quân phòng thủ. Địch đã mắc lừa: mục đích của ta là giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị để nối thông với Tây Nguyên, rút ngắn đường vận chuyển lương thực và vũ khí vào miền Nam vì không phải đi vòng qua Lào nữa. Kết quả chiến dịch Nguyễn Huệ là ta đã đạt được mục tiêu đề ra: giải phóng hoàn toàn và vĩnh viễn tỉnh Quảng Trị (trừ thị xã Quảng Trị bị địch chiếm lại vào tháng 9 - thực ra khi toàn tỉnh đã nằm trong tay ta thì một thị xã đổ nát không có ý nghĩa quan trọng, nhưng vì địch cay cú bằng mọi giá tái chiếm thị xã để chứng minh rằng ta chưa chiếm được tỉnh Quảng Trị nên ta cố giữ để thu hút địch nhằm tạo thế trận cho những chiến dịch tiếp theo - kết quả là địch lại mắc lừa: trong khi địch tập trung sức để tái chiếm thị xã Quảng Trị thì ta thoải mái vận chuyển trang thiết bị quân sự vào Tây nguyên và thậm chí xuống tận Đông Nam bộ, kết hợp với việc giải phóng tiếp một số vùng mà ở đó lực lượng địch tương đối mỏng). |
Trong 3 tháng cuối năm 1972 tình hình chiến sự miền Nam tương đối yên tĩnh. Địch đang căng thẳng chờ kết quả Mỹ sẽ đánh miền Bắc bằng B-52 như đã hứa ra sao và Hội nghị Pa-ri sẽ đi về đâu (vì Mỹ đàm phán với ta, ngụy chỉ cầu rìa, tiếng nói của Sài Gòn không được Mỹ coi trọng), ta thì tiếp tục triển khai quân.
Rồi Mỹ đánh miền Bắc bằng B-52 như đã hứa với Thiệu để đối lấy thái độ mềm hơn của Thiệu. Thiệu đồng ý ký Hiệp định Pa-ri. 29.3.1973 những lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Nam Việt Nam. Trong suốt 2 năm 1973 và 1974 hai bên cùng tích cực triển khai kế hoạch của mình. Ta - chuẩn bị tấn công, địch - tăng cường phòng thủ. Riêng điều đó cũng cho thấy địch không còn khả năng tấn công ta nữa. Đầu năm 1975 ta tấn công tỉnh Phước Long cách Sài Gòn 80 cây số về phía bắc. Ngày 6.1.1975 ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Địch phản kích yếu ớt rồi chấp nhận mất tỉnh Phước Long. Mỹ lên án "VC vi phạm Hiệp định" và...chấm hết. Ta hiểu: Mỹ sẽ không quay lại cứu ngụy, còn ngụy thì đã ở vào thế "lực bất tòng tâm". Ta quyết định tấn công địa bàn chiến lược quan trọng là Tây Nguyên. Nếu chiếm được Tây Nguyên thì ta sẽ có ưu thế chiến lược, còn địch - hoàn toàn bất lợi: ta có thể phát triển xuống đồng bằng ven biển miền Trung để cắt đôi miền Nam, đặt quân địch ở Huế và Đà Nẵng vào thế bị bao vây hoặc phát triển xuống hướng nam cùng với lực lượng ta ở chiến khu C (Tây Ninh) và Phước Long vừa giải phóng xong tạo thành 3 mũi uy hiếp Sài Gòn từ 3 phía. |
Đòn chiến lược của ta là nhằm vào Buôn Mê Thuột - thành phố lớn nhất trên cao nguyên, nơi có đại bản doanh của sư 23 ngụy. Nhưng trước đó ta đánh một số trận và giải phóng một số thị trấn quanh Kon-tum, tổ chức cho đồng bào mít tinh "chào mừng bộ đội về giải phóng Kon-tum". Địch trúng kế, dồn quân lên phòng thủ Kon-tum và Pleiku (phía bắc Kon-tum là tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng giải phóng của ta nối liền với hậu phương lớn miền Bắc nên địch cho rằng ta nhất định sẽ đánh Kon-tum và lấn dần từ phía bắc xuống).
Ta tập trung lực lượng lớn bao vây Buôn Mê Thuột. Địch cũng có ý nghi ngờ nên liên tục cho quân nống ra xung quanh tìm kiếm. Bộ đội ta được lệnh lùi ra xa, không chạm súng để giữ bí mật. Những hướng có rừng cao su bao quanh Buôn Mê Thuột thì địch chủ quan vì cho rằng xe tăng ta vướng rừng cao su sẽ không thể tấn công từ những hướng ấy. Chúng không ngờ rằng bộ đội công binh của ta đã cưa các gốc cây cao su đến 2/3 thân, khi xe tăng xuất kích chỉ cần húc là cây đổ và xe tăng ta vẫn qua được. Tuy nhiên địch vẫn cho xe chuyển quân và đi tuần liên tục dọc đường 14 nối Buôn Mê Thuột với Kon-tum và Pleiku để đề phòng bất trắc. Ta vây xung quanh Buôn Mê Thuột nhưng không cắt đường 14, để địch di chuyển tự do vì nếu cắt đường 14 sớm thì địch sẽ đoán ra ý đồ của ta là đánh Buôn Mê Thuột. Ngay sát giờ tấn công ta mới cắt đường 14, vây kín Buôn Mê Thuột để địch không kịp trở tay. 2 giờ sáng 10.3.1975 ta nổ súng tấn công Buôn Mê Thuột. Sau 27 giờ chiến đấu, đến sáng 11.3 ta với lực lượng vượt trội đã hoàn toàn làm chủ Buôn Mê Thuột, đặt quân địch ở Kon-tum và Pleiku vào thế có thể bị đánh kẹp từ 2 phía: từ Quảng Trị xuống và từ Đắc Lắc lên. Thiệu ra lệnh bỏ Tây Nguyên, rút quân về Tuy Hòa theo đường 7B để bảo toàn lực lượng. Quân địch rút theo con đường cũ đổ nát và khúc khuỷu, ùn tắc hỗn loạn. Ta truy kích quyết liệt, 60.000 quân địch khi rút về đến Tuy Hòa chưa còn chưa đầy 40.000. Chỉ bằng một trận đánh lớn, ta đã hoàn toàn làm chủ Tây Nguyên. Địch bị thiệt hại nặng, nhưng hậu quả đáng sợ hơn đối với địch là ở chỗ: tàn quân địch gieo rắc nỗi khiếp đảm cho toàn bộ hàng ngũ quân đội Sài Gòn: binh lính địch biết rằng lần này sẽ thua hẳn, không thể chống đỡ nổi. Chiếm được Tây Nguyên, ta đặt quân địch ở Huế vào thế có thể bị tấn công cùng một lúc từ 3 phía: bắc, tây và tây-nam. Địch ở Huế rục rịch chuẩn bị rút chạy. Ta tấn công luôn. Địch mất hết tinh thần, bỏ Huế chạy về Đà Nẵng mà không chống cự. |
Các bạn trẻ thân mến!
Đoạn kết của cuộc chiến tranh giải phóng của chúng ta thì các bạn đã biết cả, tôi thiết nghĩ không cần thiết phải kể lại ở đây nữa. Riêng cảm nghĩ của bản thân tôi khi đọc các tài liệu viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta là: NHÂN DÂN TA RẤT ANH HÙNG VÀ RẤT THÔNG MINH, TÔI TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM. Các bạn thử nghĩ xem: 1- Tình hình Triều Tiên cũng na ná như chúng ta, thậm chí họ còn thuận lợi hơn chúng ta vì có biên giới chung với Liên Xô và Trung Quốc, ấy thế mà ta đã làm được cái việc mà họ thuận lợi hơn, nhưng lại không làm được; 2- Các "ông anh" lớn của chúng ta vừa giúp đỡ chúng ta nhưng cũng vừa có những quyền lợi quốc gia của riêng họ, cho nên không phải lúc nào các "ông anh" lớn cũng giúp chúng ta được như chúng ta mong muốn. Chúng ta vừa phải đương đầu với kẻ địch rất hùng mạnh lại vừa phải thật khéo léo trong quan hệ với các "ông anh", thật là khó. Nhưng chúng ta đã làm được. 3- Ngay cả trong việc trực tiếp đương đầu với Mỹ, ta cũng luôn gặp khó: Mỹ luôn đông hơn ta (ít nhất là 3 lần), có ưu thế tuyệt đối về hỏa lực (đặc biệt là về không quân) và tính cơ động - tóm lại là ta luôn ở thế rất bất lợi so với Mỹ. Ấy thế nhưng các bậc tiền bối của chúng ta đã cực kỳ kiên trì, tỉnh táo và khôn khéo đưa cuộc chiến đến kết cục thắng lợi. Về điều này thì chính những người Mỹ thông minh và rất có uy tín cũng phải công nhận. Năm 1973 Ngoại trưởng Mỹ Kissinger sang Việt Nam (tôi không nhớ mục đích cụ thể của chuyến đi - hình như là để hoàn tất một số điều khoản phụ xung quanh việc Mỹ phá thủy lôi ở cảng Hải Phòng [nhân tiện kể luôn: Mỹ gặp khó khăn, lúng túng trong việc phá thủy lôi do chính Mỹ rải quanh cảng Hải Phòng, ta cho ca-nô điều khiển từ xa do tập thể GV ĐHBK HN chế tạo chạy lướt trên mặt nước, chạy qua đâu là thủy lôi Mỹ nổ đến đấy, Mỹ rất khâm phục khi biết rằng cái thiết bị thô sơ ấy là do ta tự chế tạo]), ông ta có nói một câu: "Tôi rất khâm phục người Việt Nam. Người Việt Nam các ông vừa anh hùng, lại vừa rất thông minh. Chứ nếu các ông chỉ anh hùng không thôi thì chúng tôi đã đè bẹp các ông từ lâu rồi!". GS sử học, Trung tướng tình báo Mỹ F. Davidson trong lời giới thiệu cho cuốn "Vietnam at War" xuất bản lần đầu năm 1991 cũng viết đại ý: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc được 15 năm. Là một người trong cuộc (Davidson từng đứng đầu bộ phận tình báo Mỹ ở Sài Gòn), tôi có rất nhiều điều để nói, nhưng tôi im lặng nghiền ngẫm 15 năm nay để trả lời CHO MÌNH một câu hỏi: tại sao Mỹ đã thua ở Việt Nam? Một nước Mỹ hùng mạnh như thế mà lại thua! Có thể có ai đó đưa ra nhiều lý do khác nhau để bảo rằng "Mỹ không thua, chẳng qua là...thế này, thế nọ...", nhưng với tư cách là người trong cuộc, tôi xin khẳng định lại chắc chắn: chúng ta đã thua, điều đó là rõ ràng, không còn gì để bàn cãi! Lý do để tôi khẳng định như vậy rất đơn giản: chúng ta đã không đạt được bất kỳ mục đích nào mà chúng ta đặt ra, còn đối phương đã đạt được tất cả những mục tiêu mà họ đề ra. Cho nên vấn đề ai thắng, ai thua đã rõ ràng. Trong cuốn sách này tôi chỉ tìm cách lý giải cho một vấn đề duy nhất: tại sao chúng ta thua?...". Điều thú vị là trong cuốn sách đó Davidson trình bày khá kỹ về học thuyết chiến tranh nhân dân của ta rồi đánh giá, phân tích...cuối cùng đi đến kết luận: Mỹ không có cách gì thắng được chiến tranh nhân dân, nếu bây giờ Mỹ lại vấp phải một cuộc chiến tranh nhân dân ở đâu đó nữa trên thế giới giống như chiến tranh nhân dân ở Việt Nam thì chắc chắn Mỹ...lại thua! |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:30. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.