![]() |
Trích:
Chữ đó dịch là лагуна Тамзанг bác ạ. (Тамзянг ??) Bác lưu ý: Thời Pháp thì "Bắc Bộ..." được phân định như đơn vị hành chính. Còn thời "ta" thì không đâu. Nêu trong mô tả địa lý còn viết Nam Trung Bộ, thì cũng đồng nghĩa Nam của Miền Trung thôi. Chữ Địa chất Việt Nam mà SM ví dụ là do chính các chuyên gia Nga viết. Trong tiếng Anh cũng vậy, dù là Trung bộ hay Miền Trung VN thì đều dịch gọn là Central Vietnam. Trong tiếng Pháp cũng tương tự. |
В 1306 г, в качестве дарования за брак с принцессой Хуен Чан две провинции О и Ри, принадлежавшие королю Чием, перешли во владение феодальной династии Чан.
------ Bác xem lại chỗ vua Chiêm với, ta gọi là vua Chiêm (Chiêm Thành) nhưng liệu người Nga trong các văn bản lịch sử có gọi là король Чием hay không? |
Em xin góp mấy ý nhỏ (em mới xem đoạn 1, còn đoạn 2 chưa xem kịp ạ). Những chỗ tô tím là chỗ em còn băn khoăn:
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
- Tôi dịch nguyên văn bài tiếng Việt. Tên gọi 2 di tích như các bác nói thì sẽ thêm vào sau, đoạn về văn hóa, vì phần mở đầu có t/c giới thiệu chung, không nên viết cụ thể. - Chân Mây phiên là Чанмаи thì đúng hơn. - Dân số theo số liệu mới chưa rõ, với lại có ghi "kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số" tức là chưa chính thức. - Về Chiêm Thành. Đó là từ chính thức trong tiếng Việt. Theo tôi nhớ, có gọi là nước Chăm Pa (1 loại hoa thì phải), kiễu như ta gọi Lào là đất nước Vạn Tượng, nhưng gọi "Vua Chăm Pa" thì nghe chương chướng thế nào ấy!. Và nguồn bác đưa là Viki tiếng Nga, không là đáng tin cậy (trong quy định của Viki), và họ dịch từ tiếng Anh sang. Theo tôi, sẽ dịch là король Чиемтхань (Чампа). - Dùng перевел резиденцию là chính xác (chuyển cả "bầu đoàn thê tử"). Đôi lúc còn nói перенести резиденцию, nhưng переместить резиденцию thì hầu như ít nghe, nó dùng để chỉ di chuyển nhà máy chẳng hạn. Tôn trọng ý kiến của bác, tôi kiểm tra cụm từ đó trên Яндекс thì có "Западная Римская империя — Википедия В 402 году, спасаясь от нашествия готов, Гонорий перевел резиденцию в Равенну, а c 423 года при Валентиниане III, резиденция императора вновь вернулась в Рим. http://yandex.ru/yandsearch?text=%D0...D1%8E&lr=10313 - окончательно становился là đúng rồi, hợp ngữ cảnh. “стал” hoặc “выбран" nghe "yếu" hơn. - Gia Long - cả 3 phương án Жа Лонг, Зя Лонг hoặc Жиа Лонг đều hay gặp. Nếu theo ý tôi thì sẽ là За Лонг. Ta lấy Зя Лонг cho "an toàn". - Về Mậu Thân. Từ "Тетского наступления" đã có link dẫn sang trang khác về sự kiện đó, không nên đổi cụm từ vì tôi đã xóa cả trang cũ của họ đã là quá lắm rồi nếu "chạy" sang bên kia nữa thì tôi sẽ sa vào tranh luận về chính trị với tác giả 2 trang cùng 1 lúc, "không sống được" bác ạ!. Trang Huế cũ tôi có copi ở đây: http://diendan.nuocnga.net/showpost....&postcount=194 Còn trong trang mới tôi mới đưa phần nhỏ đầu tiên để xem ý tứ các bác trên đó, xóa và làm mới hoàn toàn trong 1 lúc hơi đột ngột. - Bác nói câu này "В 1975-ом году Хюэ сыграл ключевую роль в исходе войны" không rõ ý lắm ạ: việc chiếm được Huế, hay là vị trí địa lý của Huế đóng vai trò then chốt?" là đúng rồi. Tôi viết "chung chung" như vậy vì không muốn tranh luận chính trị. Trong Viki tiếng Việt hoàn toàn không viết gì, tôi thêm 2 dòng để tôn trọng sự kiện, còn cụ thể là việc của các nhà sữ học... - Như bác nói, câu "В 1981 г, после воссоединения южной и северной частей Вьетнама" có thể bị hiểu nhầm. Sửa lại là "6 лет после воссоединения южной и северной частей Вьетнама, в 1981 г..." - Dùng Постановление là đúng hơn Указ trong trường hợp này (còn Thủ Tướng Chính Phủ vẫn ra Указ). Bác xem tiếp nhé "Две головы лучше одной, а три ещё лучше!" @ hungmgmi: Bác nói đúng, sẽ có link qua QĐ đó. @ SaoMai: Cảm ơn từ лагуна. Tiếng Việt tôi còn chưa hình dung hết đặc điểm của "Phá", huống chi là tiếng Nga! |
@ Bác Dmitry Tran:
Văn Miếu (cả ở Hà Nội lẫn ở Huế) vẫn được dịch sang tiếng Nga là Храм Литературы bác ạ. Có tin mới (tôi gửi lên đây lưu để sau này nếu cần đỡ phải tìm tiếng Nga) "Bia tiến sỹ trở thành "Ký ức Thế giới của UNESCO" http://www.vietnamplus.vn/Home/Bia-t...5/91292.vnplus Hệ thống Bia tiến sỹ của các triều đại Hậu Lê và nhà Mạc (1442-1779) được dựng tại Văn Miếu của Việt Nam đã chính thức được đưa vào Danh sách Ký ức Thế giới của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO). Hệ thống Bia tiến sỹ nằm trong số 45 tư liệu và các bộ sưu tập tư liệu mới, được Tổng Giám đốc UNESCO Irina Bokova ngày 26/5phê duyệt vào danh sách theo đề nghị của Ủy ban cố vấn quốc tế thuộc Ủy ban Ký ức Thế giới. Tiếng Nga: «Память мира» обогатилась новыми собраниями документов Сегодня (25/05/2011) Генеральный директор ЮНЕСКО Ирина Бокова утвердила рекомендации Международного консультативного комитета «Памяти мира» о занесении 45 новых документов и собраний документов, представленных разными странами мира, в реестр «Памяти мира». Таким образом, к настоящему времени в него занесено уже 238 объектов. «Помогая защите и большей известности этого разностороннего документального наследия, программа ЮНЕСКО «Память мира» укрепляет базу для проведения научной работы, умножает творческое богатство и содействует расцвету многообразия культур и обществ», - заявила Генеральный директор. В реестр «Памяти мира» были занесен широких спектр документальных свидетельств и собраний. Они отличаются разнообразием содержания и материальной формы, включая источники на камне, целлулоиде, пергаменте, аудио записи и многое другое. В числе новых избранных: ... - Российская Федерация: Остромирово Евангелие (1056-1057 г.г.); Личная библиотека и рукописи, фотографии и собрание фильмов Льва Толстого ... - Вьетнам: Отчеты о Королевских экзаменах в эпоху династий Ле и Мак (1442-1779 г.г.), запечатленные на каменной стеле (Viet Nam: Stone Stele Records of Royal Examinations of the Le and Mac Dynasties (1442-1779) Nguồn: http://www.unesco.org/new/ru/media-s..._of_the_world/ |
Trích:
Cảm ơn bác USY, tôi sẽ dịch là Храм Литературы «Ванмиеу» để phân biệt Văn Miếu với những Храм Литературы khác trên thế giới. Về шедевр нематериального наследия - придворная музыка «нья ньяк» (2003), tôi không tìm thấy Văn bản công nhận của UNESCO, mà chỉ có danh sách đề nghị của các nước, trong đó nó được đề nghị 2 lần, năm 2003 và 2008. Danh sách của ta đến năm ngoái là như thế này: Вьетнам Представительный список Вьетнамская придворная музыка «нья-ньяк» (2003, 2008) Пространство культуры гонгов (2005, 2008) — игра на гонгах Народное пение «куан-хо» провинции Бакнинь (2009) Фестиваль зьонг в храмах Фыдонг и Шок (2010) Список объектов, нуждающихся в срочной защите Пение «ка-чы» (2009) http://ru.wikipedia.org/wiki/Список_...BD.D0.B0.D0.BC Bác xem cho biết có tài liệu nào chính thức (tiếng Anh thì càng tốt) để tôi có thể dẫn link từ bài Huế đến đó. Saú đó tôi sẽ đưa bài vào topic lưu trữ của ta và đăng có up ảnh lên Viki Nga. |
Bác Tran ơi, link tiếng Anh đây bác nhé:
Danh sách di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO:http://www.unesco.org/culture/ich/in...lg=en&pg=00011 Miêu tả di sản văn hóa phi vật thể "Nhã nhạc" (được công nhận năm 2008): http://www.unesco.org/culture/ich/in...00011&RL=00074 Nha Nhac, Vietnamese Court Music Inscribed in 2008 on the Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity (originally proclaimed in 2003) Country(ies): Viet Nam Identification Description An essential part of royal ceremonies, court music was a means of communicating with and paying tribute to the gods and kings as well as transmitting knowledge about nature and the universe. This musical tradition has been kept alive by the few surviving former court musicians. ©Hue Monument Conservation Centre Nha Nhac, meaning “elegant music”, refers to a broad range of musical and dance styles performed at the Vietnamese royal court from the fifteenth to the mid-twentieth century. Nha Nhac was generally featured at the opening and closing of ceremonies associated with anniversaries, religious holidays, coronations, funerals and official receptions. Among the numerous musical genres that developed in Vietnam, only Nha Nhac can claim a nationwide scope and strong links with the traditions of other East Asian countries. Nha Nhac performances formerly featured numerous singers, dancers and musicians dressed in sumptuous costumes. Large-scale orchestras included a prominent drum section and many other types of percussion instruments as well as a variety of wind and string instruments. All performers had to maintain a high level of concentration since they were expected to follow each step of the ritual meticulously. Nha Nhac developed during the Le dynasty (1427-1788) and became highly institutionalized and codified under the Nguyen monarchs (1802-1945). As a symbol of the dynasty’s power and longevity, Nha Nhac became an essential part of the court’s many ceremonies. However, the role of Nha Nhac was not limited to musical accompaniment for court rituals: it also provided a means of communicating with and paying tribute to the gods and kings as well as transmitting knowledge about nature and the universe. The events that shook Vietnam in the twentieth century – especially the fall of the monarchy and the decades of war – seriously threatened the survival of Nha Nhac. Deprived of its court context, this musical tradition lost its original function. Nevertheless, the few surviving former court musicians continue to work to keep the tradition alive. Certain forms of Nha Nhac have been maintained in popular rituals and religious ceremonies and serve as a source of inspiration for contemporary Vietnamese music. Năm 2008 còn có văn hóa cồng chiêng của Tây Nguyên được công nhận nữa: http://www.unesco.org/culture/ich/in...00011&RL=00120 The Space of Gong Culture Inscribed in 2008 on the Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity (originally proclaimed in 2005) The cultural space of the gongs in the central highlands of Vietnam covers several provinces and seventeen Austro-Asian and Austronesian ethno-linguistic communities. Closely linked to daily life and the cycle of the seasons, their belief systems form a mystical world where the gongs produce a privileged language between men, divinities and the supernatural world. Behind every gong hides a god or goddess who is all the more powerful when the gong is older. Every family possesses at least one gong, which indicates the family’s wealth, authority and prestige, and also ensures its protection. While a range of brass instruments is used in the various ceremonies, the gong alone is present in all the rituals of community life and is the main ceremonial instrument. The manner in which the gongs of Vietnam are played varies according to the village. Each instrumentalist carries a different gong measuring between 25 and 80 cm in diameter. From three to twelve gongs are played by the village ensembles, which are made up of men or women. Different arrangements and rhythms are adapted to the context of the ceremony, for example, the ritual sacrifice of the bullocks, the blessing of the rice or mourning rites. The gongs of this region are bought in neighbouring countries, and then tuned to the desired tone for their own use. Economic and social transformations have drastically affected the traditional way of life of these communities and no longer provide the original context for the Gong culture. Transmission of this way of life, knowledge and know-how was severely disrupted during the decades of war during the last century.Today, this phenomenon is aggravated by the disappearance of old craftsmen and young people’s growing interest in Western culture. Stripped of their sacred significance, the gongs are sometimes sold for recycling or exchanged for other products. Cho đến nay Việt Nam có 5 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận: 1. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2008) 2. Nhạc cung đình Huế (Nhã nhạc) (2008) 3. Quan họ Bắc Ninh (2009) 4. Ca trù (2009) - di sản này năm trong danh sách cần được bảo vệ khẩn cấp 5. Hội Gióng làng Phù Đổng và khu Đền Sóc (2010) |
Bác USY à! Tôi đã đọc cẩn thận trang này: http://www.unesco.org/culture/ich/in...lg=en&pg=00011
thì đó là danh sách UNESCO đề nghị xét công nhận và bảo vệ gấp. Ngay vào đầu viết thế này: The Committee meets annually to evaluate nominations proposed by States Parties to the 2003 Convention and decide whether or not to inscribe those cultural practices and expressions of intangible heritage on the Convention’s Lists. (Ủy ban họp hàng năm để đánh giá các đề cử được đề xuất bởi các quốc gia tham gia Công ước 2003 và quyết định có ghi hay không những tập tục văn hóa và biểu tượng di sản phi vật thể vào danh sách của Công ước.) Phần cuối lời hướng dẫn có viết: Ấn vào bạn sẽ thấy Giới thiệu, ảnh, video và xác minh... Tôi ấn vào: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity (Danh sách đề nghị các Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại) thì vào trang link bác dẫn: http://www.unesco.org/culture/ich/in...00011&RL=00074 thì ở ô xanh thứ 4 chỉ có ý kiến hướng dẫn..., không thấy ghi là công nhận gì cả. Các bác xem lại, tôi hiểu tiếng Anh có nhầm không? Vì nếu ta dẫn link sang đó thì phải chính xác. |
Bác Tran ạ, em nghĩ là bác hơi nhầm khi hiểu Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity là Danh sách đề cử.
Thật ra đó phải được hiểu là Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong tiêu chí bình xét các hạng mục để đưa vào danh sách này UNESCO đã nói rõ (từ Representative ở đây được hiểu là (tính) đại diện): http://www.unesco.org/culture/ich/in...lg=en&pg=00002 Trong đó có đoạn nói rõ: Intangible cultural heritage is: Traditional, contemporary and living at the same time: intangible cultural heritage does not only represent inherited traditions from the past but also contemporary rural and urban practices in which diverse cultural groups take part; Inclusive: we may share expressions of intangible cultural heritage that are similar to those practised by others. Whether they are from the neighbouring village, from a city on the opposite side of the world, or have been adapted by peoples who have migrated and settled in a different region, they all are intangible cultural heritage: they have been passed from one generation to another, have evolved in response to their environments and they contribute to giving us a sense of identity and continuity, providing a link from our past, through the present, and into our future. Intangible cultural heritage does not give rise to questions of whether or not certain practices are specific to a culture. It contributes to social cohesion, encouraging a sense of identity and responsibility which helps individuals to feel part of one or different communities and to feel part of society at large; Representative: intangible cultural heritage is not merely valued as a cultural good, on a comparative basis, for its exclusivity or its exceptional value. It thrives on its basis in communities and depends on those whose knowledge of traditions, skills and customs are passed on to the rest of the community, from generation to generation, or to other communities; Community-based: intangible cultural heritage can only be heritage when it is recognized as such by the communities, groups or individuals that create, maintain and transmit it – without their recognition, nobody else can decide for them that a given expression or practice is their heritage. Hoặc ở đây: http://www.unesco.org/culture/ich/in...sentative-list Trong trang wiki tiếng Anh và tiếng Việt cũng nói rất rõ về vấn đề này: http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%...n_lo%E1%BA%A1i http://en.wikipedia.org/wiki/UNESCO_...Heritage_Lists Em nghĩ trang Wiki tiếng Nga dịch từ tiếng Anh Respresentative List thành Представительный список là chưa chính xác, và hiểu thành Danh sách đề cử là sai. Vì em được biết riêng đối với Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại do UNESCO bình xét và bổ sung liên tục, thì Danh sách này được dịch (theo kiểu phiên âm tiếng Anh ra) sang tiếng Nga là Презентативный список Em xin dẫn chứng bằng Tạp chí của UNESCO xuất bản bằng tiếng Nga. Đây là ấn phẩm chính thức của UNESCO: http://www.unesco.org/culture/ich/doc/src/00244-RU.pdf Hoặc em xin dẫn Luật của Uzbekistan liên quan đến bảo vệ và sử dụng các hạng mục Di sản văn hóa (bằng tiếng Nga). Em trộm nghĩ phương án tiếng Nga trong Luật này của Uzbekistan có thể hiểu được (ở đây họ "phiên" đầy đủ từng âm tiết của từ tiếng Anh: Репрезентативный список :-). Bác có thể xem toàn văn Luật đó bằng tiếng Nga ở đây: http://www.google.com.vn/search?hl=v...0l0l0l0l0l0l0l (Trang này bác chọn mục ЗАКОН ở giữa trang thì nó cho file văn bản: ЗАКОН РЕСПУБЛИКИ УЗБЕКИСТАН О ВНЕСЕНИИ ИЗМЕНЕНИЙ В ЗАКОН РЕСПУБЛИКИ УЗБЕКИСТАН «ОБ ОХРАНЕ И ИСПОЛЬЗОВАНИИ ОБЪЕКТОВ КУЛЬТУРНОГО НАСЛЕДИЯ» Trong đó có điều khoản bổ sung Luật cũ liên quan đến vấn đề ta đang đề cập: 12) статью 19 изложить в следующей редакции: «Статья 19. Включение объектов культурного наследия в Список всемирного культурного наследия или в Репрезентативный список нематериального культурного наследия человечества Объекты культурного наследия, представляющие выдающуюся универсальную ценность с точки зрения истории, искусства, науки, эстетики, этнологии или антропологии, могут быть отнесены к объектам всемирного культурного наследия в порядке, установленном Конвенцией об охране всемирного культурного и природного наследия и Международной конвенцией об охране нематериального культурного наследия, путем включения соответственно в Список всемирного культурного наследия или в Репрезентативный список нематериального культурного наследия человечества. На основании заключения историко-культурной экспертизы объектов культурного наследия предложения о включении в Список всемирного культурного наследия или в Репрезентативный список нематериального культурного наследия человечества объектов культурного наследия и документация, оформленная в соответствии с требованиями Комитета всемирного наследия и Межправительственного комитета по охране нематериального культурного наследия при Организации Объединенных Наций по вопросам образования, науки и культуры (ЮНЕСКО), направляются юридическими и физическими лицами в Национальную комиссию по делам ЮНЕСКО Республики Узбекистан»; Em nghĩ đến đây bác có thể hoàn toàn yên tâm Danh sách nói trên là danh sách di sản đã được công nhận, trong đó có Nhã nhạc và 4 di sản khác của Việt Nam. Riêng em nhớ, sau khi Nhã nhạc cung đình Huế được tôn vinh tại kỳ họp đầu tháng 11/2003 của UNESCO, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại UBND Thừa Thiên Huế đã có buổi họp báo giới thiệu rất long trọng tại Hà Nội. Bằng công nhận di sản Nhã nhạc được trao tại trụ sở UNESCO ở Paris vào cuối tháng 1/2004. Tiếp đó, tháng 6 năm 2004, tại Lễ khai mạc Festival Huế diễn ra (dưới mưa) ở Quảng trường Ngọ Môn, chương trình biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế đã trở thành "cái đinh" của buổi lễ (nhưng em thú thật là đối với em như "đàn gảy tai trâu", em nghe mà buồn ngủ lắm ạ, xin các bác thứ lỗi:emoticon-0116-evilg:emoticon-0111-blush) Năm 2008 UNESCO mới đưa tất cả các di sản phi vật thể đã công nhận trước đó, kể cả Nhã nhạc, vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (chính là cái Репрезентативный список нематериального культурного наследия человечества đó). Chính vì vậy nên năm 2008 số di sản trong Danh sách mới lên tới 90, nhiều nhất cho tới nay (năm 2009 có 76 di sản mới, năm 2010 có 47) như bác đã đọc tại trang danh sách. |
Nhờ bác USY tôi đọc và hiểu chính xác thêm được 1 loạt các khái niệm của UNESCO. Vì trong các khái niệm này ngay Ũy Ban UNESCO cũng bàn cải. Trích "Члены Комитета призвали с неослабным вниманием относиться к толкованию различных терминов, использованных в Конвенции, причем некоторые члены предложили пересмотреть Глоссарий нематериального культурного
наследия, опубликованный в 2002 г. Но другие члены решили, что Комитет должен сконцентрироваться на выполнении Конвенции, а вопрос обновления определений" http://www.unesco.org/culture/ich/doc/src/00244-RU.pdf Tôi hiểu thế này, nhờ các bác kiểm tra lại! - "Nhã Nhạc" nằm trong "Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại" - như bác nói là đã được công nhận trong Danh sách đó. Ta sẽ ghi vào Viki nguyên văn như vậy "Придворная музыка «Нья Ньяк» в 2003-ем году была внесена в Репрезентативный Список нематериального культурного наследия человечества при ЮНЕСКО ", có dẫn link đến trang công nhận - Nhưng nó không nằm trong Di sản Thế giới (chính thức) của UNESCO. Cái này ta "lờ đi" vì các danh hiệu được UNESCO công nhận khác vớ Di sản Thế giới đôi khi cũng được xếp vào di sản thế giới theo cách hiểu của từng nước. Trang Web "gốc" chính thức của UNESCO ghi là: Danh sách di sản thế giới bao gồm 911 di sản hình thành một phần của di sản văn hóa và thiên nhiên mà Ủy ban Di sản Thế giới coi là có giá trị nổi bật toàn cầu. Chúng bao gồm 704 DS văn hóa, 180 DS tự nhiên và 27 DS hỗn hợp tại 151 quốc gia thành viên. Tính đến tháng 6 năm 2010, 187 quốc gia thành viên đã phê chuẩn Công ước Di sản Thế giới. Việt Nam có 6 DS: * Quần thể di tích Cố đô Huế * Vịnh Hạ Long * Phố Cổ Hội An * Khu đền tháp Mỹ Sơn * Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng * Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long Tiếng Anh đây, các bác kiểm tra lại: http://whc.unesco.org/en/list World Heritage List The World Heritage List includes 911 properties forming part of the cultural and natural heritage which the World Heritage Committee considers as having outstanding universal value. These include 704 cultural , 180 natural and 27 mixed properties in 151 States Parties. As of June 2010, 187 States Parties have ratified the World Heritage Convention. Vietnam: Complex of Hué Monuments Ha Long Bay Hoi An Ancient Town My Son Sanctuary Phong Nha-Ke Bang National Park Central Sector of the Imperial Citadel of Thang Long - Hanoi Tôi vừa post thử cả đầy đủ bài "Huế" lên Viki Nga (để xem ý tứ các bác khác trên đó, vì bài cũ tôi xóa toàn bộ) các bác xem có gì cần sửa không? http://ru.wikipedia.org/wiki/Хюэ |
Bác Dmitri Tran mến,
Hôm nọ em có đọc bài viết tiếng Nga về Huế của bác trong dự án Wikipedia của chúng ta, em có góp ý nhỏ về cách dịch tên gọi Vương quốc Chiêm Thành, xem trong các văn bản đã in ở Nga người ta gọi thế nào cho thống nhất. Ngoài ra còn có châu Ô, châu Rí...nữa, dịch là "две провинции О и Ри" có ổn không? Em đã gửi thư hỏi về vấn đề này cho một anh bạn quen thân là anh Hoa-tức anh Petr Tsvetov- PTS sử học, tác giả 2 tập "Lịch sử Việt Nam" từng xuất bản ở Liên xô, nguyên phóng viên thường trú nhiều năm của báo Pravda tại VN. Hiện anh làm việc ở Thượng viện Nga. Mãi đến hôm thứ 7 rồi, em mới nhận được thư trả lời: Trích:
http://i14.photobucket.com/albums/a3...gmi/img005.jpg http://i14.photobucket.com/albums/a3...i/img006-1.jpg |
Trích:
Đọc hết cả 4 trang tôi thấy thế này: * Có chổ không nhất quán trong quan niệm dịch thuật: - Từ "Châu" (Ô, Rí, Quỳ Hợp...) được viết 3 chổ khác nhau là "область", "округ", "тяу" - Địa danh "Khe Mây" thì dịch theo nghĩa là "Ущелье Облаков". Trong khi đó các địa danh khác thì phiên âm theo quy tắc. - Từ "điền trang" thì lại phiên âm thành "диен-чанг" như là tên riêng địa danh chứ không dịch theo khái niệm là "ферьма"? * Phiên âm không theo quan niệm hiện nay. 2 VD: - Tên công chúa Huyền Trân thì dịch là "Хюйен Чан". - Thăng Long thì dịch là "Тханглаунг" Nếu xem lại thì phải sửa các từ như "Хуен Чан", "Тханглонг".... Mặt khác, theo thời gian, nhiều tên riêng được thay đổi cho chính xác hóa. Trong tiếng Việt tên các nước thay đổi nhiều, tiếng Nga cũng có. VD: Campuchia trước kia dịch là "Камбоджа", nay đổi là "Кампучия". Tóm lại, tiếp thu ý kiến bác PTS sử học: Từ "округ", chắc nên dịch là округи О и Ри vì có t/c biên thùy. Vua Chiêm Thành dịch là чамский король Và bác cho biết (tiếng Nga): Tên sách, tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản để tôi cho thêm vào mục "Tài liệu tham khảo" của bài biết! |
Bài viết về Áo dài của bác Tran có dẫn link nuocnga.net như một nguồn tham khảo.
Hungmgmi mới xem qua trên mạng thì thấy ở trang Wikipedia tiếng Việt rất nhiều trang về các nhân vật lịch sử Nga, các sự kiện, các tác phẩm văn học, hội họa Nga...đều có sử dụng và dẫn nguồn các bài viết của các thành viên nuocnga.net. Ví dụ một số trang sau: Xe tăng: http://vi.wikipedia.org/wiki/T-95 S.Boldarchuk: http://vi.wikipedia.org/wiki/Sergei_Bondarchuk K.Simonov http://vi.wikipedia.org/wiki/Konstan...lovich_Simonov Bộ phim Số phận trớ trêu: http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB...%B9_nh%C3%B5m_! M.Solokhov: http://vi.wikipedia.org/wiki/Mikhail...vich_Sholokhov I.Levitan: http://vi.wikipedia.org/wiki/Isaac_Ilyich_Levitan Zoya Kosmodemyanskaya: http://vi.wikipedia.org/wiki/Zoya_An...smodemyanskaya Nguyên soái Budyonyi: http://vi.wikipedia.org/wiki/Semyon_...ovich_Budyonny |
Món Nem và Phở hấp dẫn quá, lang thang trên mấy trang "Ăn uống" tiếng Nga thì thấy thế này:
Trang Ẩm thực VN tiếng Nga chỉ 1 đoạn rất khái quát, trong khi đó trang tiếng Việt rất đầy đủ. Tiếng Nga: http://ru.wikipedia.org/wiki/Вьетнамская_кухня Tiếng Việt: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ẩm_thực_Việt_Nam Ta có hàng chục bác viết tiếng Nga tốt, ngoài những bác này tôi hay thấy trên DĐ : @@@, Ga57, Julia, hungmgmi, masha90, micha53, minminixi, Мужик, nhnam, Nina, nthach, phuong_nga06_09, Old Tiger, Olesya Beo, Phanhoamay, thaond_vmc, Saomai, USY, vidinhdhkt, Xuan Dong, Đan Thi... còn nhiều bác nữa Thiết nghĩ, nếu ta bớt chút thời gian dịch trang "Ẩm Thực VN" sang tiếng Nga là đủ để cung cấp cho các bạn Nga hiểu biết khá đủ về nét đẹp truyền thống của ta. Và nhiều người Nga chưa biết các món VN khác. Hôm qua cô bạn gửi tôi bài này hỏi về Bánh chưng do cô Любовь Стоцкая nhiệt tình giới thiệu trên site của các chị nội trợ "Готовим.Ру" (gotovim.ru) như thế này (tuy có vài sai sót): Рис лежит в основе самого популярного во Вьетнаме блюда "тюнь" - пирожков-лепешек, которым приписывается глубокий философский смысл. Вот что гласит легенда: давным-давно правил во Вьетнаме Чан Вон Шестой. Было у него двадцать сыновей. Всех обучил он искусству слагать стихи и военной стратегии, только вот в поле никто из них не любил работать. Один лишь сын Лань Лен был исключением. Взял он себе жену из деревни и жил, обрабатывая землю. Однажды призвал отец своих сыновей и говорит: "Приготовьте мне еду, похожую на небо и землю сразу. У кого это получится, тому отдам царство!" Сыновья разослали своих слуг искать этакое диво, только Лань Лену работа в поле не давала отправиться на поиски. К этому времени поспел рис, фасоль созрела. Лань Лена осенило: он испечет из риса лепешки, круглые как небо, а из белой фасоли можно испечь четырехугольные, как пашня. И все начинить свиным фаршем. Сказано - сделано! На следующий день Лань Лен отнес своему батюшке ароматные лепешки, а взамен получил царский трон. Это национальное блюдо - обязательное украшение праздничного стола. http://www.gotovim.ru/library/nation..._dushkom.shtml Nếu bác nào có điều kiện viết bổ sung thì tuyệt. Các bạn Nga tìm bài trên Viki tiếng Nga nhanh hơn nhiều, một thời gian sau họ sẽ hiểu thêm rất nhiều điều thú vị về đất nước và con người VN! |
đọc phần dàn bài viết về kimono của bac làm tôi nhớ lại một thơi nuôi sống mình bằng những chiếc áo kimono:emoticon-0155-flowe
|
Cụ Dmitri Trần này tự nhiên biến đâu mất các bác nhỉ? :emoticon-0106-cryin
Bao nhiêu công trình Việt Nam trong Wikipedia tiếng Nga đang dở dang thế mà cụ ấy lại tự cho phép đi "nghỉ dưỡng" nhỉ? He he Kishinhev mùa này đẹp lắm. Cụ đi nghỉ nhanh nhanh rồi tiếp tục công việc đi cụ ơi! :emoticon-0150-hands :emoticon-0100-smile |
THÀNH NHÀ HỒ ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
Vào lúc 13 giờ chiều 27/6 (theo giờ Paris, Pháp), tại cuộc họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra từ ngày 19 đến ngày 29/6 tại Paris, di tích Thành nhà Hồ thuộc tỉnh Thanh Hóa của Việt Nam đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Ông Vương Văn Việt, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Trưởng đoàn tham dự cuộc họp lần thứ 35 Di sản Văn hóa, cho biết đây là một trong 4 di sản văn hóa được đưa ra bình chọn trong phiên họp sáng 27/6 của hội nghị và là một trong 35 di tích được đề nghị trong danh sách xét bình chọn đợt này. Với sự công nhận di sản Thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới, cho đến nay Việt Nam đã có 7 di tích của được công nhận là di sản văn hóa thế giới, đó là phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long, khu hang động Phong Nha-Kẻ Bàng và Hoàng Thanh Thăng Long-Hà Nội./. Theo TTXVN http://hanoimoi.com.vn/Uploads/image...27_congNam.jpg Cổng Nam Thành nhà Hồ http://hanoimoi.com.vn/Uploads/anhth...1/25/nhaho.jpg Giếng Vua ở Đàn tế Nam giao, Thành nhà Hồ Tin trên trang web của UNESCO: Tiếng Anh: http://www.unesco.org/new/en/media-s...heritage_list/ Sites in Ethiopia, Kenya and Viet Nam inscribed on UNESCO’s World Heritage List Konso Cultural Landscape (Ethiopia), Fort Jesus, Mombasa (Kenya) and Citadel of the Ho Dynasty (Viet Nam), have been added to UNESCO’s World Heritage List. Inscriptions are to continue this afternoon. ... Citadel of the Ho Dynasty (Viet Nam). The 14th-century Ho Dynasty citadel, built according to the feng shui principles, testifies to the flowering of neo-Confucianism in late 14th century Viet Nam and its spread to other parts of east Asia. According to these principles it was sited in a landscape of great scenic beauty on an axis joining the Tuong Son and Don Son mountains in a plain between the Ma and Buoi rivers. The citadel buildings represent an outstanding example of a new style of south-east Asian imperial city. Tiếng Nga: http://www.unesco.org/new/ru/media-s...heritage_list/ Объекты в Эфиопии, Кении и Вьетнаме включены в Список Всемирного наследия ЮНЕСКО Культурный ландшафт Консо (Эфиопия), Форт Джезус, Момбаса (Кения) и Цитадель династии Хо (Вьетнам) включены в Список Всемирного наследия ЮНЕСКО. Рассмотрение продолжится во второй половине дня. ... Цитадель династии Хо (Вьетнам). Цитадель 14 века, созданная в соответствии с принципами фэн-шуй, является свидетельством расцвета конфуцианства и его распространения на другие районы Восточной Азии. Согласно этим принципам, сооружение было расположено в живописной местности в междуречье Ма и Буой, находящееся на линии, соединяющей горы Туонг Сон и Дон Сон. Здания цитадели сами по себе являются выдающимся образцом нового стиля города имперской архитектуры юго-восточной Азии. |
Trích:
|
Trích:
Trích:
|
Trích:
CK cũng nhận được tin nhắn này, chắc các bác khác cũng vậy. |
Bánh chưng
Tôi sẽ làm bài về "Bánh chưng" như tôi có viết ở đây.
Trích:
1. Cốt chuyện "Sự tích bánh chưng, bánh dầy" tôi lấy trên mạng, có gì cần bổ sung thêm? Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho". Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng. Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào. Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: "Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành." Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái. Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18. Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất. 2. Ảnh minh họa tôi lấy của NXB Kim Đồng: http://img195.imageshack.us/img195/6...banhchung0.jpg http://img651.imageshack.us/img651/2...hbanhchung.jpg 3. Trong các dạng bánh chưng, ở miền Trung và miền Nam còn có "Bánh đòn" (bánh tày) gói dạng tròn, và "Bánh ú" gói dang hình nón. Phong tục quê tôi gói bánh đòn vào dịp Tết (bánh chưng không thịnh hành lắm), và trước kia, mỗi lần đi tàu Thống nhất qua Đồng Hới tôi thường mua dăm cặp bánh ú Nhật Lệ nỗi tiếng ra Hà Nội làm quà. Các bác góp ý kiến thêm để viết về 2 loại bánh này, có ảnh thì càng tốt vì trên mạng không có bài viết về chúng. |
Бань чынг (Тюнг )
Xin ý kiến mọi người món Bánh Chưng.
Phần “Sự tích bánh Chưng bánh Dầy” tôi dịch từ NXB Kim Đồng, phần “Làm bánh” tôi viết theo trí nhớ và dịch ra tiếng Việt để mọi người góp ý cho chính xác. Vì cả đời, vào dịp về quê ăn Tết, tôi chỉ có vài lần gói bánh Đòn, mà kết quả thì cũng chẳng ra “đòn” và cũng chẳng ra “dẹt”! Бань чынг (Тюнг ) Рис является основным источником калорий в азиатской еде. Некоторые ароматные сорта риса служат сырьем национальных и специфических блюд, одним из которых является пирожок-лепешка «Бань чынг» (или «Тюнг» как некоторые переводят на русский язык). http://img135.imageshack.us/img135/2661/banhchung0.jpg «Бань чынг» готовит вьетнамцами с древних времен, ему приписывается глубокий философский смысл. Поэтому, как символ памяти о родоначальниках и национальной культуры, «Бань чынг» - обязательное украшение праздничного стола, особенно в праздновании Нового Года. http://img695.imageshack.us/img695/8673/banhchung4.jpg Вот, старинная легенда гласит: Давным-давно правил во Вьетнаме король Хунг Выонг Шестой. Было у него 18 сыновей. После победы над иноземцами, он намерен передать управление династией достойному наследнику. Перед Новым Годом король призвал всех своих сыновей и приказал: "Приготовьте мне хорошую еду, самым лучшим образом символизирующую Небо и Землю наших предков, тому и отдам царство!" Все сыновья, за исключением последнего, хорошо овладели искусством слагать стихи и военной стратегии, со своими слугами пошли в поиск изысканных блюд. Только вот 18-ый сын по имени Ланг Леу (по-другому назвали Тиет Леу) не имел широких возможностей - он взял себе жену из деревни и жил простой крестьянской жизнью, обрабатывая землю. Тревожно подумал о словах отца, однажды ему снился сон, в котором ангел повелел: «В жизни нет ничего дороже рис, так как он кормит нас. Ты возьми ароматный рис, сделай из него блюда в круглой и квадратной форме, символизирующей Небо и Землю. В знак заслуг родителей завернуть его листьями, а внутри положи начинку». Проснувшийся Ланг Леу, по словам ангела, выбрал самый лучший ароматный рис, завернул его в листьях с начинкой внутри как символ родительской заботы о своих детях, сделал сверке квадратную форму, ассоциирующую фигурой Земли. Он паром доварил такие лепешки и назвал свое блюдо «Чынг», что по-вьетнамски означает «варку на пару». А хорошо измельченную массу из плова такого же риса он сделал лепешки круглой фигуры - символ Неба – и назвал «Бань зяи», что означает «толстовку». На следующий день Ланг Леу отнес своему батюшке эти ароматные лепешки, а взамен получил царский трон. С тех пор, перед Новым Годом вьетнамцы готовят лепешки «Бань чынг» и «Бань зяи» как подношения Вселенной и предкам. (2 ảnh minh họa như trên) Способ приготовления: Ароматный рис замачивать в воде в течение 5-6 часов или на ночь, затем хорошо промыть, обсушить и слегка посолить (1 ложка соли на кило). Фасоль (еще лучше, если имеется сорт зеленый фасоль) также предварительно замоченную на ночь, промыть, удалить шелуху, обдать кипятком, дать стечь воде. Фасоль растолочь и добавить чайную ложку соли. Свинину с определенной порцией сала, мелко нарезать или нарубить, добавить нарубленный лук, немного рыбного соуса, соль и черный перец. Постелить несколько листьев маранты тростниковой (науч. Maranta arundinacea), можно и непорванные части листья банана. http://img193.imageshack.us/img193/8176/banhchung2.jpg Положить на них по кучке риса, разровнять, на рис положить слой фасоли и покрывать его тонким слоем риса. Затем положить слой свинины (с учетом того, что он будет в середине будущего блюда), еще слой фасоли и сверху рис. Листья должны быть завернуты и согнуты по ребрам так, чтобы получилась квадратная форма. http://img24.imageshack.us/img24/6636/banhchung3.jpg Бамбуковыми шнурками, можно и другими продуктовыми веревками, несколько раз перевязать крест-накрест. http://img546.imageshack.us/img546/2869/banhchung1.jpg Складывать все в кастрюле, варить полностью в воде, после кипения на маленьком огне до готовности (в течение не менее часа, если они крупные). Другой вариант «Бань чынг», называемый «Бань У», получается когда он имеет форму конуса. В этом случае листья заранее свернуты конусом, а шнурки обмотаны надлежащим образом. http://img37.imageshack.us/img37/8765/banhchung6jpg.jpg В некоторых областях Вьетнама народ любит готовить Бань чынг в форме трубы, и называют его «Бань дон», что означает «Бревно» (круглый брус). Тогда массу нужно завернуть и хорошо скатать в трубочку, после обмотать шнурками (готовый, нарезанный Бань Дон: http://img84.imageshack.us/img84/8927/banhchung5.jpg -------------------- Cách làm: Gạo nếp ngâm trong nước khoảng 5-6 giờ hoặc qua đêm, sau đó rửa sạch, để ráo nước và cho ít muối (khoảng 1 thìa muối cho mỗi kg). Đậu (nếu có loại đậu xanh thì tốt hơn) cũng được ngâm trước qua đêm, rửa sạch, loại bỏ vỏ, rửa sạch, chao qua nước sôi và để ráo nước. Đậu nghiền nát và thêm 1 thìa cà phê muối. Thịt lợn có một số phần mỡ, băm nhuyễn hoặc xay, thêm hành tây cắt nhỏ, chút nước mắm, muối và hạt tiêu đen. Đặt một vài lá dong (tên khoa học Maranta arundinacea), có thể dùng miếng lá chuối không rách (h). Xúc một ít nếp đổ vào trên lá, dàn phẳng, rãi một lớp đậu lên trên nếp, rồi phủ bằng một lớp nếp mỏng gạo. Sau đó đặt lớp thịt lợn (tính toán sao cho sau này nó sẽ nằm giữa bánh), thêm một lớp đậu và nếp lên trên cùng. Lá nên được bọc và xếp gấp các cạnh để có được một hình vuông vức (hình). Dùng dây lạt tre, có thể các loại dây dùng cho thực phẩm khác, buộc nhiều vòng chử thập. Đặt tất cả vào nồi, song, luộc chìm hoàn toàn trong nước sau khi sôi đun nhỏ lửa cho đến khi chin (không ít hơn một giờ nếu bánh to). Một kiểu khác của Bánh chưng, được gọi là Bánh Ú, khi ta gói bánh dạng hình nón. Lúc này, trước khi gói ta cuộn lá thành hình nón, và buộc dây quấn quanh phù hợp (hình) Ở một số vùng, người ta thích gói bánh Chưng dạng ống, và gọi là "Bánh Đòn", có nghĩa là “khúc gỗ tròn”. Khi đó cần gói tất cả các thứ trong lá cuộn tròn và lăn thành ống, sau đó quấn dây chặt (lát bánh Đòn trong hình). P.S. Cảm ơn SR đã gửi ảnh Bánh Chưng Hà Nội rất hấp dẩn để minh họa!. |
Cho em "cầm đèn.." một tý ạ::emoticon-0127-lipss
Em nhất định không cho bác Trần gói bánh chưng bằng lá chuối đâu nhé! Bánh chưng phải gói bằng lá dong mới đúng vị. Gạo ngâm, vo sạch, để ráo rồi xóc chút muối. Đỗ thì phải đãi và đồ chín, khi cắt bánh chín rền trông đẹp hơn để nguyên hạt. Nhưng như thế là gói theo kiểu truyền thống ngày xưa, bây giờ em thấy mọi người toàn để nguyên như trên hình vẽ. Nhân thịt cũng không phải băm nhỏ đâu bác, cứ để miếng to ướp gia vị hạt tiêu rồi cho vào giữa bánh sao cho khi cắt bánh chưng bằng lạt miếng nào cũng có vỏ bánh, nhân đậu xanh và thịt ( cả nạc và mỡ) ăn nóng với nước mắm tiêu và hành kiệu muối... Ngày bé, sao ăn bánh chưng thấy ngon lành và thiêng liêng thế! vì Tết mới được gói bánh chưng. Cũng có khi đến 20 năm em không ăn miếng bánh chưng nào vì sợ đồ nếp, bây giờ thỉnh thoảng mới ăn thấy cũng ngon nhưng không còn hương vị đất trời như ngày bé nữa. À, cách gói bánh chưng cũng có hai loại: Gói khuôn và gói đùm. Gói khuôn là gấp lá trước, vuốt thẳng các góc cho vuông, có thể dùng khuôn gỗ giữ khi gói. Gói khuôn trông đẹp nhưng khi luộc nếu để lửa sôi không đều bánh dễ bị phèo. Gói đùm chỉ cần 2 lá dong đặt theo hình chữ thập (+) rồi cho nếp, đỗ và thịt vào gói kín, tha hồ đun, bánh ngoan ngoãn nằm trong lá! Một khâu cũng rất quan trọng là suốt quãng thời gian đun bánh phải giữ lửa đều, chế thêm nước sôi. Đến khi vớt bánh phải rửa sạch lá bên ngoài và để ráo nước giúp cho bánh để được lâu hơn. Cả nhà ngồi quây quần trông nồi bánh chưng vào đêm 30 Tết nghe ông bà hay bố mẹ kể chuyện ngày xưa cũng là một nét văn hóa mà bây giờ ngày càng hiếm đi các bác nhỉ? |
Trích:
Thịt thì đúng là không xay mịn. Quê tôi hay làm thế, chắc để tiết kiệm thịt. Hồi đó, bửa ăn cả tuần không có được 1 miếng thịt cho ra hồn! Đậu xanh bên này rất khó kiếm, ở siêu thị ít có, chỉ ở chợ châu Á mới sẳn. Cho nên mọi người hay dùng Фасоль (đậu ván) thay thế. Để khỏi đun nấu phiền phức và mất chất, tôi thấy nhiều người chao qua nước sôi để bớt hăng và nghiền nhỏ. Chắc như vậy cũng họp lý? Sẽ thêm "tiết mục" gói bằng khuôn, trước kia tôi thấy dùng nhiều, và "chế thêm nước sôi. Đến khi vớt bánh phải rửa sạch lá bên ngoài và để ráo nước giúp cho bánh để được lâu hơn." |
Sưu tầm thêm cho tiết mục “Gói bánh chưng bằng khuôn”, đóng góp với bác Trần:
- Cách gói bánh bằng khuôn gỗ: http://my.opera.com/giadinhbao/blog/...anh-bang-khuon - Cách nhuộm gạo nếp cho xanh và dùng khuôn lá dừa gói bánh. Nơi SM ở thường thấy gói bằng khuôn lá dừa như vậy: http://sonylucky.wordpress.com/page/14/ |
Về chuyện độ tin cậy của các Wikipedia, tôi thấy có khi nó còn nhạy bén "đi trước thời đại ấy chứ": :emoticon-0136-giggl
Mời các bác xem tham khảo 1 ví dụ: các bác nhớ cho hôm nay là 29/07/2011 nhé, tôi đã xem trang này: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ban_Ch%...h_th.E1.BB.A9c (Nếu mấy hôm nữa các bác xem thì thấy bình thường thôi, không có gì đặc biệt) |
Trích:
Tài, tài thật, tài đến thế là cùng! Chỉ có điều là cái này đã có quyết định chính thức được 3 ngày hôm nay rồi mợ Ria ợ. |
Bác ạ, "chính thức" của bác với được đọc bằng chữ, dù là chữ online nó cũng khác nhau mà bác. Với lại ai đọc được cũng là vấn đề. Bác được đọc nhiều em không.... hihi:emoticon-0111-blush Bác còn viết ra cho chúng em đọc mà sướng ấy chứ! Thưa bác có đúng không ạ?:emoticon-0150-hands
|
Trích:
Tôi thì cũng chưa được đọc văn bản chính thức, chỉ là có gọi điện thoại hỏi một trong những người có tên trong cái list UVTW chính thức ấy mới biết là đã có quyết định thôi. Dạo này hè, đang nằm khàn mất dạy ở nhà, suốt ngày chúi mũi biên soạn tài liệu, có đi đến đâu mà biết được. Cơ mà công nhận là nó lên wiki nhanh, còn giỏi là ở chỗ trong cái núi thông tin ấy, có con hổ rừng tai-ga lại ngửi ra mùi, sục nhanh đến vậy ạ. Nhà lão cũng trố cả mắt ra thán phục đấy. |
Trích:
|
Trích:
Tư liệu trong link bác dẫn là về Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI. Các kết quả đã được đăng trên các báo từ sau ngày 18 tháng 1, VD như ở VNECONOMY số ra ngày 18/01/2011 14:36 (GMT+7), thế thì có gì là "nhạy bén"? |
Trích:
Nhạy là nhạy ở mấy cái cột phía bên phải cơ ạ. Là các chức vụ chính quyền mới trong chính phủ, phải được QH thông qua thành phần nội các mới thật là chính thức. Song ở ta thì việc bổ nhiệm vào các chức vụ chính quyền có đưa ra quốc hội duyệt thì hầu như là không mấy khi bị bác. Ôi giời ơi, cũng là qua bao nhiêu là khâu xét duyệt chứ: BCT và Ban Bí thư, Bộ Nội vụ, các ban ngành của Đảng (Ban kiểm tra TW, Ban Tổ chức TW...), vả lại người được đề cử nói chung đều đã phải trải qua cả một thời gian công tác lâu dài, qua đào tạo, dự nhiệm, luân chuyển, thăm dò... cũng kỹ chán cả ra. Thế nên, đã đưa ra là QH duyệt ngay cũng là dễ hiểu, cũng là chọn người khá kỹ. Chỉ là nếu ai đó không làm tròn được việc dân giao thì cũng là do đủ mọi yếu tố thôi chứ cũng chưa chắc người đó thực là bất tài đâu. Bất tài sao lên được đến đó, chí ít cũng mưu, cũng tài hơn gã nô tài (chỉ nô là tài) như tôi chẳng hạn roài. |
Ngày hôm nay 01/08/2011 trang trên của Wikipedia đã trở về chức năng "phản ảnh thực tại", không còn dám "đi trước thời gian nữa" :emoticon-0100-smile
Chắc hẳn đã nhận được соответствующее замечание. |
Trích:
Chưa bầu mà "bè bạn quốc tế" và trong nước đã... biết từ lâu- từ Tết Nguyên đán rồi, có phải không bác? :emoticon-0127-lipss Đúng là "dân chủ gấp vạn lần" cái "bọn tư bẩn"(!) :emoticon-0136-giggl |
Sự nhất trí, thống nhất là quá đáng mừng, đúng không các bác?:emoticon-0136-giggl
Đậu phộng rồi, ta cùng quay lại chủ đề topic các bác nhé. |
Trích:
|
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:48. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.