![]() |
Trích:
Vì vậy, các bác có gì khó hiểu, thắc mắc ta cứ đưa lên để bàn luận, về стиль (phong cách) thì càng tốt, các câu hỏi khó về tiếng Nga cũng được. P.S. "нести và носить là 1 trong 14 cặp động từ chuyển động" - Ở đây tôi thấy chúng không hoàn toàn giống như cặp идти - ходить , đôi lúc dịch sang tiếng Việt hoàn toàn khác như trong ví dụ đã nêu. @ socola94; Bạn masha90 phân tích như tôi hiểu, tức là nghĩa trong tiếng Việt khác nhau. Còn лексика hay là тонкости không quan trọng. Như tôi nói ở trên, cái gì khó hiểu trong tiếng Nga ta bàn tất! |
Trích:
|
Hình như anh nguyentiendungrus_83 chưa hiểu rõ lắm предмет обсуждения. Ngoài nghĩa thường dùng là "đi, chạy" (chuyển động trong không gian) thì động từ идти trong các ví dụ anh nêu trên đây đều chỉ sự chuyển động trong thời gian (diễn ra, xảy ra), tức là идти trong phần lớn các trường hợp phản ánh chuyển động (hoặc trong không gian, hoặc trong thời gian) nên anh thấy là tương tự. Nếu anh lấy ví dụ "Тебе очень идет эта рубашка!" thì sẽ thấy ngay sự khác biệt (chữ идет trong trường hợp này mang một nghĩa hoàn toàn không liên quan gì đến chuyển động) - và đây chính là điều bác Dmitri Tran muốn đề cập.
|
Trích:
Vâng em hơi bị máy móc. Bệnh nghề nghiệp bác ạ. Trích:
Còn khi chúng được sử dụng với переносное значение thì tất nhiên là mỗi cặp nó có đặc thù riêng như những ví dụ bác đã dẫn ở trên. Nhưng chúng đều tuân thủ một nguyên tắc: chỉ sự dụng ở nhóm này mà không ở nhóm kia và ngược lại. Khi nói về đẻ chứng: Chỉ sự dụng động từ nhóm 1 нести chứ không dùng nhóm 2 носить. Cũng như khi nói hợp hay vừa cái gì đó thì dùng động từ nhóm 1 идти chứ không dùng nhóm 2 ходить. Có gì mong bác trao đổi thêm. Cảm ơn bác! |
Trích:
|
@ nguyentiendungrus_83.
Thứ nhất là ở đây đang bàn đến hiện tượng đồng âm khác nghĩa trong tiếng Nga qua một ví dụ cụ thể, vì thế post trên đây của anh lạc đề. Thứ hai là nếu nói về дождь thì дождь là một hiện tượng thiên nhiên, là một quá trình (процесс), vì thế nó (дождь) - với tư cách là một quá trình - chỉ có thể идти (происходить, продолжаться, начинаться-начаться, кончаться-кончиться...) chứ không thể падать được! Động từ падать chỉ có thể dùng cho những hạt mưa (капли дождя падают) chứ không thể dùng cho cơn mưa, trận mưa được. Ngay cả người Việt khi nói "mưa rơi" thì vẫn ngầm ngụ ý là "những hạt mưa đang rơi" chứ không ai hiểu là "cơn mưa đang rơi" cả. Дождь và капля (капли) дождя là hai thứ khác nhau, anh ạ. |
Trích:
Trích:
P/S: Hơn nữa tôi nghĩ đây là hiện tượng đa nghĩa của từ (многозначность слов) chứ không phải là từ đồng âm khác nghĩa (омонимы). Đồng âm khác nghĩa là 2 từ khác nhau được phát âm giống nhau. Ví dụ : лук (củ hành) - лук ( сây cung). Còn từ đa nghĩa là là 1 từ nhưng có nhiều nghĩa khác nhau.:emoticon-0150-hands |
Trích:
Về cặp идти - ходить các bạn đã đề cập, tôi xin post sau. Tuy rằng chúng đơn giản nhất khi học tiếng Nga, nhưng cũng có những khía cạnh không phải ai cũng biết. Vì NTDrus có dùng đến cụm từ "Носитель русского языка", có quan hệ với cặp нести - носить nên tôi bàn luôn. Theo tôi quan niệm, носитель языка - người bản ngữ - là đại diện của cộng đồng ngôn ngữ, nắm được các tiêu chuẩn, quy tắc của nó, sử dụng và truyền đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ đó thường xuyên trong sinh hoạt gia đình, các lĩnh vực văn hóa xã hội và giao tiếp nghề nghiệp. Và cần phải phân biệt khái niệm người bản ngữ với dân bản địa hay người nói tiếng mẹ đẻ. Ví dụ, tôi tư duy trực tiếp và dùng tiếng Nga nhiều lúc tốt hơn tiếng Việt (là tiếng mẹ đẻ), có thể nói hơi châm chước rằng tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ thứ 2. Nhưng tôi không thể nói là biết tiếng Nga như là người bản ngữ được. Như vậy, theo tôi, từ "носитель - носить" ở đây vừa có nghĩa "mang" (như lạc đà mang trứng ở trên) vừa "sản sinh" các giá trị ngôn ngữ trong giao tiếp cộng đồng (như gà đẻ trứng). |
Theo em nhớ, носитель với несун hình như cũng có khác nhau thì phải, ví dụ người ta nói ракета-носитель chứ không nói ракета-несун.
|
Trích:
несун - nghĩa đen "người lấy ra", dùng để chỉ kẻ lấy trộm. |
Trích:
Trích:
|
Trích:
Có lẽ bác Tran bỏ qua phần trong ngoặc đơn. Theo em nó khá quan trọng khi muốn nói về носитель языка. |
Tiện đây các bác cho em hỏi, giả sử trình bày báo cáo tại một hội nghị khoa học thì mở đầu như thế nào các bác nhỉ? Thì nếu báo cáo tiếng Việt thì sẽ là mấy câu kính thưa, nếu dùng tiếng Anh thì đơn giản là "Ladies and Gentlemen", còn bằng tiếng Nga thì bây giờ hay nói như thế nào các bác nhỉ? Ngày xưa khi bảo vệ luận văn tốt nghiệp đại học thì em mở đầu cũng đơn giản thôi - "Уважаемый председатель, уважаемые члены комиссии".
|
Trích:
(Hihi, em tình thật toàn "tự biên tự diễn", chứ chưa báo cáo khoa học ở đâu bao gờ cả:emoticon-0136-giggl) Nhờ các bác quen việc này bên Nga cố vấn thôi! |
Trích:
Уважаемый господин/госпожа профессор... ...(Уважаемый господин/госпожа председатель , nếu cần thiết) Дорогие/уважаемые коллеги! (Nếu là cán bộ cùng cơ quan, như mình thì дорогие là được, không cần phải уважаемые - hơi quỵ lụy). Và khi đọc cần quay mặt vào đúng từng người một. Gửi bác Мужик Tôi không là dân ngôn ngữ chuyên nghiệp để đưa ra định nghĩa hoàn toàn chính xác. Về "обычно являющийся для него родным", tức là "thường thì", nói chung... cho mọi người. Theo tôi, nó không có t/c quyết định, vì người ở nước ngoài lâu (15-20 năm chẳng hạn), không tiếp xúc với cộng đồng, nói tiếng mẹ đẻ pha акцент hoặc không sử dụng từ hiện đại theo xu hướng chung, thì tiếng mẹ đẻ không còn là bản ngữ. Ngược lại, không là tiếng mẹ đẻ nhưng tích cực giao tiếp thì không là tiếng mẹ đẻ sẽ trở thành bản ngữ. Cũng vì quan niệm như vậy, cho nên mấy năm tôi "xung phong" tích cực vào "Ответы", trả lời nhanh, nhiều (538 вопросов và 2130 ответов, chủ yếu là tự viết, rất ít khi lấy từ internet, trong vòng 3,5 năm) để tập luyện... |
Như tôi thấy trong Hội nghị khoa học ở Nga người ta cũng nói như mấy quí vị Ăng-lê ấy (Дамы и господа!). Уважаемые коллеги hay dùng trong các cuộc họp ở Bộ môn. Bảo vệ Ph.D thì mào đầu thông thường là Уважаемый ученный совет, nhưng nếu trong Hội đồng có cụ Viện sĩ nào thì cũng phải nhớ kính thưa cụ ấy.
Hình như ta có thơ khuyết danh: Kính mời kính gửi kính thưa Trong 3 kính ấy bác ưa kính nào Kính thưa là kính tào lao Hai kính còn lại kính nào cũng hay Kính mời là kính ăn ngay Kính gửi là kính cầm tay mang về... |
Trích:
Quan niệm của bác về "носитель языка - người bản ngữ" giống như định nghĩa trên wikipedia, và nguồn này, như chúng ta đã biết, chỉ để tham khảo. http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9D%...8B%D0%BA%D0%B0 Do vậy, có lẽ theo quan niệm của mình, bác bỏ qua câu "обычно являющийся для него родным" và đã giải thích tại sao trong phần em trích trên đây. Cũng qua phần trích trên, em thấy quan niệm của bác về khái niệm "bản ngữ" và "tiếng mẹ đẻ" khác với định nghĩa chính thống trong tiếng Việt, đồng thời cũng là cách hiểu của em: Bản ngữ: Ngôn ngữ mẹ đẻ, ngôn ngữ vốn có của một dân tộc. Ví dụ: cảm nhận của người bản ngữ. Tiếng mẹ đẻ: 1. Ngôn ngữ được con người nói từ thuở bé bằng cách bắt chước tự nhiên những người xung quanh mình. 2. Ngôn ngữ của dân tộc mình, trong quan hệ với các ngôn ngữ khác. (Đại từ điển tiếng Việt 2010). "Người bản ngữ" (носитель языка), "Tiếng mẹ đẻ" (Родной язык) trong ngôn ngữ học cả ở Việt Nam và ở Nga cũng còn "lung tung" lắm. Như ở đây chẳng hạn: http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A0%...B7%D1%8B%D0%BA vì thế, người hiểu thế này, người hiểu thế kia cũng là chuyện tất yếu. Nếu chúng ta bổ sung được cho nhau và cùng hiểu vấn đề một cách toàn diện hơn thì chẳng còn gì bằng. |
Cám ơn các bác đã giải thích nhé, đặc biệt là bác Đan Thi, vì em thích phương án của bác nhất :). Nếu có dịp, em sẽ dùng phương án này, tất nhiên là tham khảo xem người khác nói thế nào.
|
Em thì cũng hoàn toàn đồng ý với bác Dmitri_Tran về việc không nên thảo luận về thông tin cá nhân của thành viên khác trên diễn đàn, đặc biệt khi thành viên đó chưa phải là dạng "người của công chúng".
Quay trở lại chủ đề, em muốn nhờ bác nào giải thích giúp - tại sao кафе thì là danh từ giống trung, còn кофе lại là danh từ giống đực? Ngoài chuyện - người Nga nói thế, từ điển viết thế thì còn lý do gì khác không ạ? Em cám ơn nhiều! |
Trích:
|
Tra cứu:
* http://poiskslov.com/word/кафе/ : Từ gốc Pháp [фр. cafe], giống trung, không biến đổi. * http://poiskslov.com/word/кофе/ : Từ gố Hà Lan [гол. koffie < ар.], không biến đổi, giống đực (còn gọi là кофей hoặc кофий). Xem ra người Nga tôn trọng cái gốc của từ. Trên một số tài liệu, có vẻ như hiện nay có sự thoả hiệp, «допустимо употребление этого слова и в среднем роде» |
Nói chuyện giống của danh từ, em lại nhớ câu chuyện tiếu lâm của VN về chia tài sản: người anh lấy hết những thứ gì "giống cái": cái bát, cái đĩa, cái nhà, cái giường, cái thuyền, con dao, cái thớt, v.v. và v.v..., phần người em chỉ còn mỗi "đực rựa", vậy mà sau này một tay làm nên cơ đồ.
Nhờ bác Dmitri và các bác hiểu tiếng Nga cho em biết thêm về chuyện единица измерения: ngoài "cái" - штука" ra, tiếng Nga còn có những từ nào phổ biến để chỉ đơn vị nữa ạ? Em biết nói về súc vật thì có голова, động vật nói chung có khi còn dùng từ особа, còn từ единица thường dùng để liệt kê những loại sự vật gì? v.v. và v.v.? Em xin cảm ơn các bác trước:emoticon-0150-hands |
Chậc chậc, em tưởng là đối với súc vật thì người ta tính theo chân chứ nhỉ - gia cầm thì lấy tổng số chân chia đôi, còn gia súc thì lấy tổng số chân chia bốn, còn bọn như gián, kiến thì không nuôi nên không cần đếm?
|
Theo như tớ biết thì từ единица dùng để thống kê số đầu đạn hạt nhân, tên lửa mang và các bộ phận kỹ thuật (сборочные единицы).
|
Trích:
- Trước hết là từ nhiều nghĩa: Единица - số 1 trong Toán, Lý, hay là điểm 1 trong học tập. Và là đơn vị để chỉ các vật độc lập, hay dùng trong kỹ thuật. Như là: 100 единиц бронетехники (100 xe thiết giáp), hay như bác vidinhdhkt nói: сборочные единицы (linh kiện). - Особь (nguyên thể không phải là особа đâu nhé! 2-4 особи, 5-20 особей). Nó như là индивид, индивидуум dùng chỉ cá thể cho động vật, thực vật cũng được. - Экземпляр - bản. Nhưng cũng dùng cho động vật, như tiếng Việt. Ví dụ nói: Он в мире единственный экземпляр = anh ấy là người độc bản trên thế giới (ý nói sự kỳ dị...) - Штука - cái (nếu nhỏ), to thì gọi là chiếc. Nhưng tiếng Nga rất ít khi dùng để chỉ đồ vật to, ví dụ ít nói như tiếng Việt "5 chiếc máy bay" = 5 штук самолетов mà nói thẳng luôn: 5 самолетов hay là 5 единиц авиатехники (khí cụ bay nói chung). Trong khi đó, tiếng Việt gọi là "chiếc" tất. - Голова để chỉ con, dùng cho gia súc lớn. Gia cầm, hay như mèo, chó, thỏ... cũng rất ít dùng, hầu như không bao giờ nghe.. Về số lượng còn có: Дюжина - tá (12 cái), Гросс - 12 tá = 144 cái (nhưng ít dùng). |
Trích:
Công việc bận là 1 phần, nhưng thực chất là "Rơ moóc" hơi bị cồng kềnh, 1 người về không được. Vé 2 chiều đi-về không dưới 1350-1400 usd. Phải bay qua Viên (Áo), hay Pari, vì bay qua Mát thì rẻ hơn nhưng hay bị trục trặc.... Chắc phải vài năm nữa mới gặp các bác trên NNN được. |
Trích:
Cho em hỏi thêm ngoài cách dùng đúng nó ở số nhiều ra, những đồ vật khác còn có thể gọi như thế nào? thí dụ: cuộn giấy, ổ bánh mì, tấm bản đồ...? |
Trích:
Trong quán cafe của Hội nhà văn Liên xô, Raxul Gamzatovich thủng thẳng nói với bà phục vụ quầy: - Мне адын кофе Bà phục vụ quay sang mấy ông nhà văn Nga đứng cạnh đó: - Này các bác, các bác là người Nga mà suốt ngày одно кофе . Xem Raxul Gamzatovich này, bác ấy người Avar, viết văn bằng tiếng Avar thế mà còn biết кофе là giống đực. Raxul Gamzatovich lại tiếp tục thủng thẳng: - И адын булка! :emoticon-0127-lipss |
Trích:
Bác Julia đi vắng đâu mà lâu ngày quá ta. Bác có khỏe không? Đợt này bác có tham gia ọp ẹp tại Quảng Trị không? Rất vui và hân hạnh nếu được gặp bác ở đó. Thưa các bác để tránh cho là xì-pam, em xin ý kiến các bác về тонкость của câu "cấm hút thuốc!" trong tiếng Nga: Не курить! Не курите! У нас не курят! |
Trong quá trình tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi ngớ ngẩn của mình, em tình cờ thấy bài này, xin chép vào đây để các bác tham khảo luôn nhé.
Nguồn: http://www.stihi.ru/2003/10/21-633 Trích:
|
Còn bài báo sau thì cho rằng, có lẽ КОФЕ là danh từ giống đực, vì ngày xửa ngày xưa, khi mới gia nhập vào tiếng Nga thì người ta viết nó là кофей.
http://www.trud.ru/article/01-12-200...kogo_roda.html Trích:
|
Còn trang gramota.ru mà em tín nhiệm trong việc trả lời các thắc mắc tinh tế và không tinh tế lắm trong tiếng Nga thì viết như sau:
http://www.gramota.ru/spravka/ Trích:
|
Trích:
Trích:
|
Trích:
2 cuôn giấy = 2 рулона бумаги 3 ổ bánh mì = 3 булки хлеба 3 tấm bản đồ = 3 карты. (còn nếu nói số lượng chung các đồ vật đó thì dùng штука) |
Trích:
Đọc lại cũng thấy vui. Nhưng bên đó là giải nghĩa. Còn ở đây речь идет о тонкости в русском языке. :emoticon-0102-bigsm |
Hồi năm 2008, em có viết một bài về một cặp vợ chồng Nga Việt, anh chồng người Kavkaz (đương nhiên là thuộc Nga rồi), còn chị vợ Việt. Sau đó có một bác dịch ra tiếng Nga giúp(bác này thì quá siêu rồi) để in vào cuốn Những ngày HN tại Moskva. Thế nhưng cuối cùng chúng em cũng phạm phải 1 lỗi, mà chỉ người trong cuộc-là bác công dân Nga chỉ ra thì mới biết. Đó là mặc dù là công dân Nga, nhưng không được dịch bác ấy là русский, mà chỉ nên nói bác ấy là россиянин mà thôi (bác ấy là người Nam Osetia mà). Vì trong tiếng Nga, россиянин là từ chỉ công dân Nga (không phụ thuộc vào dân tộc), còn русский-đương nhiên là người dân tộc Nga rồi.
Các bác quan tâm xem thêm link này: Trích:
|
Trích:
Nếu theo đúng Nhân chủng học thì như tôi với bác gọi là người Kinh, còn từ "вьетнамец" chỉ người mang quốc tịch Việt Nam, có thể là người Vân kiều chẳng hạn. Cũng vì sự lẫn lộn trong giấy tờ tiếng Việt như vậy mà tôi "bị" 1 trường hợp như tiếu lâm: Bố Việt, mẹ Nga - con người Môn! Con tôi sinh ra, mục dân tộc ở Giấy chứng sinh ghi là "người Môn - молдаванин". Tôi hỏi họ: "Tôi là người Việt, vợ là người dân tộc Nga (Bố cô ấy người Nga gốc Ba Lan, ông bà ngoại người Môn), con tôi sao là Môn?. Nếu không là Việt theo bố, thì là Nga theo mẹ". Họ trả lời rất có lý như sau: "Không có khái niệm dân tộc Việt, trong giấy tờ của anh không ghi là Kinh hay gì cả, như vậy đối với cháu, về phía bố, dân tộc là không xác định. Về phía mẹ, theo dòng máu thì Nga là 1/4, Ba lan 1/4, Môn 1/2. Cho nên chúng tôi ghi là dân tộc Môn. Thế đấy. Có cãi đằng trời mình cũng thua!. |
Trích:
|
Trích:
|
@Bác Trần:
Con của bác là người Môn, vậy em suy ra bà của cháu là người Bà la môn đúng không ạ?:emoticon-0136-giggl |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:16. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.