Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Hồ sơ chiến tranh thế giới (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=48)
-   -   Nhật ký Leningrad (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=3370)

nthach 20-09-2010 11:55

Ngày 30 tháng Mười một 1941

Buổi hòa nhạc giao hưởng số 5 của Bet-thô-ven bị bãi bỏ vì pháo bắn dữ quá.

nthach 20-09-2010 11:55

Ngày 1 tháng Mười hai 1941

Hôm nay chúng tôi trông thấy xác chết nằm trên xe tuyết ở phố Vun-pha-va. Xác chết không có quan tài, bó bằng vải trắng, đầu gối thò ra ngoài. Ngực bó rất chặt. Chôn theo kiểu Ai-cập, kiểu Thánh kinh. Thấy đó là hình dáng con người, nhưng ai đấy, nam hay nữ? Đó là "hình hài" thuộc về đất rồi.

nthach 20-09-2010 11:55

Ngày 6 tháng Mười hai 1941

Gian-na viết: "Thằng bé lớn lên rất kháu, thật đáng yêu quá chừng. Chờ khi nào chuyển nhà xong và khỏe lại một chút, con sẽ cố chụp ảnh nó và gửi mẹ?.

nthach 20-09-2010 11:56

Ngày 7tháng Mười hai 1941

Bản giao hưởng số 5 của Bét-thô-ven và bản mở đầu "năm 1812" của Trai-cốp-xki.
Phòng nhạc càng u tối hơn. Lạnh lẽo như nhà mồ. Những cây đèn treo chỉ cháy hết một phần tư sức sáng thôi . Nhạc công, người mặc áo bông, người mặc áo bơ-lu-dông da cừu. Những người kéo vĩ cầm cho tay nhẹ nhàng và dễ cử động nên họ mặc áo bông. Còn những người kéo vi-ô-lông-xen và công-tơ-rơ-bát thì có thể mặc áo ba-đơ-xuy bằng da. Vì động tác tay của họ đều chúc xuống. Người đánh trống được ấm hơn tất cả. Tiếng trống cũng đủ làm anh ta nóng người lên. Người kéo vĩ cầm thứ nhất râu ria xồm xoàm không cạo. Chắc là không có gì đun nước nóng hoặc không có đèn.
Hôm qua đài phát thanh truyền hình đi một tin quan trọng: Nước Anh đã tuyên chiến với Hung-ga-ri, Rum-ma-ni và Phần Lan.

nthach 20-09-2010 11:56

Ngày 8 tháng Mười hai 1941

Nhật bản tấn công quân Mỹ mà không tuyên chiến.

nthach 20-09-2010 11:56

Ngày 9 tháng Mười hai 1941

Chúng tôi thở ra. Chúng tôi thở một hơi khá dài. Quân ta đã chiếm lại được Tích-khô-vin. Rất có thể là việc giải vây Lê-nin-grát sẽ bắt đầu từ đấy.

nthach 20-09-2010 11:56

Ngày 13 tháng Mười hai 1941

Vùng ngoại ô Mát-xcơ-va sáng sủa. Mát-xcơ-va đã đánh lui được giặc Đức. Nhưng ở Lê-nin-grát thì vẫn bị uy hiếp nặng.
Hôm nay đạn pháo đã rơi vào phố Ki-rốp.
Đạn bắn vào khi chúng tôi đến gần nhà. Một quả đạn nổ ngay cạnh nhà tôi, đúng vào lúc xe chúng tôi chạy đến cổng chính và chúng tôi bước ra khỏi xe.
Một thứ khói súng khét và chua lan ra khắp phố. Ống dẫn nước và ống cống nhà tôi bị hỏng. Bây giờ chúng tôi không có nước dùng.
Cạnh cổng có một hố đạn rất lớn đã đóng băng. Lòng đường cũng đóng băng. Lưỡi băng chìa ra rất xa.

nthach 20-09-2010 11:57

Ngày 14 tháng Mười hai 1941

Ta thắng ở Vôn-khốp.

nthach 20-09-2010 11:57

Ngày 21 tháng Mười hai 1941

Hôm qua chúng tôi quyết định đi thăm E-vơ-ghe-nhi-a Ô-xi-pô-vna. Liệu chị có còn sống không? Chồng chị có còn sống không? Đó là những người bạn lớn của tôi.
Chị phụ trách tổ bộ môn giáo dục ở trường Đại học Ghéc-xen. Hiện nay chị làm y tá trong một bệnh viện ở khu đó. Công việc của chị rất nặng nề. Nước da vàng, mắt đờ đẫn, tóc bạc lẫn trong cái mũ cũ kỹ bằng da cừu của chị.
Bây giờ tàu điện chạy không đúng giờ có lúc ngừng lại. Rất nhiều đường bị hỏng. Nhưng đi xe một đoạn đường cũng tốt. Dọc theo đại lộ đến Ve-den-xcai-a, chúng tôi lên tàu điện số 12. Tuy đây không phải là đường chúng tôi đi nhưng chúng có thể đưa chúng tôi qua cầu và đó là điều chủ yếu.
Tàu điện của chúng tôi vừa chuyển bánh thì trận pháo kích bắt đầu. Đạn rơi đầy hai bên đường chúng tôi đi. Tàu số 12 của chúng tôi chạy qua giữa phố rền vang tiếng đạn, y như đi dưới đáy hang. Trên tàu không ai noi lấy một lời.
Chúng tôi đi vào ngay nơi bắn phá. Sợ hơn hết là trên lề đường có những người lại chạy về phía chúng tôi, còn chúng tôi thì cứ từng phút, từng giây đi đến chỗ họ bỏ chạy đi. Đột nhiên chị lái xe nói:
-Tôi không đi nữa đâu? sợ lắm.
-Không nên dừng ở đây!-Mọi người nhao nhao nói với chị-Chị cho tàu chạy tiếp đi. Chúng ta sắp đến nơi rồi.
Chị ấy nghe lời chúng tôi phóng ra như bay qua được một ga. Nhưng đến ga thứ hai (gần chợ xít-nôi thì một quả đạn rơi gần quá làm chị lái tàu không giữ nổi tay lái nữa. Tàu ngừng lại).
Tôi cũng không nhớ là chúng tôi xuống tàu băng qua đường phố chạy xổ vào góc một cửa hàng bán bánh mì ra sao nữa. Và chính trong khoảng khắc đó, khi chúng tôi vừa bước vào ngưỡng cửa thì một quả lựu đạn đại bác rơi trúng vào chuyến xe điện của chúng tôi.
Chúng tôi ngồi trong căn hầm của cửa hàng bán bánh mì có lẽ đến một tiếng đồng hồ, tôi không nhớ rõ nữa. Thường là vào giờ phút nguy hiểm hoặc là sau đó là tôi buồn ngủ chết đi được.
Hầm trú ẩn ẩm ướt, nước từ trên nhỏ xuống. Mọi người xô đi dịch lại, ai cũng muốn tìm một chỗ khô hơn. Một đứa bé khóc. Tôi đói ngủ quá. Giá được ngủ suốt một năm thì mới hả.
Khi mọi nơi đều yên tĩnh cả rồi, chúng tôi ra đi. Chuyến tàu điện của chúng tôi bị bắn vỡ tan tành. Khủng khiếp. Có người nào đó chỉ tay về phía bên kia nói: "Ở đấy đầy xác chết". Thế nghĩa là ai không xuống kịp thì bị chết hết.
Về đến nhà chúng tôi được biết là pháo địch nhằm vào chợ Xit-nôi và bắn vào đám đông trong chợ. Hôm đó lại là ngày chủ nhật. Người ta chở vào bệnh viện của chúng tôi 72 người bị thương.

nthach 20-09-2010 11:57

Ngày 22 tháng Mười hai 1941

Trong số những người bị thương đến hôm qua, sáng nay chết mất 10 người.

nthach 20-09-2010 11:58

Ngày 25 tháng Mười hai 1941

Sáng sớm hôm nay lúc I-va-nô-vna mang củi về, qua nét mặt chị tôi biết ngay là có một việc gì khác thường. Chị kể lại rằng lúc trời còn chưa sáng hẳn chị đã ra đi. Lúc đến cửa hàng bánh mì, chị gặp một người lạ ở quảng trường Tôn-xtôi vừa đi vừa khóc, vừa cười rồi ôm đầu. Chốc chốc lại đứng lại rồi lại nói mê sảng. Y như người mất hồn ấy. Lúc đầu tôi tưởng có lẽ người này đang say rượu (nhưng lấy đâu ra rượu?) hay là bị bệnh thần kinh, Lúc đến cửa hàng bánh mì chị mới hiểu: thì ra tiêu chuẩn bánh mì được tăng lên. Và người đó là một trong những người đầu tiên biết được tin đó.
Đài không làm việc vì không có điện. Còn báo thì ra chậm đến hai ngày. Thậm chí đến ba ngày mới thấy. Chính vì thế mà mọi người nghe tin tăng khẩu phần bánh mì ở ngay quầy hàng. Câu chuyện về anh chàng nào đó và chị I-va-nô-vna là như thế.
Người nào mặt mày cũng hớn hở. Khắp nơi chỉ nghe một câu "tăng lên rồi!"
Mỗi ngày công nhân được cấp từ 250 gam lên 300 gam. Nhân viên được 250 gam. Tôi và chồng tôi sẽ nhận hai xuất 600 gam bánh mì một ngày.

nthach 20-09-2010 11:58

Ngày 26 tháng Mười hai 1941

Thật là kinh khủng khi sáng sớm từ cổng sau nhà chúng tôi đi ra là đến ngay bức tường của nhà xác ở trên bờ sông Ca-rơ-pốp-ca. Đó là bãi xác chết của cả khu. Một nhà xác lộ thiên.
Mỗi ngày người tá dùng xe tuyết chở đến đây 9-10 xác chết. Xác chết nằm ngay trên tuyết. Càng ngày càng ít quan tài. Bởi vì không còn gì để làm nữa.
Xác chết được bỏ trong những tấm khăn trắng, những tấm vải giải bàn, một mảnh vải che tủ hoặc là tấm vải thô cắt ở vạt áo khoác, có khi bằng vải che cửa sổ. Một lần tôi thấy một xác chết nhỏ rất nhẹ có lẽ là của một đứa bé bọc trong giấy, cột chỉ. Tất cả những cái ấy sáng lên trên tuyết. Có lúc chân hay tay thò ra ngoài. Trong những mảnh vải hoa ấy như còn ẩn náu cái gì giống với cuộc sống nhưng trong đó là sự bất động của cái chết. Tất cả những cái đó gợi lên cùng một lúc một trận đánh lớn và một nhà ngủ trọ. Ngay nhà xác đã đầy ắp. Thiếu xe vận tải cho các nghĩ địa-thiếu cả ét-xăng. Và cái chính là người sống cũng không còn đủ sức để chôn người chết… Nảy ra vấn đề là không đăng ký người chết từng người một như trước kia. Nói chung là phải đơn giản thủ tục. Đại biểu của phòng đăng ký đến tận nhà xác để đếm bao nhiêu người chết. Có nhiều xác chết không có tên.

nthach 20-09-2010 11:58

Ngày 30 tháng Mười hai 1941

Gần đây ở một địa phương, người ta phải đổi hai mươi bẩy lọ Vitamin C lấy một con chó sống để ăn thịt. Chị Ma-ri-ét-ta nói giọng rất suy tính:
-Nếu con chó to hơn thì còn có lợi.

nthach 20-09-2010 12:01

Năm 1942


Ngày 1 tháng Giêng 1942

Hôm qua chúng tôi đón Năm mới hai lần. Lần thứ nhất vào lúc 5 giờ chiều ở hội nhà văn, trước tiên chúng tôi tổ chức một tạp chí nói, sau đó thì ăn cơm tối với những thứ mà chúng tôi đổi bằng sổ thực phẩm.
Chúng tôi đến Hội nhà văn qua những đường phố vắng giá băng. Chúng tôi đi qua sân xe điện, ở đó không có một chiếc xe nào chạy ra cả, qua xưởng làm bánh mì nơi mà hàng ngày cung cấp cho chúng tôi được tí chút bánh, qua chiếc ô tô buýt bị mảnh đạn xuyên thủng. Bên bờ sông có hai chiếc tàu còn đang đóng dở, trông thật bi thảm, im lìm. Phía trước chúng tôi là một đống băng khổng lồ của thành phố, phía sau chúng là dòng sông Nê-va đã bị băng phủ kín.
" Tạp chí nói" ở Hội nhà văn được tổ chức ở phòng khách.
Mấy thanh củi bập bùng trên sàn đá và trên bàn có một ngọn nến. Lạnh vô cùng.
Đến lượt tôi. Tôi ngồi gần vào cây nến lấy bản thảo ra và đọc chương đầu của bài trường ca tôi làm ( tôi chưa xác định tên bài thơ là gì). Đây là lần đầu tiên tôi đọc bài thơ này trước mọi người. Lúc đọc đến đoạn tôi nguyền rủa bọn Đức phát-xít , tôi bị nghẹt thở. Tôi phải ngừng lại ba lần và phải bắt đầu lại.
Sau bữa cơm chiều chúng tôi lại về nhà theo con đường cũ. Trời tối như bưng.
Tối đến chồng tôi ra hiệu bánh mì. Trên đường về anh lại gặp báo động. Bom lại nổ ở cạnh quảng trường. Anh ôm bánh mì lấp vào cổng một nhà gần đó. Tôi ngồi ở nhà rất lo cho anh.
Đến 12 giờ đêm chúng tôi lại xuống tầng dưới, đến phòng của bác sĩ trưởng , mang theo chai rượu nho trắng cuối cùng. Chúng tôi rót rượu ra cốc và lẳng lặng uống cạn. Thực ra chúng tôi còn muốn ngồi nữa. những có chuông điện thoại reo. Đó là máy nói trong nội bộ bệnh viện. Bác sĩ trực nhật ở phòng xác nhận báo cáo rằng ở chỗ ông ta hiện có 40 người chết, nằm ở hành lang, và trong bể tắm. Ông ta không biết làm gì nữa. Bác sĩ trưởng đi đến đó chúng tôi ra về và đi nằm.

nthach 20-09-2010 12:02

Ngày 2 tháng Giêng 1942

Những người chết ở bệnh viện số lớn đểt trong phòng nhận xác. Ở nghĩa địa người ta đào những hố dài và chôn xác vào đấy. Những công nhân ở nghĩa trang đào mộ cá nhân đổi công bằng bánh mì. Trên đường phố, quan tài ngày càng nhiều. người ta chở trên xe trượt tuyết. Nếu quan tài còn sống nó lăn từ bên này sang bên kia. Có lần một chiếc như thế chạm vào chân tôi. Quan tài có xác thường do hai chị phụ nữ kéo đi. Những sợ dây hằn sâu vào vai họ không phải vì người chết nặng mà vì các chị đẽ yếu nắm rồi.
Lần khác hai chiếc xe trượt tuyết cột chân vào nhau. Trên một xe người ta cột chặt vào lắp quan tài cái xẻng và thuổng. Ở chiếc xe khác thì chở củi. Cái chết và cuộc sống đã gặp nhau như thế đó. Thường thì trên các xe này cũng chở người sống. Ở gần cầu A-ni-scôp ( ở đấy từ lâu người ta đã đưa đi sơ tán những con ngựa đồng Cơ-lôt để tránh bom đạn) có hai người đàn bà khó nhọc kéo một xe trượt tuyết một người mẹ ngồi trên với đứa bé đã chết gói trong một cái khăn.
Tôi cũng nhìn thấy một người đàn bà gầy tọp, còn trẻ gắng sức kéo chiếc xe chở một cải tủ lớn kiểu" hiện đại" mua từ hiệu tầm tầm về để làm quan tài. Và một ngày chủ nhật chúng tôi đi từ cổng nhà đến quảng trường Lep Tôn-xtôi . Chỉ trong một đoạn không gian nhỏ ấy chúng tôi đã gặp tám cái quan tài lớn nhở, một số xác chết bọc trong chăn.
Có lần tôi thấy hai chị chở một chị khác đến bệnh viện chúng tôi đẻ. Bụng chị này rất to, mặt vàng bủng, gầy đét như một bộ xương, lê từng bước.
Một lần khác có hai chị trông dáng có vẻ giáo viên hay nhân viên thư viện thuộc một loại công việc như thế chở một ông đã ở tuổi mặc áo ba-đờ-suy, đeo kính trắng và đội mũ lông. Ông nhăn nhó nằm nghiêng trên chiếc xe tuyết rất ngắn, khuỷu tay chống đầu, còn chân lê dưới đất. Mỗi khi xe đi qua ổ gà, ông già lại kêu:" Cẩn thận nhé ! cẩn thận nhé !" còn hai chị thì mồ hôi nhễ nhại dù tời rất lạnh, nhiệt độ xuống 40 độ dưới số 0.
Có hai chị ( lại phụ nữ) dìu một người bị bệnh suy nhược cơ thể. Người bệnh đi giày ủng. Mới nhìn tưởng là đôi chân giả. Mắt nhìn trừng trừng rất đáng sợ, da mặt dán vào xương. Môi hơi bé và để lộ hàm răng như dài ra vì đói… bây giờ tôi mới hiểu thế nào là bị " đói" .
Những bộ mặt ngoài đường phố thì da căng ra một cách kỳ dị, trắng bệch hay xanh mượt, hốc hác đi. Đó là bệnh phù. Dưới làn da không thấy một giọt mỡ. Thế mà cái rét vẫn còn đục khoét dần những bộ xương khô đét này. ( tôi đang viết đến đây thì cạnh chân tôi con chuột phát điên lên vì đói, sục sạo trong cái sọt đựng giấy mà trước kia chúng tôi hay vứt vào đấy những mẩu vụn bánh mì. Chúng tôi gọi con chuột này là " Nữ công tước chuột". Nó không còn đủ sức để mừng rằng mèo đã bị ăn thịt hết rồi.
Tôi không chịu nổi cái mùi dầu thông khét lẹt ở ngoài phố nữa. Mùi ấy xông nên từ những chiếc xe tải chở xác chết tắm trong thứ dầu đó đi qua hay là từ mọt chiếc xe tải trống đi qua vừa mới chở xác chết ( thường là xe chạy bằng hơi than). Và cái mùi kinh khủng ấy đọng lại trong không khí giá lạnh.

Buổi tối.

Bà I chủ nhiệm bộ môn ngoại ngữ ở trường Đại học Y khoa là một người hoàn toàn cô độc.
Chỉ có một sinh vật duy nhất gần gũi bà ta đó là con chó săn tên là Ca-rơ-ma. Lúc nào tôi cũng thấy bà mang nó đi theo, bà không thể nào rời nó ra được.
Trong trận địch đánh phá, một quả bom rơi trúng vào nhà bà ở phố Mai-a-côp-xki. Mặt bà bị rất nhiều mảnh bom. Còn con Ca-rơ-ma thì chốn đi đâu đó mấy tiếng đồng hồ, sau mới chạy ra.
Trước ngày 1 tháng Mười hai người ta còn cấp cho những con chó một xuất ăn. Nhưng sau đó thì bị cắt và bắt đầu giết chó ăn thịt.
Cách đây không lâu, tôi gặp bà I và con Ca-rơ-ma của bà ở hành lang rét cóng dưới nhà.
Bà I nói với tôi:
-Chị xem, tôi đang đến bộ môn nghiên cứu về chất độc để đánh bả chó. Tôi định trước khi cho nó ăn, tôi sẽ cho nó chén một bữa thật thỏa thuê. Vì đây là bữa cuối cùng trong đời của nó. Tôi vẫn còn giữ cho nó ít phomát khô. Còn sau đó nó sẽ ra sao tôi thật không muốn biết. Tôi chắc rằng họ sẽ ăn thịt nó vì người ta chờ nó đã lâu rồi.
Nói xong bà dắt con chó đến khoa nghiên cứu về chất độc.
Hôm nay tôi gặp bà I ở cầu thang không có chó đi theo. Bà nói với tôi rằng việc tiêm thuốc độc cho chó không thành công. Thuốc độc đã yếu nên không ngấm ngay vào tim. Và trước khi chết con chó gào lên như con người vậy.
Cũng sáng hôm nay, khi chúng tôi xuống nhà ăn lạnh giá ở tầng dưới cùng để ăn sáng thì gặp người ta khiêng lên một người. Đó là người quen của Rô-rix. Anh ta đến yêu cầu cho vợ anh đang đói lả được vào nằm bệnh viện. Anh vừa nói xong thì chính anh lại lăn ra bất tỉnh nhân sự vì đói quá. Người ta khiêng anh vào phòng cấp cứu.
Còn chiều hôm qua chúng tôi thấy một người lạ mặt ngồi trên chiếc ghế của chị thường trực dưới đáy tủ treo chìa khóa, phía sau của góc buồng. Anh ta ngồi đó thò đầu ra ngoài buông thõng đôi tay khăng khiu. Tất cả các cơ thịt đã suy nhược. Một chiếc giầy đi mưa vứt bên cạnh ghế.
Bô-rix sờ vào thái dương chỗ có mạch máu, nói:
-Mạch hãy còn thoi thóp.
Sau nhiều lần ấn chuông có hai chị hộ lý đã phờ phạc ra khiêng người này đến phòng cấp cứu.
Anh ta sống hay chết cũng chẳng ai biết nữa.
Đấy là một công nhân của một nhà máy ở gần đó. Người ta cấp giấy đi bệnh viện. Anh đi đến toàn nhà chính vừa bước khỏi cửa thì kiệt sức ngã ngồi ngay xuống trước ghế này và chết một cách rất yên lặng, cũng như hàng nghìn người khác đang chết về cái bệnh " thiếu chất đạm" này.

nthach 20-09-2010 12:02

Tối 3 tháng Giêng 1942

Người nằm trên cáng mà hôm qua chúng tôi gặp ngoài hành lang không phải là bác sĩ mà là nhà vật lý học. Ông chết ở phòng cấp cứu sau đó nửa giờ. Người ngồi trên ghế dưới cái tủ treo chìa khóa ở góc phòng cũng chết rồi.
Tình hình của chúng ta ngoài mặt trận vùng ngoại ô Mat-xcơ-va thật tốt đẹp. nhưng Lê-nin-grat lại sống bằng sức tàn. Sự căng thẳng quá độ ấy biểu hiện ở tất cả mọi mặt. Tàu điện không có những con người suy nhược phải đi lại rất nhiều. Có khi trên mười cây số. Họ tiêu vào đó những ca-lo cuối cùng.
Trong rất nhiều khu phố ( chỗ chúng tôi cũng vậy) hoàn toàn không còn một cái loa truyền thanh vì tiết kiệm điện… còn nước, chỉ ở tầng dưới cùng mới có. Có khi còn mất hẳn. Đến mùa xuân khi tuyết tan, rồi sẽ ra sao đây?
Hôm nay đáng lẽ người ta phải chở dầu, xăng vào thành phố rồi mà không thấy gì cả, không có than cho đầu máy xe lửa. nghe nói (và đó là sự thật) ở khắp nơi như ở Tích-khơ-vin, Vôn-khốp, Mua-rơ-man-xcơ, nhất là ở Mua-rơ-ma-xcơ có hàng đoàn tầu chở hàng thực phẩm đang ùn lại. Trên những hòm gỗ nằm ở đó có viết: " Chỉ gửi riêng cho Lê-nin-grát !" người ta chỉ nói đến chuyện đó một cách thích thú, thèm thuồng, âu yếm. Số khác im lặng. Họ kiệt sức rồi. Họ truyền cho nhau là ở ngoài ấy đủ các thứ. Đến cả chuối tiêu cũng có. Lần đầu tiên tôi nghe nói đến chuối tiêu ở nhà ăn của chúng tôi với bức tường đã hoàn toàn phủ rêu tuyết và nhiệt độ đã dưới số không xa rồi. Chuối tiêu ? !
Người ta khiêng những người cảnh sát từ trạm gác đến phòng cấp cứu. Họ chết nhanh đến lỗi không kịp sưởi ấm. Một lần cô sinh viên liên lạc dìu một cảnh sát bị ngất đi vì đói ở ngoài đường phố. Hơn nữa sổ bảnh mì của anh ta cũng bị mất. Cô sinh viên kéo người cản sát đến hiệu bánh mì, lấy sổ bánh mì mua ngày hôm sau của người ta mua bánh mì cho người cảnh sát. Nhưng còn cô ta ngày mai thế nào?
Những chụp đèn phòng không đã bị xộc xệch. Có lẽ vì lâu nay không bị oanh tạc nữa, cũng có thể vì người ta không còn sức đi sửa lại. Màn cửa sổ cũng chẳng thấy ai che. Hầu như khắp nơi đều không có điện. Giá lạnh làm cho tuyết đông thành băng che kín cửa sổ. Và ánh trăng xanh ngắt giữ tợn làm mờ đi những bấc đèn dưới trần thế chúng ta.
Cái ngày được tăng 75 gam bánh mì cũng làm cho mọi người phấn khởi, nhưng việc đó lại qua lâu rồi. Bây giờ người ta đã quên đi. Người vừa đi vừa khóc vừa cười vì sung sướng quá mà chị I-va-nô-vna của chúng tôi gặp dạo ấy có lẽ cũng đã chết lâu rồi. Ngay chị I-va-nô-vna cũng sống ngắc ngoải. Chồng chị đang sắp chết. Anh ta đã từng làm đầu bếp. Trong cơn mê sảng, anh thấy những món ăn mà ngày nào anh đã nấu: nào món thịt sào, món sốt vang, nước sốt. Mùi thơm và hình thế các món ăn, tiếng mỡ èo xèo trong chảo. Anh ta nói to những cái đó lên, giày vò mình và những người xung quanh. Chị I va-nô-vna khóc và nói: " Anh ấy vật vã quá".
Tình hình sẽ ra sao nếu lương thực không được đưa ngay đến? Mà mùa đông thì còn dài! Kinh khủng lắm. Đêm hiện nay ở đây thật im ắng một cách không thể tả được. không có tiếng còi, không có tiếng leng keng tàu điện, không có tiếng chó sủa, không có tiếng mèo kêu, không có cả tiếng loa truyền thanh. Trong những gian phòng băng giá và tối om ấy, thành phố thiếp đi. Nhiều người mãi mãi không dậy nữa.
Đã lâu lắm chả nhận được thư từ gì của các con ở Tri-stô-pôn. Mà thư đến đây bằng cách nào kia chứ!

nthach 20-09-2010 12:02

Ngày 4 tháng Giêng 1942

Đêm qua khu tập thể của sinh viên bị cháy. Đây mới thật là nơi bất hạnh, nơi đã hai lần bị bom.
Lúc đầu người ta đoán đám cháy xảy ra là do đặt bếp không đúng chỗ. Nhưng về sau khám phá ra là một que diêm ném vào đống rác ở xó nhà. Do vô ý hay cố tình? Nào ai biết được. Rất có thể là do nguyên nhân thứ hai, bởi vì trong lúc cháy, đồ đạc bị mất lung tung.
Có một cảnh sát làm việc rất giỏi. Anh ta xông vào lửa mà không đeo mặt nạ bởi vì không có dưỡng khí. Người ta quyết định thưởng cho anh ta. Còn anh khi biết khu nhà cháy này có quan hệ với y tế, anh nói:" Không cần thưởng cho tôi cái gì hết, chỉ đề nghị cấp cho vợ tôi 100 gam dầu cá là được rồi." Và anh được thứ dầu cá quý giá đó, thứ sinh tố tốt nhất.
Con chuột cảu chúng tôi (nữ công tước chuột) đã im lặng hình như mãi mãi rồi. Tiếc quá. Có một sự động đậy là được rồi, cứ để chút sinh vật đó rục rịch. bây giờ thì nó cũng không còn nữa.
Tôi có cảm tưởng rằng nếu trong vòng mười ngày nữa thì không phá được vòng vây thì cả thành phố không chịu nổi. Lê-nin-grát đã nhận đầy đủ tất cả của chiến tranh, phải làm thế nào cho bọn Đức trên mặt trận Lênin-grát cũng nhận đủ cái mức ấy.
Liên xô được coi là cứu tinh của nhân loại. Thật đúng là như vậy.
Tôi rất tự hào với tờ " chứng minh thư Xô-viết" giờ đây nó màu ô-liu khiêm tốn. Nhưng dù sao nó cũng vẫn phát ra ánh sáng rực rỡ.
Nếu có ai biết rằng Lê-nin-grát đang đau đớn như thế nào không?
Mùa đông hãy còn dài. Giá rét ác nghiệt lắm. Hôm nay ấm hơn một chút nhưng gió tuyết rất mạnh. Ở ngoại ô chắc có bão tuyết. Và không thể không cảm động khi biết rằng cái thành phố đang đói không có đèn, lạnh cóng này lại mừng trức đợt băng giá sẽ quật chết lũ giặc Đức trên mặt trận của chúng ta.
Những người môi tím ngắt đứng dưới vòm cổng vào lúc địch bắn phá thường nói đi nói lại: "thật đáng đời chúng nó".
Trận vây lê-nin-grát thường được gọi là "vòng lửa" Không, đúng hơn đó là vòng băng
Tôi bắt đầu viết chương hai bản trường ca. Tôi cố miêu tả chương này một đêm Lê-nin-grát.
Sự sống là gi? Đó là Vitamin và ca-lô-ri. Ở đây cái đó thấy hết sức rõ ràng. Nhưng còn sự dũng cảm đang phá hết những quy ước của cuộc sống và cái chết. Có thể nói Lê-nin-grát nuôi dưỡng trước hết bằng lòng căm thù. Và cũng sống bằng cái đó.

nthach 20-09-2010 12:03

Ngày 5 tháng Giêng 1942

Đạn bắn vào khu chúng tôi, vào ngay mảnh đất của chúng tôi ở đây nữa. Đạn nổ gần đến nỗi chúng tôi được đề nghị phải dời đi khỏi những phòng ở trước cửa của tòa nhà chính.
Mới đây tôi nằm mê hình như tôi và những người khác nữa mà tôi không nhìn rõ, cũng đứng nấp dưới cổng một nhà ở ngoài phố để chờ cho qua đợt pháo kích. Những quả bóng rỗng ruột chói lọi lướt qua. Có người hét to: " hãy chú ý tránh tia nước nhé. Đó là con quay hi độc". Có người hét lên như vậy. Tôi tỉnh dậy, thấy tim mình như bị nén lại. Người ta bảo hình như quân ta đã chiếm lại Mơ-ga rồi. Nhưng ai nghe tin ấy? Hình như không nhà nào có loa truyền thanh kêu được nữa.

nthach 20-09-2010 12:03

Ngày 6 tháng Giêng 1942

Hôm nay lần đầu tiên tôi đến phòng cấp cứu.
Tôi đi qua hai phòng tắm, ở đó có các bể nước sạch nhưng chẳng ai tắm cả.
Trên nền nhà của buồng đầu, một xác đàn ông trần truồng nằm trên cái cáng.Một bộ xương còn tròn trịa hơn. Còn đây là một cái gì chẳng phải phải là hình hài còn máu thịt đâu. Trên họp ngực sâu mà khô như cái cốc, có một mảnh giấy viết tên họ người chết. Tôi không đọc mảnh giấy này.
Mắt người chết vẫn mở. Mặt bị râu phủ kín, một thứ râu mà chẳng loại dao nào cạo nổi. Cái mũi dài trông rất kinh. Trong gian buồng thứ hai để một dãy cáng. Đó cũng là những xác chết đàn ông và đàn bà. Sự gày tọp đi làm họ không phân biệt tuổi tác , là đàn ông hay đàn bà nữa.
Tôi ngạc nhiên là trên chân của xác chết đầu tiên, ở dưới đầu gối còn có máu, một chút máu. Chắc là người này bị ngã. hay là người này bị thương vì cái gì. Tôi nghĩ thầm: " Thế nào? Có nghĩa là trong cơ thể người này đã có máu? Đã có sự sống sao?"
Còn trong tất cả những buồng và hành lang khác, trên ghế dài, trên cáng và ngay cả trên nền nhà, người ngồi, người năm la liệt. Thực ra đó là những xác chết. Khác chăng chỉ là họ mặc quần áo. Trên khuôn mặt họ chỉ có hai con mắt là còn sống. Họ cứ ngồi như vậy hàng bao nhiêu tiếng dodòng hồ. Có hai chị bác sĩ qua lại giữa những người đó. và bản thân các chi cũng chả khác gì xác chết.
Ở đây không chữa cho ai cả mà chỉ cho họ ăn uống. Tất cả những người này đều có một bệnh chung là đói. Trên một chiếc ghế dài có một công nhân nằm đó còn sống. Anh ta cố gắng cử động cái lưỡi lắp đi lắp lại một câu: " Mười bẩy năm … mười bẩy năm trong sản xuất…"
Trên chiếc ghế dài khác có một bà già. Có lẽ không phải bà già, mà như một cái xác rồi. Chỉ đôi mắt là còn sống. Hai môi tím bầm, bà nằm nghiêng. Bên cạnh bà có cái gì cũng không phải gậy mà cũng không giống nạng và một cái túi không. Chắc là từ chỗ xếp hàng mua thực phẩm bà vào thẳng đây.
Giữa cảnh kinh khủng đó cũng lọt vào những tên bịp bợm ốm giả. Chúng cũng bị đói nhưng chưa đến nỗi sắp chết. Bọn chúng vì đĩa cháo mà đến đây đi qua cả thành phố, tranh lấy một miếng ăn của những người kia trong cái buồng tắm ấy.
Liệu còn có đủ sức để chờ đến ngày phá vòng vây không? Và liệu còn độ bao nhiêu người sống sót để vui mừng là họ còn sống?

nthach 20-09-2010 12:04

Ngày 7 tháng Giêng 1942

Không có đài, không có báo. Hôm qua dây nói nội thành trong khu vực của chúng tôi hoàn toàn bị cắt đứt. Không rõ ở các nhà khác thế nào. Chắc ở đâu cũng vậy. Thành phố chết dần như con người mà lần lựpt tất cả các bộ phận trong cơ thể không làm việc nữa…Lúc đầu thì dây nói trong nhà tư bị cắt, bây giờ thì đến các cơ quan. Nhưng thành phố đứng vững; phải đứng vững.
Tôi đi nghe bài giảng của giáo sư Tu-sin-xki về "bệnh đói"-cái tên thực đúng của nó.
Cơ thể gồm có mỡ và bắp thịt. Mỡ, lớp mỡ-đó là cái áo ấm của chúng ta. Bắp thịt, đó là nhà máy sản xuất nhiệt. Khi nào mất cái áo ấm và "nhà máy nhiệt" không làm việc nữa thì chết. Đến lúc đó chúng ta sẽ ăn bắp thịt của mình, ăn đến cái "kho dự trữ". Thể trọng ngày một giảm đi. Nhiệt độ trung bình hạ thấp xuống chỉ trong một ngày.
Gan, đó là cái kho lương thực của người. Một lá gan bình thường nặng 1.500gam. Lá gan của người đói chỉ có 700 gam.
Bên ngoài của bệnh đói biểu hiện qua bệnh phù thũng hoặc là gầy đét đi.Ở người phù thũng thì máu dần loãng ra. Chính máu cũng phù lên.
Da khô đi, không có mồ hôi và mỡ. Người thẫn thờ. Nét mặt có một biểu hiện đặc biệt. Chất Gluy-cô tiêm vào mạch hay là uống có tác dụng phục hồi sức khỏe rất hiệu nghiệm. Chẳng phải vô bổ mà những diễn viên vũ kịch sau một tiết mục biểu diễn lớn phải ăn 50 gam gluy-cô.
Người đói rất cần chất các-buya nghĩa là bánh mì. Chính vì thế mà viện sĩ hàn lâm sinh vật học của chúng ta Páp-lốp nói: "Các cơ quan trong cơ thể của chúng ta rất thông minh, nó cần những gì có lợi cho nó"
Trong các thứ mà tôi quan tâm đến, tôi được biết vì sao chúng tôi lại không bị dịch sốt phát ban. Thì ra đó là vì thành phố bị bao vây. Siêu vi trùng mới không vào được, còn cái cũ trong này thì nó đã yếu đi, " ngắc ngoải" rồi. Và như thế cũng cái vòng vây đang giết thành phố lại cứu nó khỏi bị dịch
Có người nói các đơn vị của tướng Me-re-xcốp đến ngày 10 tháng Giêng sẽ đến Lênin-grat. Ừ, thì cho không phải đúng ngày mồng Mười là ngày Mười lăm, ngày Mười hai hay cuối tháng đi nữa cũng được. Miễn sao có đến là tốt rồi.
Có lẽ không có cái gì làm cho người ta xúc động hơn là cuộc gặp gỡ của nhân dân thành phố với quân đội lần này. Có lẽ trong lịch sử chưa hề có và cũng không thể có nữa.
Không ai biết tí tin tức nào. Không nhận được một chữ nào của các con cả. Chắc đường dây thép cũng bị bom làm đứt rồi. không biết chúng có còn sống không? Có nhận được tiền tôi gửi cho không?
Ngày 27 tháng Giêng Mi-sen-ca tròn một tuổi. Mong sao đến ngày ấy (có thể sớm hay không?) thì vòng vây sẽ bị phá vỡ.

Buổi tối-6 giờ 15 phút.
Lại pháo kích. Thoạt đầu tôi cứ ngỡ là người ta ném củi. Nhưng rồi củi cứ rơi liên tiếp. Sau đó tôi mới nghĩ: "Ở đâu ra lắm cùi thế?" và liền hiểu ngay, đó là pháo kích!

nthach 20-09-2010 12:05

Ngày 8 tháng Giêng 1942

Gần 11 giờ sáng

Hôm qua là một ngày gian khổ. Buổi sáng mất điện. Mãi đến sáng hôm nay mới có điện. Đến sáng mới được ăn cà phê khô và sữa khô, nhưng ngon vô cùng. Tôi ăn một ít cháo nấu bằng kê … (đạn nổ đâu đó rất gần). Tôi xuống dưới nhà. Pháo kích rất dữ dội.
11 giờ 30 phút. Tôi về nhà. Đợt pháo kích đã dứt. Đợt này tuy không lâu nhưng rất dữ dội, y như cái hôm chúng bắn vào chuyến tàu điện ở cạnh chợ Xit-nôi.
Bài tùy bút của tôi gửi đi Cui-bư-sép, đến Phòng thông tin Xô-viết và từ đó được chuyển sang Mỹ. Hôm nay là ngày cuối cùng của thời hạn đặt tiền trước do A-phi-nô-ghe-nốp gửi đến đây cho tôi. Hôm nay là ngày cuối cùng của thời đại đặt tiền trước do A-phi-nô-ghe-nốp gửi đến đây cho tôi. Hôm nay nếu tôi nhận được giấy chứng thực là bài tùy bút của tôi đã đến và sẽ được dùng thì tôi sẽ viết thường xuyên mỗi tháng ba bài.
Muốn gửi bài tùy bút đi, tôi phải chuẩn bị trước vài ba ngày. Trước hết tôi phải chép lại đúng với thể thức bưu điện: "Tôi gửi bài tùy bút đầu tiên nhan đề là mở ngoặc kép chúng tôi sống như thế đấy đóng ngoặc kép chấm xuống dòng ở Lê-nin-grát đang có hai trận tuyến hai chấm trên chiến trường và trong cuộc sống chấm gạch ngang thứ nhất trên đường tiến vào trận tuyến địch phảy nơi hồng quân của chúng ta đang chiến đấu chấm ngạch ngang thứ hai thành phố chấm" vân vân …
Hôm qua lại mang bít tất lên và găng tay cho chồng tôi. Giặt khăn quàng để nó mềm sẽ ấm hơn một chút. Rét kinh khủng. Hôm qua để bánh mì cho anh ấy đi ăn đường, anh sẽ phải đi bộ qua cả thành phố đến tổng cục bưu chính để nhận điện tín nếu như có đèn điện. Dù sao tôi cứ chuẩn bị cho anh cây nến để đến đó có điện báo tiền làm việc.
Anh ấy dậy từ sáng sớm ra đi đến bây giờ mới về. Đáng buồn nhất là không có điện và buổi tối thì không thể làm việc được. Bây giờ 5 giờ đã bắt đầu tối rồi và ban ngày cũng tối. Tuy ban ngày trời băng giá thì quang mây. Bây giờ đây cũng thế.
Nhìn thấy trước "cuộc hành trình điện tín" ngày hôm nay, tối qua dưới ánh đèn "con dơi" (chút dầu lửa cuối cùng) theo sáng kiến của tôi, chúng tôi đã làm một bữa ăn tối thịnh soạn: một nửa củ hành sống (còn một nửa hôm nay sẽ ăn nốt) thái ra từng miếng nhỏ tẩm nhiều muối và dưới dầu quì vào, ăn với bánh mì. Mỗi người được chia ba lát . Chúng tôi bỏ những mẩu vụn bánh mì vào đĩa để nó hút hết chỗ dầu còn lại rồi chia thành hai phần đều nhau. Ngoài ra chúng tôi cũng uống nốt chút rượu vang còn lại, thứ rượu nho thượng hảo hạng "Ararat". Sau đó chúng tôi đi ngủ. Thật là hạnh phúc tuyệt trần. Trong đêm tối nàng " nữ công tước chuột" của chúng tôi hoạt động ngay tức khắc (thì ra nó vẫn còn sống). Nó lại bò lên bàn mổ những mẩu bánh mì vụn y như một con chim vậy. Sau đó nó kêu chíp chíp mò vào cái bình sữa không ( tất nhiên là không có gì) và kêu khe khẽ. Chúng tôi dậy đánh diêm. Thế là "nữ công tước" liền đem tất cả sức còn lại nhảy vọt ra ngoài bình sữa thật là công toi!) rồi chốn mất.
Chúng tôi sẽ không có ánh điện nữa. Người ta dự định cho chúng tôi thắp đèn bốn giờ một ngày đêm, nhưng không biết vào giờ nào, có thể là ban đêm.

nthach 20-09-2010 12:05

Ngày 9 tháng Giêng 1942

Gần 2 giờ trưa.
Pháo kích dữ dội. Chồng tôi đang chấm thi với các sinh viên ở buồng bên. Tôi bình tĩnh.
Gian-na con gái của tôi. Tôi cố không nghĩ đến nó nhưng không thể được. Thư nó gửi đến còn dễ sợ hơn là bất cứ trận pháo kích dữ dội nào. Nó quay cuồng làm sao. Thật là đáng thương. Nó gửi con vào nhà trẻ, Tưởng rằng như vậy là tốt. Bây giờ lại đón con ở đấy về vì con mắc bệnh đậu mùa. Theo nó nói thì nhẹ thôi. Nhưng một đứa bé lại chịu đựng nhiều như vậy có quá không?
Gian-na viết: " Thằng bé rất xinh, rõ ràng là nó đã lớn, sắp đầy tuổi tôi rồi. Nhưng gầy gò quá mà vẫn chưa mọc răng-thật đau lòng quá. Tất cả những áo cộc, áo ngắn lúc mới đẻ thằng bé vẫn mặc được. Tuy rất ngắn nhưng bề ngang lại vừa…"
Tôi vừa xem thư vừa suy nghĩ:" Thằng bé đội cái mũ nằm như thế nào. Tại sao tôi lại để thằng bé đi? Nhưng tôi có thể làm gì hơn được? Chồng tôi an ủi tôi và tôi cũng cảm thấy là mùa đông sắp qua rồi, lúc đó sẽ dễ chịu hơn.
Mọi người đều nhận thấy là chồng tôi rất gầy. Tôi cố gắng dành cho anh phần của tôi-vì tôi cần ít hơn. Tất nhiên cái đó đối với anh cũng chưa đủ.
Đã công bố bức công hàm của đồng chí Mô-lô-tôp gửi cho các đồng minh chúng ta tố cáo những hành động dã man của giặc Đức ở vùng chúng chiếm đóng. Tôi chưa được đọc bức công hàm ấy mà ra-đi-ô thì không nói. Nó vừa phát ra tiếng gì đó. Thì ra đó là đài truyền thanh của địa phương đang thử máy.
Đợt pháo kích đã ngừng.

nthach 20-09-2010 12:05

Ngày 13 tháng Giêng 1942

Tối rồi. Chỗ chúng tôi không có đèn. Song tôi lại cần viết ngay những điều mà ngày hôm nay hai tôi đã nghe được, đó là tiếng còi tầu đầu tiên trong cả thời kỳ bị bao vây.
Tất cả chúng tôi chạy ra sân nghe lại xem có đúng hay không?
Yên lặng. Băng giá. Tuyết nằm im. Chúng tôi đứng và nghe ngóng, Cạnh tôi là tiến sĩ Pe-giar-xcai-a. Bà gợi tôi nhớ tới mẹ đã quá cố. Không phải chỉ khuôn mặt mà cả dáng người. Chúng tôi cùng lắng nghe rồi nhìn nhau. Đúng là tiếng còi xe lửa.
Đúng là đường sắt trên mặt băng mà có người đã nói với chúng tôi chạy qua hồ La-đô-ga đã bắt đầu hoạt động. Rồi những chuyến tầu sẽ chở lương thực từ hồ La-đô-ga vào thành phố. Đó là sinh mệnh của chúng tôi. Có thể đó là cứu tinh của chúng tôi.

nthach 20-09-2010 12:06

Ngày 14 tháng Giêng 1942

4 giờ chiều
Rét kinh khủng, tôi phải mặc áo bành tô và đi găng tay ngồi đọc tác phẩm của Chi-mi-ri-a-dép. Tôi đã biết tên ông, quý mến và kính trọng ông: nhà học giả thế giới, nhà bác học đại chúng. Song về cơ bản tôi không biết gì về thân thể ông ta cả. Thật mà nói, tượng ông đặt ở cổng Nhít-xki, theo tôi chưa thành công lắm. Thân người gầy mà đen. Hai bên chiếc bành tô rất dài. Hai tay khoanh lại một cách nghiêm chỉnh y như một học sinh đang ngồi thi vậy.
Bức tượng kỷ niệm này đã từng bị bom lật đổ vào một trong những cuộc oanh tạc đầu tiên ở Mat-xcơ-va khi tôi còn ở đấy. Nhưng sau đó vài ngày chi-mi-ri-a-dép lại khoanh tay đến lại chỗ cũ như không có gì đã xảy ra. Người ta phục chế lại bức tượng này rất nhanh.
Bây giờ tôi đã đọc cuốn sách nói về diệp lục tố trong thực vật. Ông viết:
" Cuộc sống của thực vật là sự biến hóa thường xuyên của năng lượng ánh sáng mặt trời thành phản ứng hóa học. Cuộc sống của động vật là sự biến hóa của hóa học thành chất nhiệt và sự chuyển động". Ông viết tiếp: " mặt trời hình như lên dây cót" thả xuống đất, và cái dây cót đang mở ra ấy chính là cuộc sống".
" Diệp lục thể là một cái khâu nối liền sự nổ lớn của năng lượng trên trạm phát quang Trung ương của chúng ta với tất cả những biểu hiện đa dạng của cuộc sống trên tinh cầu mà chúng ta đang sống".
Chi-mi-ri-a-dép còn trích dẫn lời của Bôn-xman và Nui-tơn, Nui tơn viết:" Trong những sự biến hóa kỳ dị và muôn màu muôn vẻ như vậy. Không hiểu tại sao thiên nhiên không biến hóa thân thể thành ánh sáng và ánh sáng thành thân thể". Nui-tơn chỉ mới đoán được điều mà Chi-mi-ri-a-dép đã biết rồi.
Bôn-xman viết: " thực vật mở rộng cái bề mặt vô biên của lá và cưỡng chế năng lượng mặt trời trước khi năng lượng hạ thấp bằng nhiệt độ của trái đất và dẫn đến (điều này chưa được hoàn toàn nghiên cứu) "những tổng hợp hóa học mà các phòng thí nghiệm của chúng ta chưa tìm ra".
" Bề mặt rộng mênh mông của lá…" đọc những chữ này trước mắt tôi hiện lên cả một biển cả nhấp nhô cánh lá màu xanh và một phần nhỏ của thế giới đang bay đến với chúng tôi xuyên qua vũ trụ băng giá bao la.

nthach 20-09-2010 12:06

Ngày 15 tháng giêng 1942

9 giờ 15 phút tối
Đêm qua nhà xác bị cháy. người ta đã khiêng đến đây những xác cháy một lửa từ một nhà máy bị hỏa hoạn (hiện nay hỏa hoạn thật là một tai họa). Xác những người mặc áo bông hãy còn âm ỷ cháy nhưng chẳng ai thấy cả.
Lửa âm ỷ giữa hai lớp bông rồi dần dần thoát ra ngoài. Ngọn lửa từ những chiếc áo bông bốc ra vồ lấy những chiếc hòm gỗ không đã cũ để dùng làm quan tài. Khói ùn lên.
Đồng chí đội trưởng cứu hỏa của chúng tôi chạy đến kéo những xác chết ở trong lửa ra.
Không có nước. Phải lấy tuyết ném vào lửa, Cứu được nhà xác khỏi bị cháy.
Vừa dập được đám cháy ở bên này thì bên kia sông Ca-rơ-pôp-ca lại có đám cháy khác dọc theo hàng rào vườn bách thảo, nơi xe vận tải quân sự đỗ.
Vì có người đốt đống lửa vô ý để cháy lan xa chiếc xe chở xăng dầu. Rồi sang chiếc thứ hai. Mô-tơ chiếc thứ ba đang cháy. Chẳng quản nguy hiểm, người ta xông vào cắt chiếc xe này ra khỏi chiếc xe chở xăng. Chiếc thứ hai không có cách nào cứu được. Đành xô nó xuống sông Ca-rơ-pôp-ca làm mặt băng trên sông bị thủng. Một cột lửa bốc lên cao hơn chiếc ống khói lò của chúng tôi. Mà chiều cao của ống lò này đến 40 thước. Sức lửa mạnh đến khinh khủng. Ngồi trong phòng chúng tôi có thể đọc sách được.
Thời gian này tôi bận quá, Ngày sao mà ngắn lại không có điện. Việc nhà chẳng có gì thế nhưng ngày nào cũng phải khâu vá. Tính ham thích trật tự của tôi làm tôi tổn sức nhiều. Mặt khác chính lúc này lại phải hết sức giữ gìn sạch sẽ.
Dù sao thì tôi cũng viết được nhiều. Tối qua tôi đã làm được bảy đoạn thơ; 7 x 6 =42. Đối với tôi như thế đã là nhiều. Chính vì thế mà tôi viết ngay về ông bạn A…
A đây là bạn ở Mát-xcơ-va của chúng tôi. Hiện nay anh đã viết một tác phẩm mang tính chất triết học " tinh thần chiến tranh". Do đó mà anh Quyết định đến thăm Lê-nin-Grát. Ngoài ra ở đây bà con của vợ anh rõ ràng đang bị đói.
Tôi không biết hai lý do đó cái nào quan trọng hơn. Nhưng dù gì đi nữa thì việc A. Đạt được hầu như là khó tưởng tượng; Đến đây trên chiếc máy bay quân sự mang tiền và huân chương.
Hỏi thăm Két-lin-xcai-a-địa chỉ của tôi buổi tối anh A. Đến ngày chỗ tôi. Người ta gọi dây nói từ phòng nghiên cứu của của Bô-rix I-a-cô-vle-vích đến bảo rằng có một nhà văn ở Mát-xcơ-va đến muốn gặp tôi. Nhà văn từ Mát-xcơ-va tới? Lạy chúa tôi! Tôi chùm khăn lên đầu xong chạy xuống dưới vào cái bóng tối rét giá ấy.
Dưới ánh đèn dầu lửa, tôi đã thấy A… Tôi trông mặt người quen quen. nhưng cũng như có lúc tôi không biết đây là ai. Dẫu sao, tuy hầu như không quen biết, đối với tôi anh vẫn thân thiết bao nhiêu. Đúng là người từ nơi ấy đến. Tôi ôm hôn anh. Tôi vui sướng đến quên hết cả. Tôi mời anh ngồi xuống chiếc đi-văng.
-Anh nói đi, kể chuyện đi anh !-Tôi lặp đi lặp lại mấy lần
Anh nhìn tôi một cách âu yếm và thương hại. Chắc là tôi đã thay đổi nhiều.
Trong câu chuyện làm như tôi đã biết cả rồi, anh nói về cái chết của A-phi-nô-ghi-nôp ở Mát-xcơ-va.
-Không thể như thế được!-Tôi kêu lên, nhớ đến đôi mắt, đến cái lúm đồng tiền của A-phi-nô-ghi-nốp, đến con người đi vào cuộc sống một cách dễ dàng, việc gì anh cũng thành công-chết rồi ạ? không đúng! Không thể như thế được. Nhưng tôi lại gục đầu xuống: Không thật đấy, chắc là đúng rồi.
Ngày hôm sau A lại đến. Chúng tôi cùng chia tay với anh trong sân bệnh viện. Anh nhìn những ngôi nhà của chúng tôi, nhìn những cây cối đầy băng tuyết. nhìn những nét mặt người, anh không nói được. Anh ngây người.
Bây giờ anh đã bay trở về Mát-xcơ-va rồi.

nthach 20-09-2010 12:07

Ngày 17 tháng Giêng 1942

Trước đây nửa giờ có một trận pháo kích ngăn nhưng thật dữ dội. Khi tiếng súng chấm dứt, chồng tôi đến Tổng cục Bưu điện gửi tiền cho gia đình và cho Gian-na. Phòng Bưu điện các khu phố đều đóng cửa: Không có đèn, chưa nói đến chuyện không có lò sưởi. Người ta bảo có một phòng Bưu điện có nến nhưng tất cả đều không đi làm. Họ ốm hay đã chết rồi? Vì không có đèn nên Ngân hàng không làm việc. Chính vì thế mà tôi cũng không nhận được tiền của Đài phát thanh. Nghe nói là hạ tuần tháng giêng họ sẽ trả.
Từ mặt trận đưa về những tin vui. Ở Đài phát thanh người ta bảo tôi là Phê-đu-nin-xki đã bắt đầu cuộc tổng công kích. Và ở khu vực hồ I-li-man đang đánh nhau. Bọn Đức viết rằng những trận đánh này về quy mô vượt hẳn những trận Mát-xcơ-va. Nhưng đó có thể là những thử thách cuối cùng của Lê-nin-grát nhưng thử thách nặng nề nhất.
Mà còn giá rét nữa
Lê-la mà chúng tôi bố trí làm hộ lý ở quân y viện đã bị sưng phổi và nằm ở nhà chúng tôi. Tôi đến thăm cô ấy

nthach 20-09-2010 12:07

Ngày 20 tháng Giêng 1942

Buổi sáng
Bận làm thơ và công việc trong nhà thành ra không còn đủ thì giờ để hàng ngày ghi nhật ký như tôi mong muốn.
Những ngày qua tôi sửa chữa và thay bố cục chương nhất bài thơ của tôi. Giờ đây những đoạn mà trước kia tôi cho là hay nhất phải đổi chỗ vì những câu mới làm loãng chúng đi. Tôi viết lại đoạn nói về chủ nghĩa nhân đạo. Chưa bao giờ tôi làm việc say sưa như thế này. Ngay đêm nằm tôi vẫn viết, không thể ngừng lại được. Tôi mệt chết người đi được nhưng vẫn tiếp tục suy nghĩ. Và tất cả cái gì cũng quan trọng. Nhìn gì tôi cũng thấy có nơi có chốn như một cái tổ đã làm sẵn rồi. Đấy là dấu hiệu đầu tiên bảo rằng ý thức hoàn toàn là của công việc và thu nhận tất cả.
Chủ nhật (lại đang lúc pháo kích), chúng tôi đến phố Pe-sốt-sna. Nhà ở của chúng tôi thật khủng khiếp. Một sự hỗn độn giá lạnh. Rét 5 độ dưới không độ.
Mar-phu-sa người làm công của Lê-la đã chết ngày 13.
Trong buồng ăn, những giường bẩn, rác rưởi, lọ mỡ đã hết, đèn dầu, búa, than vụn chỗ nào cũng đầy một lớp nhọ nồi. Tường phủ đầy bụi treo đầy đĩa, đồ sứ, đồ sành.
Trong gian phòng thứ ba mà cách đây đã lâu cửa kính bị rung vỡ hết đầy những vỏ chăn bẩn lạnh giá. Nước trong chậu tắm đã đóng thành băng.
Nhà ở tập thể của sinh viên chuyển xuống tầng dưới cùng. Ở đây ấm áp hơn một chút.
Đêm đến bà Di-na Ô-xi-pô-vla và con gái In-na ra cầu thang áp người vào ống máng lò sưởi ( ở bậc thang vẫn còn phần hơi nóng đến). Ở đây theo họ nói thì họ trở lên vui vẻ và họ mơ ước về tương lai.
Vẫn chưa có tin tức gì của Gian-na cả. Bức thư cuối cùng của nó gửi từ tháng Mười một năm ngoái. Đáng lo lắng. Thằng bé con ốm rất nặng. Gian-na viết: " Vợ chồng con không nghỉ thay nhau chuyền hơi ô xy cho Mi-xa. Nó giống một con chim non, há cái mồm tí xíu ra khi chúng con đưa bình ô xy đến. Nó luôn luôn dũng cảm (nếu hai tiếng này có thể dùng cho một đứa bé mới mười tháng được) chịu đựng tất cả những thứ cay đắng, chịu uống thuốc.
Nguồn an ủi duy nhất của tôi là sau bức thư này lại nhận được lá thư khác nói rằng Mi-sen-ca đã đỡ rồi.
Hôm nay rét tới 28 độ dưới số không

nthach 20-09-2010 12:07

Ngày 20 tháng Giêng 1942

Buổi tối
Tôi viết "Mê-ri-đi-an" ( tên bài thơ của tác giả) rất trôi chảy. Đêm không ngủ được bắt buộc phải viết
Chỉ cần làm sao có đủ sức khỏe và tinh thần!

nthach 20-09-2010 12:08

Ngày 21 tháng Giêng 1942

Một tin quan trọng: Khẩu phần bánh mì đã tăng-công nhân 50 gam, viên chức 100 gam
Ở mặt trận phía ca-li-nin-xki quân ta thắng lớn. Chúng ta đã chiếm lại được Hôn-mơ
Chỗ chúng rét kinh khủng, gần 35 độ dưới số không

nthach 20-09-2010 12:08

Ngày 25 tháng Giêng 1942

Hôm qua rét dưới 40 độ dưới số không, còn hôm nay cũng chẳng thấy triệu chứng gì ấm hơn. Ngày kia là ngày Mi-sen-ca đầy tuổi tôi. cái đồ chơi đầu tiên của nó ( một cái tróng con bằng da, trong có mấy hạt đậu) đang treo ở chiếc đinh bên cạnh đầu giường tôi.
Tôi đến đọc truyện cho những người bệnh ở khoa mắt nghe.

7 giờ tối
Tình hình tai biến. Giờ đây nhiều người xông vào hàng rào gỗ của bệnh viện kéo về làm củi đốt.
Không có nước. Nếu như ngày mai xưởng bánh mì ngừng việc, dù chỉ một ngày thôi thì sẽ ra sao? Hôm nay chúng tôi không có canh. Chỉ có một tí cháo. Buổi sáng còn có cà-phê, những sẽ không còn cái gì là chất nước nữa.
Chúng tôi còn nửa ấm nước nữa (đặt trên bếp lò), nửa xoong nước để rửa và một phần tư bình để mai dùng. Tất cả chỉ có thế. Sáng hôm nay người xếp hàng lấy nước rất đông ở cái hố nơi đạn làm hỏng ống dẫn nước. Nước bẩn nhưng người ta lấy khăn tẩm mà vắt. Bây giờ không biết có còn không. Vì cả khu phố ngay cả thành phố nữa) nước không có còn ở mặt trận của chúng ta thì sao? ra sao?
Nhiều người ngã trên đường sau khi đi cả phố để ăn trưa và không dậy nữa. Nếu đưa họ về nhà thì rồi cái chết cũng không tránh khỏi.
Hôm nay chị I-va-nô-vna kể chuyện gia đình một người thợ ở bệnh viện có năm người chết.
Một người mẹ đã giấu đứa con đã chết rồi và nhận phần sữa của nó (sữa đặc hay sữa đậu) ở bệnh viện. Bán một lít sữa 100 rúp lấy tiền mua bánh mì cho chồng. Đấy có phải là tội phạm không?

nthach 20-09-2010 12:08

Ngày 26 tháng Giếng 1942

Lần đầu tiên tôi phải khóc, vì ức và buồn. Tôi vô ý làm đổ xoong cháo đặt trên lò. Chồng tôi cố nuốt mấy thìa cháo trộn lẫn tro.
Đến nay vẫn chưa có bánh mì. Tuy thế tôi vẫn làm được ba câu thơ đoạn kết của chương "ánh sáng và hơi ấm".
Hầu như không bao giờ tôi viết hay như thế. Nhưng đêm không ngủ, những ngón tay đau như bị kim châm. Lúc đầu là những chiếc kim bé rồi lớn dần và đâm đau hơn. Rồi cả bàn tay tê dại. Hai cánh tay chết dần.

nthach 20-09-2010 12:09

Ngày 27 tháng Giêng 1942

Dù sao thì xưởng bánh mì cũng không nghỉ việc như chúng tôi đã lo lắng. Khi ống dẫn nước không chảy nữa thì 8.000 đoàn viên thanh niên cộng sản cũng như mọi người khác gầy yếu đi vì đói, rét đứng thành dây chuyển từ ngoài sông Nê-va đến tận bàn nhào bánh, chuyền tay nhau từng thùng nước một.
Hôm qua đám người đứng xếp hàng trước cửa hiệu bánh mì dài vô kể. Mãi chiều bánh mì mới mang đến. Dù sao thì vẫn có.
Hôm nay (và đúng vào giờ này đây) Mi-sen-ca tròn một tuổi.

nthach 20-09-2010 12:09

Ngày 29 tháng Giêng 1942

Việc "nội trợ" chiếm ngày càng nhiều thì giờ. Việc bếp núc, rửa bát đĩa, hâm lại canh, cháo, may vá, giặt giũ chiếm mất nửa ngày rồi.
Hôm nay tôi phải làm tổng vệ sinh, một việc mà tôi mơ ước từ lâu. Tôi xếp một phần lớn quần áo vào cái túi du lịch lớn. Chờ đến những ngày tốt đẹp hơn. Chờ khi có nước, có điện, có thể là khi phá được vòng vây sẽ dùng. Một số quần áo khác cần dùng ngay thì tôi van nài chị I-va-nô-vna giặt bằng nước sông Ca-rơ-pốp-ca nổi tiếng mà chúng tôi vẫn dùng để rửa và uống.
Chúng tôi lọc nước đó đến tám lần vải xô, nhưng rồi nước trông vẫn kinh khủng.
Tôi xếp những chiếc áo đẹp xuống tận đáy va-li. Giày cao-su bị nhăn nheo, đã rạn nứt ra. Tôi gói lại trong rẻ rách để đến mùa đông.
Tôi cất chiếc máy chữ đi. Vì lạnh nên băng mực bị khô, chiếc đèn để bàn tôi cũng cất đi vì nó hoàn toàn chẳng cần thiết nữa.
Bây giờ thì hoàn toàn gọn gàng. Nhưng tôi đã không làm việc hai ngày.
Bánh mì rất hiếm. Từ xưởng chỉ đưa ra ít một. Bánh ẩm và nhũn. Rất đông người xếp hàng chờ bánh.

nthach 20-09-2010 12:09

Ngày 30 tháng Giêng 1942

Mấy ngày gần đây không phải chỉ gương mặt người thay đổi mà bộ mặt thành phố cũng đổi thay. Hàng rào biến mất cả. Chỗ chúng tôi ở đây cũng vậy. Nhưng những cây bạch dương và cây bồ đề cổ thụ tươi đẹp còn nguyên vẹn.
Hiện nay đang hình thành những địa hình mới. Những hành lang, những con đường nhỏ, những lối đi tắt, những cái sân đi ngang.
Hôm nay tổ chức đám tang giao sư Li-kha-sốp. Thi hài không có quan tài (sau đó người ta mang đến) đặt trên chiếc bàn hình bầu dục ở giảng đường.
Người chết đã được bọc trong vải. Quanh bàn trong phòng giá lạnh là các giáo sư và phó giáo sư. Nhà tôi đọc điếu văn. Tôi nhìn anh. Anh bỏ chiếc mũ lông ra, nhưng còn để lại chiếc mũ sợi màu đen vì trời lạnh quá. Ngay anh cũng gầy và xanh xao quá.
Điếu văn của anh nói bằng một giọng văn truyền thống hay và chấm dứt với ngữ la-tinh "Sursum corđa!" (không nên nản lòng).

nthach 21-09-2010 07:34

Ngày 2 tháng Hai 1942

Muốn viết cũng như đôi lúc thèm ăn. Thực ra là tôi làm việc về đêm trong giờ ngủ. Mà nằm xuống là óc tôi như bảo: "đến giờ làm việc của tôi rồi. nào bắt đầu đi!" Thế là tôi bắt đầu.
Tôi ngủ không say, chập chờn. Và chỉ cần thức giấc là tôi thấy trong trí mình một giòng hay cả một vần thơ. Những vần thơ đó hình như đêm đến là ở cửa và chờ.
Na-ta-sa trông thấy hai cái xác chết ôm nhau ở cổng chính một bệnh viện nào đó.
Tin tức đã chứng thực rằng La-pin và Kha-xre-vin đã chết ở Ki-ép.

nthach 21-09-2010 07:35

Ngày 3 tháng Hai 1942

Buổi tối
Tôi chưa bao giờ cảm thấy buồn như lúc này. Hai cái bấc đèn dầu làm tâm hồn rối bời. Mong có ánh sáng như mong bánh mì, đôi lúc như cần không khí vậy. Tôi lại đánh đổ một nồi canh khi tôi mang ở bếp ra. Thế là phải lau sàn nhà trơn và lạnh (cũng may là sàn nhà lát đá).
Tâm hồn bần thần quá đến nỗi tôi hầu như không thể viết được. Dù hôm nay cũng có viết ra được một ít.
Lê-li-a nói rất đúng rằng chỉ cần vuốt ve một con chó, một con mèo hay một con vật sống, ấm áp (những "con thú" như chị nói) là chị cảm thấy nhẹ nhõm ngay. Hay là được nghe tiếng chó sủa hay mèo kêu cũng được. Có lúc sự vắng lặng làm tôi mất trí. Như giờ này chẳng hạn: không một tiếng động, không một tiếng rì rào.
Buồng bên kia, chị Xô-phi-a Va-xi-li-e-vna giúp việc trong phòng thí nghiệm của nhà tôi mặc áo bông mà ngủ. Chị không rửa, không thay quần áo đã ba tháng rồi. Chị sắp điên vì nỗi sợ mất phiếu bánh mì. Và thực ra thì chị đã đánh mất phiếu bánh mì liền ba tháng nay rồi. Tôi cũng không biết chị ấy sống bằng gì. Đấy là cái chết vì đói.
Tôi viết … Tôi viết … Tôi mong nhà tôi ở Ủy ban về nhanh lên. Những hành lang lạnh lẽo, âm u. Có hai mẹ con cô gái làm tôi không thể nào quên được, họ cứ như nhân vật trong tác phẩm của Đô-xtôi-ép-xki hiện ra ấy. Mẹ là một bà già đã về hưu. Con gái tên là Lu-li-a khoảng 16 tuổi. Cô bé đội mũ và đeo bao tay có đôi mắt mở to và luôn ngạc nhiên. Một mụ gian giảo nào theo dõi hai mẹ con trong khi xếp hàng mua bánh mì, đến làm quen, lừa dối họ và thế là đi lại nhà và cuối cùng hứa sẽ giới thiệu cho Lu-li-a vào rửa bát ở quân y viện số 21. Hắn mang đến giấy quyết định bổ nhiệm của thủ trưởng (giả mạo cả) cái quân y viện không biết có thật không. Đầu tháng (đúng vào lúc phát phiếu mua bánh mì) mụ "từ thiện" kia mới đến giúp mẹ con bà. Đến 8 giờ tối khi trời đã tối hẳn rồi, mụ dẫn hai mẹ con bà kia đến chỗ cổng chính khu nhà chúng tôi ở (chắc mụ ta là hộ lý trong này hay làm một việc gì đó). Mụ lấy cả hai cái phiếu mua bánh mì cả tháng của hai mẹ con và 45 rúp tiền bà mẹ vừa vay được. Mụ ấy lấy hết nói để mua các thứ và biến ngay vào trong đêm tối.
Cô gái nghe thấy tiếng mụ: "Tôi ở đây, ở đây cơ mà, theo tôi!" giống hệt như trong truyện "Người bắt chuột" của Gơ-rim.
Tôi không thể nào quên được hai mẹ con bà ấy. Bà mẹ với cái giọng não nuột nói đi nói lại: "Lu-li-a, Lu-li-a, mày chôn sống tao rồi, con ơi!"
Còn Lu-li-a thì run rẩy áp đôi bao tay vào ngực, đôi mắt ngây ra, nói khẽ: "Đêm tối quá thế này!" Chắc cô sợ bà mẹ khóc giày vò mình.
Chúng tôi đã viết đơn ngay gửi lên cảnh sát, nhưng đơn từ lúc này thì có tác dụng gì. Cảnh sát thì làm gì được.
Và chúng tôi cũng không biết mẹ con bà ấy đã ra sao rồi.

nthach 21-09-2010 07:35

Ngày 5 tháng Hai 1942

Quân ta đã rút cả về Xmô-len rồi. Lại bắt đầu cuộc chuyển vận gì trong cái nghĩa tản cư đây. Làm thế nào được, chúng ta sẽ rút đi đâu nữa? rút đến chỗ an toàn ư? Có lẽ phải lên tận Iếc-cút mất.

nthach 21-09-2010 07:35

Ngày 9 tháng Hai 1942

Bao nhiêu việc thế mà tôi thấy muốn viết quá. Đi dự hội nghị các nhà văn ở Ban-tích.
Tôi nhận được giấy do Vi-sơ-ni-ep-xki ở cách xa chỗ chúng tôi. Cả một cuộc hành trình và phải ngủ qua đêm.
Thế là lại bận rộn đi mạng bít tất len, bao tay chuẩn bị thức ăn. Nhà bếp cho chúng tôi hai quả trứng để thay hai bữa cơm trưa và hai bữa ăn sáng. Một miếng pho-mat. Nhà tôi cho tôi một phần tư mảnh sô-cô-la lấy ở chỗ dự trữ ra. Như thế là tôi mang theo cũng đầy đủ lắm rồi. Hội nghị định bắt đầu vào đúng 10 giờ sáng, không chậm trễ y như trên hạm tàu vậy.
Ngày ấy chúng tôi dậy từ 6 giờ sáng bởi vì đi đường cũng mất ít ra là hai tiếng đồng hồ. Mà dạo này chúng tôi đi rất chậm.
Đó là buổi sáng rất đẹp. Người ta nghiệm thấy rằng trời càng lạnh dữ thì sắc trời càng dịu.
Chúng tôi ra đi thì mặt trời vừa lên.
Trên đại lộ Ban sôi, chỗ có đường tàu điện bị vùi sâu dưới tuyết, một ngôi nhà đang tiếp tục cháy. Hình như người ta đã cố dập tắt đi suốt đêm. Ngạc nhiên nhất đó là nước. Nước ở ống máng cứu hỏa chảy ra tràn cả một dãy phố. Đây là một cái hồ lớn, hồng lên vì ánh sáng bình minh. Hơi màu trắng bốc lên trên mặt nước.
Trong những ô cửa sổ đen của ngôi nhà đã cháy, mặt trời khổng lồ nổi lên với những hình dáng; lúc thì giống như mảnh trăng lưỡi liềm, lúc lại giống cái câu liêm, lúc thì giống như một mặt trăng tròn đỏ như lửa.
Mải ngắm mặt trời, tôi tụt chân xuống một cái hố nước đặc như hồ dán do nước, tuyết và băng hợp lại. Tôi cảm thấy chân mình như bị bó trong chiếc giày đóng băng. Và tôi cứ đi như thế suốt cả đoạn đường. Cho đến tận hội trường băng tuyết trên dày của tôi mới rơi ra. Vào cuối ngày họp đầu sau những bản báo cáo và tham luận, tôi được yêu cầu ngâm thơ. Tôi liền ngâm chương hai bài thơ "Ánh sáng và hơi ấm", chưa viết xong.
Tôi và Két-lin-xcai-a là phụ nữ và là khách nữa, được ngủ nơi đầy đủ tiện nghi: trên giường kê sau màn ngay trong phòng họp. Căn phòng xám đi vì khói thuốc và lò sưởi nhưng trong đó lại ấm lên vì hơi người và một cái lò nhỏ.
Đến gần sáng vì lạnh quá nên tôi tỉnh dậy. Tôi biết là lò sưởi đã tắt. Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng động y như người ta đang bổ dưa hấu. Thì ra đồng chí Z đang lấy búa bổ ghế ra. Đó là cái ghế mà hội nghị hôm nay vẫn dùng. Tôi nhìn thấy anh ném những thanh gỗ và lò sưới. Thật ra bất hạnh cho những cái ghế của thành phố Lê-nin-grat! Thế là lại ấm rồi. Và tôi lại ngủ được.
Có một số bản tham luận của các nhà văn ở biển Ban-tich thật là thú vị. Đặc biệt là những câu dùng rất chính xác. Tôi đã chép lại mấy câu:
"Đi", "bay", "bò" ra mặt trận.
"Thơ về sự thực hành đúng quy tắc quân sự".
"Hoàn cảnh chóng đổi thay".
"Tàu chạy chủ yếu bằng sức mạnh đạo đức và chính trị của con người vì nồi đốt than đã bị hỏng.
"Hoàn cảnh thanh bình ở dưới hầm"
"Đưa quần chúng thoát ra được chỉ trừ mình ra"
"Tàu ngầm không thích đêm trắng"
"Những truyền đơn của chúng ta tung ra tiền tiêu bằng cung. Hai người căng dây. Người thứ ba bắn mũi tên có cột truyền đơn vào đấy.
Đến cuối ngày thứ hai các đồng chí cho xe ô-tô đưa tôi về nhà.

nthach 21-09-2010 07:36

Ngày 12 tháng Hai 1942

Tôi rất lo cho nhà tôi. Trông anh xanh xao quá. Anh rất gầy và thường rét run, đi lại chậm chạp phải chống gậy. Hai tay lại càng tê hơn. Những lòng tay đỏ và lại phủ lên. Da căng ra như da thuộc và ngời lên.
Tôi viết chương hai bài thơ chậm nhưng cũng hay như chương đầu. Vẫn chẳng có tin tức gì của Gian-na cả. Tôi tự an ủi mình là: Có thê là có thư nhưng nó nằm ở đống thư tại một phòng bưu điện chúng tôi thôi. Có thư đấy, nhưng không đến đấy thôi. Nhưng người khác vẫn nhận được thư. Phong cảnh thành phố thật khủng khiếp.
Tôi đã gặp sáu hay bảy người chết trên xe trượt tuyết. Hai hay ba nằm trong quan tài. Hai cái xác (một đàn ông và một đàn bà) nằm trên đường phố. Chúng tôi đi về vẫn thấy cá còn nằm đấy. Thành phố không có chim tuy hôm nay trên sông Nê-va có ba con chim không phải quạ, không phải sáo nhảy trên băng uống nước. Báo trước một mùa xuân sớm.

nthach 21-09-2010 07:36


Ngày 16 tháng Hai 1942

Theo lời hẹn của tôi với Cô-nin thì ngày mai chúng tôi đến nói chuyện trên tàu khu trục ở bên kia thành phố. Đến đấy phải đi bộ mất hai tiếng đồng hồ. tôi đi chậm để giữ sức. Nhưng đi đến giữa cầu Ki-rốp-xki chỗ lên dốc tôi bỗng thấy như muốn ngã khụyu ngay xuống. Chân mềm nhũn ra, không đứng vững được nữa. Tôi không biết là không thể nào đi đến nơi. Khó nhọc lắm tôi mới đến được nhà Két-lin-xcai-a. Tôi báo cho chị biết là tôi không thể đi được. Chị ta đành đi một mình, Còn tôi thì đi lê bước đến nhà Ô-dê-rét-xki để nghỉ.
Ăn xong, nghỉ một lát. Sau đó tôi ngồi vào chiếc ghế bành kê bên cạnh lò sưởi. Ni-cô-lai I-vanô-vich, A-lê-na và anh lái xe Cô-vlốp ngồi xung quanh. Trong tiếng pháo kích vô cùng dữ dội (đêm hôm trước một quả đạn đại bác nổ ngay cạnh cửa sổ, A-lê-na suýt nữa thì chết), tôi đọc liền hai chương của bài thơ. Ai nấy đều xúc động …
Còn tôi thì quan tâm đến một vấn đề: liệu bài thơ có tác động đến tất cả mọi người như thế không? Hay là chỉ những người Lê-nin-grat đã sống trong vòng vây?


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 18:27.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.