![]() |
Trong trại, các cựu du kích tự giác giúp đỡ lẫn nhau và trông nom những người mới đến. Adam Galinski, một người Ba Lan từng chiến đấu cùng Đội quân Quê hương Ba Lan chống Xô viết, cả trong lẫn sau chiến tranh, đã viết rằng: “Chúng tôi đặc biệt chăm sóc những thanh niên trong Đội quân Quê hương và giúp họ giữ vững tinh thần, điều quan trọng nhất giữa bầu không khí dễ gây thoái hóa đạo đức tác động lên nhiều nhóm dân tộc khác nhau bị giam tại Vorkuta”. (Hoover, Adam Galinski Collection)
Trong những năm về sau, khi cần có nhiều quyền lực hơn để ảnh hưởng tới việc điều hành quản lý trong trại, người Ba Lan, Baltic và Ukraina – cũng như người Gruzia, Armenia và Chesnia – cũng lập ra các đội lao động riêng chỉ toàn người cùng xứ sở, ngủ trong các lán riêng cho người cùng xứ sở và tổ chức kỷ niệm các ngày lễ dân tộc. Trong một số thời kỳ, những nhóm đầy uy thế này có hợp tác chung với nhau. Nhà văn Ba Lan Aleksander Wat đã viết rằng người Ukraina và Ba Lan, những kẻ thù quyết liệt của nhau thời chiến tranh với các hoạt động du kích giành giật nhau từng tấc đất miền Tây Ukraina, nay liên kết với nhau trong nhà tù Liên Xô “vừa dè chừng nhưng cũng vừa giữ uy tín với nhau chưa bao giờ sai hẹn. ‘Chúng ta là kẻ thù, nhưng không phải tại đây’ ”. (Wat, tr. 147) Trong vài thời điểm khác, những nhóm dân tộc này lại vừa kèn cựa nhau, vừa kèn cựa với người Nga. Lyudmila Khachatryan, bản thân bà bị bắt vì yêu một người lính Nam Tư, đã nhớ lại rằng người Ukraina trong trại bà từ chối không chịu làm việc chung với người Nga. (Khachatryan, qua phỏng vấn với tác giả) Một người từng chứng kiến khác cũng viết lại rằng các nhóm dân tộc chống đối “có đặc điểm là một mặt thì thù ghét chế độ, mặt khác cũng rất thù ghét người Nga”. Edward Buca nhớ rằng có một kiểu thù ghét còn phổ biến hơn – “Hiếm khi một tù chịu giúp bất cứ thứ gì cho một người thuộc quốc tịch khác” (Buca, tr. 122) – mặc dù Pavel Negretov, ở Vorkuta cùng thời với Buca, cảm thấy rằng hầu hết các quốc tịch đều sống hòa thuận với nhau, trừ khi họ vướng phải “sự khiêu khích” của ban quản lý: “bọn họ cố gắng, thông qua đám chỉ điểm của mình... khiến chúng tôi cãi cọ với nhau”. (Negretov, qua phỏng vấn với tác giả) |
Vào cuối thập niên 1940, khi các nhóm sắc tộc khác nhau thay thế trách nhiệm của bọn tội phạm để làm cảnh sát giữ trật tự trong trại, đôi lúc họ có đánh lẫn nhau để tranh giành quyền lực. Marlen Korallov nhớ lại rằng “bọn họ bắt đầu đánh nhau giành quyền lực, và có quyền lực nghĩa là rất có lợi: lấy ví dụ, ai làm chủ được nhà ăn sẽ rất sướng bởi đầu bếp phải làm việc trực tiếp vì ông chủ đó”. Theo Korallov, sự cân bằng giữa các nhóm tù lúc đó là hết sức mong manh, có thể dễ dàng bị đảo ngược vì một chuyến tàu vận chuyển mới tới. Lấy ví dụ, khi một nhóm người Chesnia tới lagpunkt của ông, họ tiến vào lán và “ném tất cả đồ đạc tầng giường dưới xuống sàn” trong trại đó tầng giường dưới là tầng của đám “quý tộc” – và thay vào bằng các vật dụng của riêng họ”. (Korallov, qua phỏng vấn với tác giả)
Leonid Sitko, một tù từng trải qua trại tù binh Quốc xã nhưng bị bắt lại ngay sau khi trở về Nga, đã chứng kiến một trận chiến khốc liệt hơn nhiều giữa người Chesnia, người Nga và người Ukraina vào cuối thập niên 1940. Chuyện cãi cọ bắt đầu bằng một tranh luận riêng tư giữa mấy tay đội trưởng và dần dần leo thang: “nó biến thành cuộc chiến tranh, chiến tranh toàn diện”. Đám Chesnia sắp xếp một cuộc tấn công vào lán người Nga, kết quả là nhiều người bị thương. Sau đó, tất cả những tay đầu sỏ đều bị tống vào khám phạt. Mặc dù các tranh luận chỉ có ảnh hưởng bên trong trại, chúng vốn bắt nguồn sâu xa từ vấn đề dân tộc, Sitko giải thích: “Người Baltic và Ukraina xem người Xôviết và Nga là một và cùng giống nhau. Mặc dù có rất nhiều người Nga trong trại, điều đó không cản họ cho rằng người Nga là bọn chiếm đóng và trộm cướp”. |
Bản thân Sitko có lần vào giữa đêm bị một nhóm người Tây Ukraina tiến lại gần:
“Tên mày nghe có vẻ Ukraina”, chúng nói với tôi. “Mày là thằng nào, phản bội phải không?” Tôi giải thích với chúng rằng mình lớn lên ở Bắc Kavkaz, trong một gia đình nói tiếng Nga, và rằng tôi không biết tại sao tôi lại mang họ Ukraina. Chúng ngồi một lát rồi bỏ đi. Hẳn chúng đã có thể giết chết tôi – chúng có đem theo một con dao. (Sitko, qua phỏng vấn với tác giả) Một tù nữ, người trái lại đã nhớ rằng sự khác biệt về dân tộc “không phải là chuyện to tát”, cũng đùa rằng điều đó đúng với mọi người ngoại trừ đám Ukraina, những kẻ đơn giản là “thù ghét tất cả”. (Purizhinskaya, qua phỏng vấn với tác giả) |
Mặc dù nghe có vẻ thừa, trong hầu hết các trại không có băng nhóm riêng của người Nga, nhóm dân tộc chiếm số đông quyết định trong trại, theo như thống kê của chính Gulag trong suốt quá trình tồn tại của cơ quan này. (GARF, 9414/1/206 - thống kê quốc tịch năm 1954) Đúng là người Nga có gắn bó với nhau theo thành phố hay địa phương nơi họ tới. Người Muscovite đi tìm người Muscovite, người Leningrad tìm người Leningrad, v.v. Vladimir Petrov có lần được giúp bởi một bác sĩ, người đã lên tiếng hỏi ông:
“Trước đây cậu ở đâu?” “Là sinh viên ở Leningrad”. ”A! Vậy cậu là đồng hương với tớ - hay quá”, anh bác sĩ nói, tay vỗ vỗ vai tôi. (V. Petrov, tr. 119-137) Thông thường thì đám Muscovite đặc biệt mạnh mẽ và có tổ chức. Leonid Trus, bị bắt khi còn là sinh viên, đã nhớ lại những người Muscovite lâu năm trong trại mình lập ra một mạng lưới chặt chẽ đã gạt ông ra ngoài. Thậm chí trong một dịp, khi muốn mượn một cuốn sách từ thư viện trại, ông đã phải trước hết là thuyết phục người thủ thư, một thành viên của nhóm trên, rằng ông đáng được nhóm tin cậy. (Trus, qua phỏng vấn với tác giả) |
Tuy nhiên, thông thường hơn là các liên hệ như vậy khá yếu ớt, chỉ cung cấp cho tù không gì hơn là những người còn nhớ con phố mà họ từng sống hay biết về ngôi trường họ từng đi học. Trong khi các nhóm dân tộc khác lập ra cả một mạng lưới hỗ trợ hoàn chỉnh, tìm kiếm chỗ ở trong lán cho người mới đến, giúp họ kiếm công việc dễ thở hơn, thì người Nga lại không làm được. Ariadna Efron viết lại rằng khi tới Turukhansk, nơi bà bị đày cùng các tù khác khi bản án trại của bà kết thúc, đoàn tàu của bà gặp một nhóm lưu đày đã định cư tại đây:
Một người Do Thái kéo đám phụ nữ Do Thái vào nhóm mình, cho họ bánh mì, giải thích cho họ cách xử sự và cái gì phải làm. Sau đó nhóm phụ nữ Gruzia gặp được một người Gruzia – và, sau một chốc, chỉ còn lại mình người Nga chúng tôi, có lẽ khoảng mười tới mười lăm người. Không ai tới gặp chúng tôi, mời chúng tôi bánh mì hay cho chúng tôi bất cứ lời khuyên nào. (Federolf, tr. 234) Đã vậy, lại còn có một số phân biệt trong đám tù người Nga – sự phân biệt căn cứ theo lý tưởng hơn là theo sắc tộc. Nina Gagen-Torn viết rằng “phần đông cơ bản phụ nữ trong trại hiểu rằng số phận và sự đau khổ của mình là một điều bất hạnh ngẫu nhiên và không cố tìm hiểu nguyên nhân”. Tuy nhiên, đối với những người “tự tìm cho mình một cách giải thích cho những gì đã và đang xảy ra và tin vào đó thì mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn”. (Gagen-Torn, tr. 205) Chủ yếu những người tìm thấy lời giải thích là đám người cộng sản: đó là những tù tiếp tục giữ được sự ngây thơ của mình, tiếp tục thừa nhận trung thành với đất nước Liên Xô, và tiếp tục tin, bất chấp mọi bằng chứng, rằng những người khác là kẻ thù thực sự và cần phải tránh xa. Anna Andreeva nhớ lại rằng người cộng sản đi tìm kiếm đồng chí: “Họ tìm thấy và gắn bó với nhau, họ là những người Xôviết trong sạch và cho rằng mọi người khác đều là tội phạm”. (Andreeva, qua phỏng vấn với tác giả) Susanna Pechora kể lại cảnh bắt gặp họ lúc tới Minlag đầu những năm 1950, “đang ngồi trong một góc phòng và nói với nhau: ’Chúng ta là những người Xôviết trung thực, hoan hô Stalin, chúng ta vô tội và đất nước sẽ giải phóng chúng ta khỏi sống cùng tất cả đám kẻ thù này’ ”. (Pechora, qua phỏng vấn với tác giả) |
Cả Pechora lẫn Irena Arginskaya, một tù ở Kengir cùng thời gian đó, đều nhớ lại rằng hầu hết thành viên các nhóm như vậy đều thuộc tầng lớp Đảng viên cao cấp bị bắt những năm 1937 và 1938. Hầu hết đều lớn tuổi; Arginskaya nhớ rằng họ thường tụ tập trong trại tù tàn tật, nơi vẫn còn nhiều người bị bắt trong các thời kỳ trước đó. Anna Larina, vợ của nhà lãnh đạo Xôviết Nikolai Bukharin, là một trong những người bị bắt thời kỳ đó ban đầu vẫn còn trung thành với Cách Mạng. Khi còn ở trong nhà tù, bà đã viết một bài thơ chào mừng lễ kỷ niệm Cách Mạng Tháng Mười:
Mặc dù phải ngồi sau song sắt này, Gặm nhấm nỗi đau đớn cảnh đọa đày Tôi vẫn vui mừng kỷ niệm Ngày lễ Đến cùng tổ quốc hạnh phúc của tôi. Hôm nay tôi tìm được niềm tin mới Tôi như được tái sinh và sẽ sống, Sẽ lại rảo bước cùng Đoàn Komsomol Vai chung vai dọc trên Quảng trường Đỏ! Về sau, Larina xem bài thơ này “như cơn mê đắm của một người điên”. Nhưng vào lúc ấy, bà ngâm nó cho các bà vợ của những nhà lão thành Bolshevik khác, rồi “họ cảm động đến ứa lệ và vỗ tay hoan hô”. (Larina, tr. 159) |
Solzhenitsyn dành hẳn một chương của Quần đảo Gulag cho những người cộng sản, những người mà ông quy kết một cách không độ lượng cho lắm là đám “những nhà tư tưởng tốt bụng viển vông”. Ông lấy làm lạ trước khả năng họ thậm chí có thể thanh minh cho việc mình bị bắt, tra tấn và tống giam, tùy hoàn cảnh, là do “hoạt động vô cùng xảo quyệt của các cơ quan tình báo nước ngoài” hay do “sự phá hoại trên một quy mô khổng lồ” hay là “một âm mưu của bọn NKVD địa phương” hay do “sự phản bội”. Một số đi đến một cách giải thích thậm chí còn trịch thượng hơn nữa: “Những sự đàn áp này là một tất yếu lịch sử cần thiết để giúp xã hội chúng ta phát triển”. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 330)
Về sau, một số những con người trung thành ấy cũng có viết hồi ký, được chế độ Xôviết vui lòng cho xuất bản. Ví dụ như cuốn tiểu thuyết ngắn của Boris Dyakov, Câu chuyện của người sống sót, đã được xuất bản năm 1964 trên tạp chí Oktyabr, cùng với lời giới thiệu sau: “Sức mạnh trong câu chuyện của Dyakov nằm ở thực tế rằng nó viết về những con người Xô viết chân chính, viết về những người cộng sản trung thực. Trong điều kiện khó khăn, họ không bao giờ để mất nhân tính của mình, họ trung thành với lý tưởng của Đảng, họ cống hiến tất cả cho Tổ quốc”. Một trong những anh hùng của Dyakov, Todorsky, kể lại mình đã giúp một trung úy NKVD viết bài diễn văn về lịch sử Đảng như thế nào. Trong một lần khác, anh này nói với viên sĩ quan an ninh của trại, thiếu tá Yakovlev, rằng mặc dù mình bị kết án oan, anh vẫn tin mình là một người cộng sản chân chính: “Tôi không phạm tội chống lại chính quyền Xôviết. Do đó, tôi đã và vẫn là một người cộng sản”. Viên thiếu tá khuyên anh nên giữ im lặng về việc này: “Sao lại phải la lớn về chuyện này? Anh tưởng mọi người trong trại thích dân cộng sản lắm à?” (Dyakov, tr. 60-67) |
Thực sự bọn họ đúng là không được ưa: những người cộng sản công khai thường bị nghi ngờ là làm việc, hoặc bí mặt hoặc không, cho chính quyền trại. Khi viết về Dyakov, Solzhenitsyn đã nhấn mạnh rằng hồi ký của ông này hóa ra đã lờ đi một số chuyện. “Để đổi lấy cái gì”, ông hỏi, mà viên sĩ quan an ninh Sokovikov đã đồng ý bí mật gửi bức thư của Dyakov cho ông ta, vượt qua kiểm duyệt trong trại? “Thứ tình bạn đó – xuất phát từ đâu vậy?” (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 351-352) Trong thực tế, hồ sơ lưu trữ hiện nay cho thấy Dyakov là một nhân viên công an mật trong suốt cuộc đời mình – mật danh “Chim gõ kiến” – và rằng ông ta đã tiếp tục làm chỉ điểm trong trại. (Shentalinsky, tr. 163-165)
Nhóm duy nhất có được niềm tin tuyệt đối vượt trên những người cộng sản là các tín đồ Chính thống, cũng như tín đồ của các giáo phái Tin Lành Nga cũng là đối tượng của sự ngược đãi chính trị: phái Tẩy Lễ, phái Nhân chứng của Jehovah, cùng các biến thể của chúng ở Nga. Họ có mặt đặc biệt mạnh mẽ trong các trại của nữ, nơi họ được gọi một cách phổ thông là monashki, tức là “các xơ”. Cuối thập niên 1940, trong trại nữ ở Mordovia, Anna Andreeva nhớ rằng “phần lớn tù đều là tín đồ”, đã tự tổ chức sao cho “vào các ngày lễ thì người Kitô giáo làm lễ cho Chính thống giáo và ngược lại”. (Andreeva, qua phỏng vấn với tác giả) |
Như đã lưu ý ở trên, một số những giáo phái đó từ chối cộng tác bằng bất cứ hình thức nào với bọn quỷ dữ Xôviết, không chịu làm việc hay ký bất cứ giấy tờ chính thức nào. Gagen-Torn kể lại một nữ tín đồ được thả vì bị bệnh, nhưng đã từ chối rời trại. “Ta không công nhận chính quyền các người”, bà ta nói với người lính gác đưa ra đề nghị cho bà mọi giấy tờ cần thiết và đưa bà về nhà. “Quyền lực của các người là bất hợp pháp, sự phản Chúa nằm trên giấy phép của các người... Nếu ta được tự do, các người sẽ lại bắt ta. Không có bất cứ lý do gì để rời khỏi đây”. (Gagen-Torn, tr. 208) Aino Kuusinen ở chung trại với một nhóm tù nữ từ chối mặc quần áo có đánh số, và vì thế mà “thay vào đó số tù được đóng dấu ngay trên da trần của họ”, và họ bị buộc phải tham gia điểm danh buổi sáng và buổi chiều trong trạng thái trần như nhộng. (Kuusinen, tr. 202)
Solzhenitsyn kể lại câu chuyện, được nhắc lại dưới nhiều hình thức bởi những người khác, về một nhóm tín đồ giáo phái bị đưa tới Solovetsky năm 1930. Họ từ chối bất cứ thứ gì của “bọn phản Chúa”, từ chối cầm hộ chiếu và tiền Liên Xô. Để trừng phạt, họ bị đưa tới một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Solovetsky, nơi họ được cho biết sẽ chỉ được nhận thức ăn nếu đồng ý ký nhận chuyện này. Họ đã từ chối. Trong vòng hai tháng tất cả đều chết đói. Chuyến tàu kế tiếp tới đảo, một nhân chứng kể lại, “chỉ tìm thấy những xác chết đã bị lũ chim rỉa bới”. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 65-66) |
Thậm chí những tín đồ giáo phái đồng ý làm việc cũng không chịu sống chung với các tù khác, và đôi khi còn từ chối nói chuyện với họ. Họ tụ tập với nhau trong một lán, giữ hoàn toàn im lặng, hoặc cầu nguyện và lầm nhầm hát bài thánh ca của mình vào giờ giấc định sẵn:
Tôi ngồi sau chấn song nhà tù Lòng thầm nhớ hình ảnh Chúa Kitô Khiêm nhường từ tốn vác Thập giá nặng trĩu Cùng sự ăn năn, lên núi Golgotha. (Ulyanovskaya và Ulyanovskaya, tr. 300) Các tín đồ quyết liệt hơn có khuynh hướng truyền các cảm xúc lẫn lộn lên một bộ phận của cộng đồng tù. Arginskaya, một tù thế tục đầy kiên quyết, đã đùa mà nhớ lại rằng “tất cả chúng tôi đều không ưa họ”, đặc biệt là những người vì lý do tôn giáo đã từ chối tắm rửa. (Arginskaya, qua phỏng vấn với tác giả) Gagen-Torn nhớ rằng các tù khác đã than phiền về những người từ chối làm việc: “Chúng tôi làm còn họ thì không! Vậy mà họ cũng vẫn có bánh mì!” (Gagen-Torn, tr. 208) Nhưng trong một khía cạnh nào đó, những đàn ông và phụ nữ tới khu trại mới mà ngay lập tức gia nhập được vào một băng nhóm hay một giáo phái đều là đã may mắn. Bởi những ai trong đó, băng nhóm tội phạm, các nhóm dân tộc chống đối, những người cộng sản chân chính hay các giáo phái tôn giáo đều được cung cấp cảm giác cộng đồng, mạng lưới hỗ trợ và tình bằng hữu. Trái lại, hầu hết các tù chính trị và phần lớn đám tội phạm “thường” – chiếm số đông trong cộng đồng cư dân Gulag – đều không hòa hợp quá dễ dàng với các nhóm như vậy. Họ cảm thấy khó nắm bắt cách sống trong trại hơn, khó quen với nguyên tắc trong trại và cơ chế quản lý trại. Không có mạng lưới quan hệ có uy thế, họ phải tự học lấy các quy tắc để tồn tại. Hết chương 14 |
Trích:
Theo hungmgmi hiểu, Arginskaya là một nữ phạm nhân vô thần (không có tín ngưỡng gì cả), tiếng Nga là атеистка. Dịch vậy sẽ hiểu dễ dàng hơn khi cô nói về những người kiêng tắm rửa vì lý do tôn giáo. Trích:
Rất khâm phục công trình đáng nể này của chú. Mong được đọc tiếp nhanh chương 15 nhé:emoticon-0150-hands |
Cám ơn anh, cũng mong anh góp ý để hoàn thiện hơn.
|
Vậy ta hãy cùng đi từ đầu, để cho liền mạch chuyện....
http://i653.photobucket.com/albums/u...he/Gulag/1.jpg I Nguồn gốc của Gulag 1917-1939 1 Khởi đầu thời kỳ Bolshevik Họng ta bị chúng đập nát, Ôi thời tươi đẹp khốn khổ của tôi, Nở một nụ cười ngu xuẩn Ta nhìn lại, yếu ớt và tàn nhẫn, Như con thú dữ khi về già, Ngắm dấu vết cũ móng vuốt mình. -Osip Mandelstam, “Vek” Một trong những mục tiêu của tôi là tiêu diệt huyền thoại cho rằng thời kỳ dữ dội nhất của sự đàn áp chỉ bắt đầu từ năm 1936-37. Tôi cho rằng trong tương lai, số liệu thống kê sẽ cho thấy làn sóng bắt bớ, xử án và đi đày đã bắt đầu ngay từ đầu năm 1918, thậm chí trước khi có tuyên bố chính thức vào mùa thu năm ấy về chính sách “Khủng bố Đỏ”. Kể từ khi ấy, cơn sóng chỉ luôn lớn dần lớn dần, cho tới khi Stalin chết... - Dmitri Likhachev, Vospominaniya, tr. 118. Năm 1917, có hai làn sóng cách mạng lan ra khắp nước Nga, quét cái xã hội đế quốc Nga cũ sang bên lề như thể xô đổ căn nhà xếp bằng những lá bài. Sau khi Sa hoàng Nikolai II thoái vị vào tháng Hai, các sự kiện diễn biến cực kỳ phức tạp rất khó làm ngưng lại hoặc kiềm chế được. Aleksandr Kerensky, người cầm đầu Chính phủ Lâm thời hậu Cách mạng tháng Hai, sau này đã viết rằng trong khoảng trống phía sau sự sụp đổ của chế độ cũ, “mọi chương trình chính trị và mưu lược cũ, dù táo bạo và suy tính cẩn thận đến đâu chăng nữa cũng trở thành vô mục đích và bất dụng giữa khoảng không đó” (Pipes, tr. 336-7). Nhưng mặc dù Chính phủ Lâm thời có yếu đuối, mặc dù sự không hài lòng trong dân chúng có lan rộng, mặc dù lòng căm giận đối với cơn chém giết trong Thế chiến I có dâng cao, rất ít người nghĩ rằng quyền lực sẽ rơi vào tay người Bolshevik, một trong những đảng xã hội cấp tiến muốn thúc đẩy xã hội thay đổi nhanh chóng hơn nữa. Ở nước ngoài, những người Bolshevik rất ít được biết tới. Một giai thoại đơm đặt đã mô tả rất khéo thái độ này ở nước ngoài: giai thoại kể rằng, vào năm 1917, một công chức nhào vào phòng làm việc của Bộ trưởng Ngoại giao Áo và hét lên “Thưa đức ngài, có một cuộc cách mạng nổ ra ở Nga!”. Vị bộ trưởng khịt khịt mũi: “Ai có thể làm nổ ra một cuộc cách mạng ở Nga? Chắc chắn không phải là Quý ngài (Herr) vô hại Trotsky vẫn hay ngồi ở quán Café Central chứ hả?” |
Nếu nguồn gốc của phe Bolshevik lúc đó là bí ẩn thì lãnh tụ của họ, Vladimir Ilyich Ulyanov – người mà cả thế giới sẽ biết tới qua bí danh hoạt động cách mạng là “Lenin” – thậm chí còn bí ẩn hơn. Trong suốt nhiều năm làm người cách mạng lưu vong, Lenin trở nên nổi bật nhờ sự uyên bác của mình, nhưng cũng không được ưa vì lối ăn nói không đúng mực và tính bè phái của mình. Ông thường gây chiến với những lãnh tụ xã hội khác và có khuynh hướng đẩy các bất đồng lặt vặt về những vấn đề giáo điều có vẻ không thích hợp vào các tranh luận quan trọng.
Trong những tháng đầu tiên sau Cách mạng tháng Hai, Lenin vẫn còn xa mới có thể nắm giữ một vị trí lãnh đạo chủ chốt, thậm chí ngay cả trong đảng của mình. Mãi tới cuối tháng Mười năm 1917, một số lãnh đạo Bolshevik vẫn còn phản đối kế hoạch của ông muốn tiến hành cuộc đảo chính chống lại Chính phủ Lâm thời, cho rằng Đảng chưa được chuẩn bị để nắm quyền lực và không có đủ sự ủng hộ của quần chúng. Tuy nhiên ông đã thắng trong cuộc tranh luận này và ngày 25 tháng Mười cuộc đảo chính bắt đầu. Dưới ảnh hưởng từ tác động của Lenin, một nhóm người xông vào phá Cung điện Mùa đông. Những người Bolshevik bắt giữ các bộ trưởng Chính phủ Lâm thời. Sau vài giờ, Lenin đã trở thành lãnh tụ một quốc gia mà ông đổi tên là nước Nga Xôviết. Tuy mặc dù Lenin đã thành công trong việc nắm quyền lực, các chỉ trích ông từ phía các lãnh đạo Bolshevik không phải là hoàn toàn sai. Những người Bolshevik thực tế đã chưa được chuẩn bị sẵn sàng. Hậu quả là hầu hết những quyết định ban đầu của họ, bao gồm cả việc tạo lập một nhà nước độc đảng, được thực hiện chỉ để đáp ứng nhu cầu của tình thế tại thời điểm đó. Sự ủng hộ của quần chúng đối với họ không cao, và hầu như ngay lập tức họ khơi ra một cuộc nội chiến đẫm máu, đơn giản là để vẫn giữ được quyền lực. Từ năm 1918, khi đám Bạch vệ tập hợp lại để chống Hồng quân non trẻ - do một đồng chí của Lenin là “Herr Trotsky” ở “quán Café Central” thành lập – những trận đánh dữ dội nhất trong lịch sử Châu Âu đã bùng lên trên khắp nước Nga. Không phải tất cả những hành động bạo lực đều diễn ra trên chiến trường. Những người Bolshevik đi chệch khỏi thông lệ của mình để nghiền nát các chống đối chính trị và trí thức bằng bất cứ cách nào, tấn công không chỉ các đại diện của chế độ cũ mà cả vào các thành phần xã hội khác: Menshevik, Vô chính phủ, Cách mạng Xã hội. Mãi tới năm 1921 Nhà nước Xô viết non trẻ mới có được hòa bình. Trong bối cảnh đầy những đối phó và bạo lực như vậy, các trại lao động Xôviết đầu tiên ra đời. Cũng như nhiều cơ quan Bolshevik khác, chúng được tạo ra để đối phó, một cách vội vàng, như một biện pháp khẩn cấp giữa hơi nóng của cuộc nội chiến. Điều này không có nghĩa rằng ý tưởng thành lập nó không được suy tính từ trước. Ba tuần trước Cách Mạng Tháng Mười, chính Lenin đã đưa ra một kế hoạch được ông thừa nhận là còn mơ hồ để tổ chức thực hiện “trách nhiệm lao động cưỡng bức” cho những người tư bản giàu có. Tháng Giêng 1918, khó chịu vì các phản kháng chống Bolshevik quá mức, ông thậm chí còn kiên quyết hơn và viết rằng mình chấp nhận “cho bắt giữ những tên phá hoại triệu phú đang dạo chơi trên các toa tàu hạng nhất và hạng nhì. Tôi đề nghị kết án chúng một năm rưỡi lao động cưỡng bức trong mỏ than” (Geller, tr. 23-24). |
Quan điểm của Lenin về trại lao động như một hình phạt dành riêng cho một số loại “kẻ thù” tư sản cá biệt phù hợp với các quan điểm khác của ông về tội ác và tội phạm. Một mặt, nhà lãnh đạo Xô viết hàng đầu này cảm thấy còn lấn cấn về việc giam giữ và trừng phạt đám tội phạm kiểu truyền thống – ăn cắp, móc túi, giết người – những kẻ mà ông xem như đồng minh tiềm tàng. Theo ông, nguyên nhân gây ra sự “vượt quá giới hạn xã hội” (tức là phạm tội) là do “sự bóc lột quần chúng”. Ông tin rằng nếu xóa bỏ nguyên nhân này sẽ “khiến những vượt quá giới hạn xã hội bị xóa sổ”. Khi đó sẽ không cần thiết có hình phạt đặc biệt nào để ngăn cản tội phạm: đến lúc nào đó, chính Cách mạng sẽ xóa sạch chúng. Một số lời lẽ trong luật hình sự đầu tiên của nhà nước Bolshevik có thể làm cảm động trái tim của những nhà hoán cải tội phạm cấp tiến và tiến bộ nhất ở phương Tây. Ngoài ra, bộ luật này tuyên bố rằng “không xem phạm tội chỉ là tội lỗi của cá nhân”, và rằng hình phạt “không nên được sử dụng như một sự trả thù” (Jakobson, tr. 18-26).
Mặt khác, Lenin – cũng như các nhà lý thuyết chính thống Bolshevik noi theo gương ông –suy tính rằng sự hình thành Nhà nước Xôviết sẽ tạo ra một loại tội phạm mới: “kẻ thù giai cấp”. Một kẻ thù giai cấp sẽ chống lại Cách mạng và sẽ hành động công khai hoặc phổ biến nhất là hoạt động bí mật để tiêu diệt Cách mạng. Kẻ thù giai cấp khó xác định hơn là tội phạm thông thường, và rất khó để cải tạo. Không như tội phạm thông thường, không bao giờ có thể tin tưởng hoàn toàn được rằng một kẻ thù giai cấp sẽ hợp tác với chính quyền Xôviết, và cần những hình phạt nghiêm khắc hơn là hình phạt đối với trộm cắp giết người thông thường. Do đó vào tháng Năm năm 1918, sắc lệnh Bolshevik đầu tiên về “tội hối lộ” tuyên bố rằng: “Nếu kẻ phạm tội nhận hoặc đưa hối lộ thuộc giai cấp hữu sản và sử dụng hối lộ để giành được hoặc duy trì đặc quyền liên quan tới những quyền sở hữu, người này phải bị kết án lao động cưỡng bức nặng nhất và khắc nghiệt nhất, đồng thời mọi tài sản của người này phải bị tịch thu” (Dekrety, tập II tr. 241-242; tập III tr. 80. Hoặc Geller, tr. 10; Pipes, tr. 793-800). Nói một cách khác là ngay từ những ngày tháng đầu tiên của chính quyền Xôviết non trẻ, con người bị kết án không phải do họ đã làm những gì, mà do họ là ai. |
Chẳng may, không một ai từng cung cấp được khái niệm rõ ràng rằng một “kẻ thù giai cấp” sẽ như thế nào. Kết quả là sự bắt bớ mọi loại người tăng đáng kể kể từ khi những người Bolshevik lên nắm quyền. Kể từ tháng Mười Một năm 1917, các phiên toà cách mạng, bao gồm những “người ủng hộ” Cách mạng được chọn ngẫu nhiên, bắt đầu kết án bừa bãi những “kẻ thù” của Cách mạng. Các án tù, lao động cưỡng bức và thậm chí tử hình được phân phát tùy tiện cho từ các ông chủ nhà băng, vợ các thương gia hay những kẻ “đầu cơ” – nghĩa là bất cứ ai liên quan tới hoạt động kinh tế tư nhân – cho đến các cựu cai ngục thời Sa hoàng và bất cứ ai có vẻ đáng ngờ (Jakobson, tr. 18-26; Sắc lệnh “Về các phiên tòa Cách Mạng” in trên tờ Sbornik, ngày 19/12/1917, tr. 9-10).
Định nghĩa về ai là hoặc ai không là “kẻ thù” cũng khác nhau từ vùng này đến vùng khác, đôi khi nhập nhằng cả với định nghĩa “tù binh chiến tranh”. Sau khi chiếm một thành phố mới, Hồng quân của Trotsky thường bắt làm con tin các người tư sản, những người này sẽ bị xử bắn trong trường hợp quân Bạch vệ quay trở lại, và điều này thường xuyên xảy ra do tình hình mặt trận thay đổi thất thường. Trong thời gian này họ bị bắt phải lao động cưỡng bức, thường là đào chiến hào và xây dựng chiến lũy (Hoover, Melgunov Collection, Box I, Folder 63). Sự phân biệt giữa tù chính trị và tù thường phạm khá tùy tiện. Những thành viên ít học của các ủy ban lâm thời và tòa án cách mạng có thể, lấy ví dụ, đột nhiên kết luận rằng một người bị bắt khi đi lậu vé trên tàu điện là đã chống lại xã hội và kết án anh ta là phạm tội chính trị (Okhotin và Roginsky, tr. 13). Cuối cùng, những quyết định như vậy được dành cho công an hoặc binh lính đi bắt giữ thực hiện. Feliks Dzerzhinsky, người sáng lập Cheka – cơ quan công an mật thời Lenin, tiền thân của KGB – bản thân có giữ một cuốn sổ đen nhỏ trong đó ông nguệch ngoạc tên và địa chỉ những “kẻ thù” ngẫu nhiên mà ông tình cờ bắt gặp trong khi đang làm nhiệm vụ (RGASPI, 76/3/1 và 13). |
Những sự phân biệt này tồn tại mù mờ mãi cho tới tận khi Liên Xô sụp đổ tám mươi năm sau. Tuy nhiên, sự tồn tại hai loại tù – “chính trị” và “thường phạm” – có ảnh hưởng sâu sắc lên việc hình thành hệ thống hình luật Xôviết. Trong thập kỷ đầu tiên của thời đại Bolshevik, các trại cải tạo Xôviết thậm chí bị tách làm hai loại dành cho mỗi loại tù nói trên. Việc chia tách phát sinh tự phát như là một phản ứng đối với tình trạng hỗn loạn của hệ thống trại giam hiện hữu. Trong những ngày tháng đầu của Cách mạng, tất cả tù nhân bị giam dưới quyền hạn pháp lý của các bộ hành pháp “truyền thống”, đầu tiên là Dân ủy Tư pháp và về sau là Dân ủy Đối nội, và giam trong hệ thống nhà giam “thông thường”. Có nghĩa là họ bị ném vào hệ thống nhà tù còn sót lại từ thời Sa hoàng, thường là vào những nhà giam bằng đá bẩn thỉu tăm tối nằm ở trung tâm của mỗi thị trấn lớn. Trong những năm Cách mạng từ 1917-1920, các cơ quan này bị xáo trộn hoàn toàn. Đám đông hỗn tạp xông vào phá nhà giam, đám chính ủy tự phong sa thải lính gác, tù nhân được nhận ân xá vô thời hạn hoặc đơn giản là tự bỏ đi (Jakobson, tr. 10-17; Okhotin và Roginsky, tr. 10-24).
Vào thời điểm người Bolshevik nắm quyền, một vài nhà tù còn hoạt động trở nên chật chội và thiếu thốn. Chỉ vài tuần sau Cách mạng, chính Lenin đã yêu cầu “thực hiện các biện pháp tối đa để cải thiện lập tức việc cung cấp thực phẩm cho các nhà tù ở Petrograd” (Dekrety, tập I, tr. 401). Vài tháng sau, một thành viên của Cheka Moscow tới thanh sát nhà tù Taganskaya của thành phố và báo cáo rằng “bẩn thỉu và lạnh kinh khủng”, cũng như đang có dịch sốt chấy rận và thiếu đói. Hầu hết tù nhân không thể thực hiện án lao động cưỡng bức vì họ không có quần áo. Một tờ báo ghi lại rằng nhà tù Butyrka ở Moscow được thiết kế để giam 1.000 tù, nhưng đang chứa 2.500 tù. Một tờ báo khác than phiền rằng Cận vệ Đỏ đang “bắt giữ không có hệ thống hàng trăm người mỗi ngày, và rồi không biết phải làm gì tiếp theo với họ” (Hoover, Melgunov Collection, Box I, Folder 4). |
Tình trạng quá tải dẫn đến những giải pháp “sáng tạo”. Thiếu điều kiện nâng cấp, chính quyền mới giam giữ tù nhân trong các tầng hầm, tầng áp mái, các dinh thự bỏ hoang và nhà thờ cũ. Một người sống sót sau này kể lại mình bị nhét vào tầng hầm của một căn nhà hoang, trong một phòng lèn tới 50 người, không có thiết bị vệ sinh và giường chiếu, rất ít thức ăn: những ai không được người nhà tiếp tế thì chỉ có cách nhịn đói (Một người dấu tên, Vo vlasti Gubcheka, tr. 3-11). Tháng 12 năm 1917, một ủy ban Cheka phải nhóm họp để bàn về số phận nhóm tù hỗn hợp 56 người, bao gồm tội ăn trộm, say rượu và nhiều hạng tội phạm “chính trị” khác nhau, đang bị giam dưới tầng hầm của Điện Smolny, trụ sở của Lenin ở Petrograd (Hoover, Melgunov Collection, Box I, Folder 4).
Không phải tất cả mọi người đều phải gánh chịu khó khăn trong tình trạng hỗn loạn đó, ví dụ như Robert Bruce Lockhart, một nhà ngoại giao Anh bị tố cáo tội gián điệp (cáo buộc này chính xác, theo như những gì đã xảy ra), bị giam từ năm 1918 trong một căn phòng ở Điện Kremlin. Ông này được thoải mái chơi bài Patience, đọc Thucydides và Carlyle. Thỉnh thoảng, một cựu hầu phòng từ thời Sa hoàng lại đem đến cho ông trà nóng và mấy tờ báo (Lockhart, tr. 326-345). Nhưng thậm chí cả ở trong các nhà giam cũ còn lại thì chế độ tù cũng thất thường còn cai ngục thì thiếu kinh nghiệm. Một tù tại thành phố Vyborg miền bắc Nga khám phá ra rằng, trong cái xã hội hậu cách mạng tất cả đều đảo lộn nháo nhào thì tay lái xe của ông ta đã đổi sang nghề cai tù. Anh này vui vẻ giúp cho ông chủ cũ của mình được chuyển sang phòng giam tốt và khô ráo hơn, và cuối cùng giúp ông trốn thoát (S. G. Eliseev, “Tyuremnyi dnevnik”, trong cuốn Uroki, tr. 17-19). Một đại tá Bạch vệ cũng nhớ lại rằng trong nhà tù Petrograd vào tháng 12 năm 1917 tù nhân có thể tới và bỏ đi tùy thích, còn ban đêm thì dân vô gia cư chui vào phòng giam để ngủ. Nhìn lại thời kỳ này, một quan chức Xôviết hồi tưởng rằng “kẻ duy nhất không bỏ trốn là những người quá lười biếng không buồn nhúc nhích” (Okhotin và Roginsky, tr. 11). Sự lộn xộn buộc Cheka phải đưa ra các giải pháp mới: người Bolshevik khó có thể cho phép những kẻ thù “đích thực” của mình được giam trong hệ thống nhà tù thông thường. Tình trạng giam giữ hỗn loạn và lính gác lười nhác có thể thích hợp đối với tội móc túi và thanh thiếu niên phạm tội vặt, nhưng đối với bọn phá hoại, đám ăn bám, lũ đầu cơ, sĩ quan Bạch vệ, tu sĩ, bọn tư sản và những kẻ cản đường chế độ Bolshevik thì cần có những giải pháp sáng tạo hơn. |
Một giải pháp mới được tìm ra. Ngày 4 tháng Sáu năm 1918, Trotsky đã yêu cầu dẹp yên, giải giáp và chuyển một nhóm tù binh chiến tranh người Czech bất kham tập trung vào một kontslager: một trại tập trung. Mười hai ngày sau, trong một bản ghi nhớ gửi cho chính quyền Xôviết, Trotsky lại nhắc lại về các trại tập trung, các nhà tù ngoài trời trong đó “bọn tư sản thành thị và nông thôn ... sẽ bị tập trung và tổ chức thành các tiểu đoàn hậu cần để làm các công việc phục vụ (lau dọn doanh trại, căn cứ, đường phố, đào chiến hào v.v.). Những ai không chịu làm sẽ bị phạt và bắt giam cho tới khi trả được tiền phạt” (Geller, tr. 43).
Đến tháng Tám, Lenin cũng tiến tới sử dụng biện pháp này. Trong một điện tín gửi cho dân ủy vùng Penza, nơi đang có cuộc nổi loạn chống Bolshevik, ông kêu gọi dùng “khủng bố tập thể chống lại bọn kulak (phú nông), tu sĩ và Bạch vệ” và bọn “không đáng tin cậy” phải bị “nhốt trong một trại tập trung ngoài thị trấn” (Geller, tr. 44; Leggett, tr. 103). Phương tiện như vậy là đã sẵn sàng. Trong mùa hè năm 1918 – ngay sau khi có Hiệp ước Brest-Litovsk chấm dứt sự tham gia của nước Nga vào Thế chiến thứ I – chính quyền thả ra hai triệu tù binh chiến tranh. Các trại giam trống lập tức được chuyển giao cho Cheka (Ban đầu, cơ quan Cheka được giao trách nhiệm quản lý các trại có liên thông với Trung ương Hội Tù binh chiến tranh và Người tản cư (Tsentroplenbezh). Okhotin và Roginsky, tr. 11). Vào lúc này, Cheka dường như là cơ quan lý tưởng để nhận lấy nhiệm vụ giam giữ “kẻ thù” trong những trại “đặc biệt”. Là một tổ chức hoàn toàn non trẻ, Cheka được cơ cấu để trở thành “thanh kiếm và lá chắn” của Đảng Cộng sản, không có bổn phận phải trung thành với chính quyền Xôviết hoặc bất cứ cơ quan nào khác của chính quyền. Tổ chức này không có truyền thống hợp pháp, không có nguyên tắc buộc phải tuân theo luật pháp, không cần phải tham khảo công an hay các tòa án thuộc Dân ủy Tư pháp. Ngay tên gọi của nó đã nói lên tính chất đặc biệt: Ủy ban Đặc biệt Toàn Nga chống Phản Cách mạng và Phá hoại – hoặc, viết tắt theo tiếng Nga của “Ủy ban Đặc biệt” là Ch-K, hay Cheka. Nói “đặc biệt” là chính xác bởi nó tồn tại nằm ngoài luật pháp “thông thường”. |
Ngay sau khi được thành lập, Cheka được giao một nhiệm vụ đặc biệt. Ngày 5 tháng Chín 1918, Dzerzhinsky được hướng dẫn thực hiện chính sách Khủng bố Đỏ của Lenin. Được áp dụng vào lúc có vụ ám sát Lenin, làn sóng khủng bố này – bao gồm bắt bớ, giam cầm, thủ tiêu – có tổ chức chặt chẽ hơn nhiều so với những khủng bố bừa bãi vài tháng trước đó, thực ra là một phần quan trọng của cuộc nội chiến, được chỉ đạo để chống lại những kẻ tình nghi có âm mưu tiêu diệt Cách mạng ngay tại “cái nôi” của nó. Thật đẫm máu, thật tàn nhẫn và thật dữ dội – đó là những gì mà các tác giả của nó muốn hướng tới. Krasnaya Gazeta, cơ quan ngôn luận của Hồng quân, đã mô tả: “Không thương xót, không khoan nhượng, chúng ta cần tiêu diệt kẻ thù với số lượng hàng trăm, hàng ngàn, sao cho chúng phải ngập trong máu của chính mình. Vì một giọt máu đã đổ của Lenin... hãy để cho lũ tư sản phải tuôn ra hàng suối máu – sao cho càng nhiều càng tốt...” (Leggett, tr. 108)
Khủng bố Đỏ là cần thiết để Lenin giữ được chính quyền. Các trại tập trung, được gọi là “trại đặc biệt”, là cần thiết để thực hiện Khủng bố Đỏ. Chúng được đề cập tới trong những sắc lệnh đầu tiên của Khủng bố Đỏ, theo đó yêu cầu không chỉ bắt bớ giam cầm những “đại diện quan trọng của bọn tư sản, địa chủ, bọn tư bản công nghiệp, thương nhân, tu sĩ phản cách mạng, bè lũ sĩ quan chống Xôviết” mà còn cần phải “cách ly chúng trong các trại tập trung” (Sắc lệnh “Về Khủng bố Đỏ”, in trên tờ Sbornik, ngày 5/9/1918, tr. 11). Mặc dù không có con số đáng tin cậy về số lượng tù nhân, vào cuối năm 1919 có hai mươi mốt trại được ghi nhận trên nước Nga. Đến cuối năm 1920 đã có 107 trại, tăng gấp năm lần (Ivanova, Trại lao động XHCN, tr. 13). Tuy nhiên, vào thời kỳ này, mục tiêu hoạt động của các trại vẫn còn chưa rõ ràng. Tù nhân phải thực hiện nghĩa vụ lao động – nhưng đến mức độ nào? Lao động có vai trò gì trong việc cải tạo tù nhân? Có phải là để làm nhục họ không, hay việc này nhằm giúp xây dựng nhà nước Xôviết non trẻ? Mỗi lãnh đạo Xôviết và mỗi cơ quan hữu trách lại có một câu trả lời khác nhau. Tháng Hai năm 1919, Dzerzhinsky đích thân có một bài phát biểu hùng hồn ủng hộ cho vai trò của các trại trong công cuộc cải tạo lý tưởng cho giới tư sản. Theo ông, các trại này sẽ: sử dụng lao động của những người đang bị bắt giam; sử dụng lao động của các quý ông vốn quen sống không cần làm bất cứ nghề nghiệp gì, sử dụng lao động của những kẻ không muốn làm việc khi mà không bị bắt buộc phải làm việc. Các hình phạt này cần phải áp dụng cho những ai làm việc trong các cơ quan Xôviết nhưng lại thể hiện tinh thần đầy tắc trách hoặc lề mề chậm chạp trong công việc v.v. Theo cách này chúng ta sẽ tạo ra được các trường học dạy cách lao động (Istoricheskiy Arkhiv, tập I, 1958, tr. 6-11; Geller, tr. 52). |
Tuy nhiên, khi các sắc lệnh chính thức đầu tiên về những trại đặc biệt được công bố vào mùa xuân năm 1919, một số ưu tiên chút ít đã xuất hiện (Theo sử gia Richard Pipes, Lenin không muốn tên mình gắn với những khu trại đầu tiên này, đó là lý do các sắc lệnh này được ban hành không phải bởi Xôviết Tối cao Sovnarkom do ông đang làm chủ tịch, mà bởi Ủy ban Điều hành Trung ương Liên Xô - Pipes, tr. 834). Các sắc lệnh, trong đó có một danh sách dài đến đáng ngạc nhiên những quy định và khuyến nghị, đề xuất mỗi thủ phủ vùng lãnh thổ cần lập một trại chứa không dưới 300 người, “nằm ở ngoại vi thành phố, hoặc trong các công trình vùng phụ cận như tu viện, nông trại, điền trang v.v.”. Trại này duy trì chế độ làm việc 8 giờ mỗi ngày, làm thêm giờ hoặc làm ca đêm chỉ được cho phép khi “phù hợp với luật lao động”. Không cho phép người nhà gửi thực phẩm. Cho phép gặp người thân trực tiếp trong gia đình, nhưng chỉ vào chủ nhật hoặc trong các dịp lễ. Tù tìm cách trốn trại sẽ bị tăng án lên gấp mười. Trốn trại lần thứ hai sẽ bị kết án tử hình – một hình phạt đặc biệt nặng nếu so với luật lệ lỏng lẻo thời Sa hoàng xử tội trốn tù, điều mà những người Bolshevik vốn biết quá rõ. Quan trọng hơn là các sắc lệnh cũng nêu rõ rằng lao động của tù nhân không phải nhằm giáo dục bản thân họ, mà là để bù đắp cho chi phí duy trì trại. Tù tàn tật được chuyển đi nơi khác. Các trại tự bù đắp duy trì kinh phí. Những người sáng lập ra các trại này lạc quan cho rằng họ sẽ tự trang trải được (Dekrety, tập V, tr. 69-70 và 174-181).
Do tình hình tài chính của đất nước trồi sụt thất thường, những người điều hành trại lập tức thấy hấp dẫn bởi ý tưởng tự trang trải kinh phí hoặc ít nhất là sử dụng sức lao động của tù nhân vào sản xuất thực tế. Tháng Chín năm 1919, một báo cáo mật được chuyển lên Dzerzhinsky than phiền rằng điều kiện vệ sinh tại một trại trung chuyển là “dưới mức phê bình”, chủ yếu là do người ta đã bắt quá nhiều người bệnh phải đi làm việc: “Dưới điều kiện ẩm ướt mùa thu bọn họ không thể bố trí làm chung với mọi người mà không gieo rắc mầm bệnh dịch và đủ thứ bệnh khác”. Ngoài ra, tác giả còn đề nghị rằng những ai không đủ khả năng làm việc nên được gửi đi chỗ khác, nhờ thế sẽ giúp trại hoạt động hiệu quả hơn – một phương thức mà sau này sẽ được áp dụng nhiều lần bởi lãnh đạo của Gulag. Vậy là, những người chịu trách nhiệm về trại rất quan tâm vấn đề bệnh tật và cái đói, chủ yếu vì các tù bị bệnh và đói thì không còn hữu ích nữa. Phẩm cách và nhân tính của họ, chưa kể đến tính mạng họ, không còn khiến những người chịu trách nhiệm quan tâm chút nào nữa (RGASPI, 76/3/65). |
Trong thực tế, không phải tất cả chỉ huy trại đều quan tâm tới việc cải tạo tù hay tự túc tài chính. Thay vào đó, họ thích trừng phạt những kẻ từng có thời giàu có bằng cách làm nhục họ, bắt họ phải nếm trải cuộc sống của người công nhân. Một báo cáo từ thành phố Poltava thuộc Ukraina, được lập bởi một ủy ban điều tra Bạch vệ sau khi tạm chiếm lại thành phố này, đã ghi nhận rằng các tư sản bị bắt giam khi phe Bolshevik chiếm đóng đã bị giao công việc được “dự định theo cách nhằm giễu cợt và hạ thấp con người. Ví dụ như một người bị bắt đã bị buộc phải dùng... tay không lau chùi đất cát trên sàn nhà bẩn thỉu. Một người khác bị bắt phải lau dọn nhà xí, và được giao cho... một tấm khăn trải bàn để làm việc đó” (Hoover, Melgunov Collection, Box II, Folder 63).
Trong thực tế, những khác biệt nho nhỏ có tính toán nêu trên có lẽ tạo ra rất ít khác biệt đối với số phận hàng chục ngàn tù nhân, những người mà bản thân việc bị bắt giam vô nguyên cớ đã là quá đủ nhục nhã rồi. Chúng có lẽ cũng không ảnh hưởng mấy đến điều kiện sinh hoạt của tù, vốn đã rất kinh khủng. Một tu sĩ bị đày tới một trại ở Siberi sau này nhớ lại là súp được nấu từ ruột lợn, trong lán không có điện và hoàn toàn không có sưởi trong mùa đông (Một người giấu tên, Vo vlasti Gubcheka, tr. 47-53). Aleksandr Izgoev, một nhà chính trị hàng đầu thời Sa hoàng, bị đày tới một trại phía Bắc Petrograd. Trên đường, nhóm tù của ông dừng lại tại thị trấn Vologda. Thay vì ăn bữa nóng và ở trong nhà ấm mà họ được hứa hẹn, tù nhân phải đi bộ từ chỗ này sang chỗ khác để tìm nơi trú. Chẳng có trại trung chuyển nào được chuẩn bị trước cho họ. Cuối cùng, họ được trú trong một trường học cũ, trang bị thêm “tường gạch mộc và các băng ghế”. Những ai có tiền đem theo cuối cùng phải tự mua lấy thức ăn cho mình tại thị trấn (Izgoev, tr. 36). Nhưng kiểu ngược đãi bừa bãi ấy không chỉ dành riêng cho tù. Trong thời gian ác liệt của nội chiến, nhu cầu cấp bách của Hồng quân và chính quyền Xôviết đã đạp lên mọi thứ khác, từ chuyện cải tạo cho tới trả thù và tôn trọng pháp luật. Tháng Mười 1918, tư lệnh mặt trận phía bắc gửi một yêu cầu tới ủy ban quân sự Petrograd đề nghị cấp 800 công nhân, rất cần để làm đường xá và đào chiến hào. Kết quả là, “một số công dân thuộc tầng lớp cựu thương gia được mời tới trình diện tại trụ sở Xôviết, lấy lý do là để đăng ký nghĩa vụ lao động trong thời gian tới. Khi những công dân này có mặt tại điểm đăng ký, họ bị bắt giam và chở tới trại Semenovsky để chờ bị chuyển ra mặt trận”. Khi thậm chí cả cách ấy vẫn chưa gom đủ số nhân công, Xôviết địa phương – tức hội đồng điều hành của địa phương – đơn giản là quây lại một phần của khu Nevsky Prospekt, phố mua bán chính ở Petrograd, bắt giữ tất cả những ai không có thẻ đảng hay đem theo giấy tờ chứng tỏ họ đang làm việc cho một cơ quan của chính quyền, và lùa họ tới một doanh trại gần đó. Tại đấy, phụ nữ thì được thả ra, còn đàn ông bị tống lên phương bắc: “không một ai trong nhóm người bị động viên theo cái lối kỳ lạ như vậy được phép về thu xếp chuyện gia đình, được chào tạm biệt người thân hay để lấy thêm quần áo ấm và xà cạp” (Bunyan, tr. 54-65). |
Trong khi đối với những khách bộ hành bị bắt như thế rõ ràng là một cú sốc, vụ này dường như chỉ là chuyện vặt trong mắt giới công nhân Petrograd. Thậm chí ngay vào thời kỳ đầu của lịch sử Liên Xô, ranh giới giữa “lao động cưỡng bức” và lao động thông thường có vẻ rất mong manh. Trotsky công khai phát biểu về việc biến cả quốc gia thành một “đội quân ‘công nhân’” theo kiểu Hồng quân. Công nhân thoạt đầu bị buộc phải tới đăng ký tại các văn phòng phân phối lao động, tại đó họ sẽ được gửi đi làm việc ở bất cứ nơi nào trên đất nước. Các sắc lệnh đặc biệt được gửi đi cấm công nhân thuộc những nghề đặc thù – ví dụ như công nhân khai khoáng – rời bỏ công việc. Công nhân tự do, trong cái thời kỳ cách mạng hỗn loạn ấy, được hưởng điều kiện sống không khá gì hơn tù nhân. Nếu nhìn từ bên ngoài, không phải lúc nào cũng có thể phân biệt được nơi nào là nhà máy, nơi nào là trại tập trung (Geller, tr. 55-64; Bunyan, tr. 54-114).
Nhưng điều này cũng là điềm báo hiệu cho những gì sẽ xảy ra tiếp theo: sự hỗn loạn mù mờ sẽ bao lấy những khái niệm về “trại”, “nhà tù” và “lao động cưỡng bức” trong suốt gần một thập kỷ sau đó. Quyền điều hành các cơ quan hình sự sẽ liên tục được đổi tay. Các cơ quan có hữu trách liên tục bị đổi tên và tái cơ cấu bởi các quan chức và dân ủy khác nhau luôn tìm cách tranh giành quyền kiểm soát hệ thống này (Okhotin và Roginsky, tr. 11-12; cũng có thể tham khảo Jakobson hoặc Lin với số liệu đầy đủ về những thay đổi cơ cấu trong những năm 1920). Tuy nhiên, rõ ràng rằng vào cuối thời kỳ nội chiến, một công thức đã định hình. Liên Xô đã phát triển hai hệ thống nhà tù riêng biệt với luật lệ riêng, truyền thống riêng và tiêu chuẩn riêng. Dân ủy Tư pháp, mà sau này là Dân ủy Đối nội, điều hành hệ thống nhà tù “thông thường”, quản lý chủ yếu những gì mà chế độ Xôviết gọi là “tội phạm”. Mặc dù trong thực tế hệ thống này cũng rất lộn xộn, tù nhân của nó được giam trong các nhà tù kiểu truyền thống, và ban quản lý của nó tuyên bố rằng mục tiêu của hệ thống này, như được ghi trong một bản thông báo nội bộ, rất giống với ở các quốc gia “tư bản” khác: nhằm cải biến kẻ phạm tội thông qua lao động cải tạo – “tù nhân phải lao động để học được những kỹ năng cần thiết cho việc xây dựng được một cuộc sống lương thiện” – và nhằm ngăn ngừa tù phạm thêm tội khác (RGASPI, 17/84/585). Đồng thời, cơ quan Cheka – sau này đổi tên thành GPU, rồi OGPU, rồi NKVD và cuối cùng là KGB – điều hành một hệ thống nhà tù khác, ban đầu được xem là hệ thống “trại giam đặc biệt” hay “trại giam chuyên biệt”. Mặc dù Cheka cũng sử dụng vài phương cách “cải tạo” hay “giáo dục lại” khá hùng hồn nhưng các trại này không hoàn toàn giống với các cơ quan hình pháp thông thường. Chúng nằm ngoài quyền hạn pháp lý của các cơ quan Xôviết khác, và vô hình đối với con mắt dân thường. Chúng có quy chế riêng, án phạt tội trốn trại nặng hơn, chế độ khắc nghiệt hơn. Tù nhân bên trong không buộc phải bị tuyên án bởi tòa án thông thường, nếu không nói là không cần phải có kết án của bất cứ loại tòa án nào. Được xây dựng như một phương thức khẩn cấp, chúng ngày càng phình to và nhiều quyền lực hơn, bởi khái niệm “kẻ thù” ngày càng được mở rộng và quyền hạn của Cheka ngày càng tăng. Và tới lúc cuối cùng khi hai hệ thống này, thông thường và đặc biệt, sáp nhập lại, chúng kết hợp theo luật lệ của hệ thống thứ hai. Cheka đã nuốt trọn đối thủ của mình. |
Ngay từ đầu, hệ thống tù “đặc biệt” có nghĩa là phải làm việc với những tù đặc biệt: tu sĩ, cựu sĩ quan Sa hoàng, bọn tư bản đầu cơ, các kẻ thù của chế độ mới. Nhưng có một loại tù đặc biệt mang nhãn “chính trị” được ban quản lý quan tâm hơn hẳn so với các loại khác. Đó là thành viên các đảng phái phi Bolshevik và có khuynh hướng cách mạng xã hội, chủ yếu những người vô chính phủ, Đảng Cách mạng Xã hội cánh tả và cánh hữu, phe Menshevik và bất cứ ai đã từng chiến đấu vì Cách mạng nhưng lại không biết trước để gia nhập phái Bolshevik của Lenin, hoặc không tham gia nhiệt tình trong biến chính tháng Mười 1917. Do là cựu đồng minh trong cuộc chiến cách mạng chống lại chế độ Sa hoàng, họ được hưởng các đối đãi đặc biệt. Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản liên tục bàn luận về số phận của họ mãi cho tới cuối những năm 1930, khi hầu hết những người nào còn sống đều bị bắt giam hoặc xử bắn (Ví dụ về các bàn luận này xin tham khảo Hoover, Fond 89, 73/25, 26 và 27).
Phần nào, loại tù đặc biệt này khiến Lenin lo lắng bởi, cũng như lãnh tụ của mọi đảng phái chuyên quyền nào khác, ông đặc biệt căm ghét những kẻ bội giáo. Trong một cuộc tranh luận điển hình, ông gọi một trong những nhà xã hội chỉ trích mình là “kẻ lừa đảo”, là “đồ chó cún mắt toét”, là “tên bợ đỡ bọn tư bản” và là “kẻ tán thành với bọn hút máu và vô lại”, chỉ phù hợp với “đống phân của bọn phản bội” (Volkogonov, Lenin, tr. 179). Thực tế là từ trước cách mạng rất lâu Lenin đã biết cần phải làm gì đối với những đồng chí đảng xã hội từng phản đối mình. Một người bạn cách mạng trung thành của ông nhớ lại cuộc trò chuyện về chủ đề này như sau: Tôi nói với anh ấy rằng: “Vladimir Ilyich, nếu anh nắm được quyền lực, anh sẽ treo cổ bọn Menshevik ngay ngày hôm sau”. Anh ấy nhìn tôi rồi đáp: “Chỉ sau khi chúng ta đã treo cổ tên Cách mạng Xã hội cuối cùng, ta mới xử đến bọn Menshevik”. Và anh nhăn mặt rồi phá lên cười (Service, Lenin, tr. 186). Nhưng những tù thuộc loại “chính trị” đặc biệt này vô cùng khó kiểm soát. Rất nhiều người từng trải qua các nhà tù thời Sa hoàng, biết rõ cách tổ chức tuyệt thực để phản kháng, biết cách gây sức ép lên cai ngục, biết cách liên lạc giữa các phòng khám để trao đổi thông tin và biết tổ chức các cuộc phản đối mang tính phối hợp. Quan trọng hơn cả là họ cũng biết rõ cách để bắt liên lạc với thế giới bên ngoài và ai người cần liên lạc. Hầu hết các đảng xã hội phi Bolshevik ở Nga vẫn còn duy trì những chi nhánh lưu vong nước ngoài, thường là tại Berlin hoặc Paris, các thành viên này có thể gây phương hại lớn tới hình ảnh quốc tế của phe Bolshevik. Tại Đại hội Quốc tế vô sản lần 3 năm 1921, đại diện của những chi nhánh quốc tế của Đảng Cách mạng Xã hội – về lý tưởng là gần gũi nhất với Bolshevik (một số thành viên của 2 đảng này cộng tác chặt chẽ với nhau) – đã đọc lớn một bức thư của các đồng chí của họ đang bị giam cầm tại Nga. Bức thư này gây xúc động mạnh tại Đại hội, chủ yếu bởi nó xác nhận rằng điều kiện trong nhà tù ở nước Nga cách mạng còn tồi tệ hơn cả thời kỳ Sa hoàng. “Các đồng chí của chúng ta đang chết đói,” – bức thư viết, “nhiều người trong số họ bị giam cầm hàng tháng trời mà không được phép gặp gỡ người thân, không được viết thư, không được tập thể dục” (Hoover, Nikolaevsky Collection, Box 9, Folder I). |
Các đảng viên xã hội lưu vong có thể và đã tranh luận nhân danh các tù nhân, giống như họ vẫn từng làm thời trước Cách mạng. Ngay sau ngày phe Bolshevik làm biến chính, nhiều nhà cách mạng nổi tiếng, trong đó có Vera Figner, tác giả một hồi ký về thời gian trải qua trong nhà tù Sa hoàng, và Ekaterina Peshkova, vợ của nhà văn Maxim Gorky, đã cùng giúp sức mở lại Hội Chữ thập đỏ Chính trị, một tổ chức hỗ trợ tù nhân từng hoạt động bí mật thời trước Cách mạng. Peshkova biết rõ về Dzerzhinsky và thường xuyên trao đổi thân mật với ông này. Nhờ có mối liên lạc và uy tín của bà, Hội Chữ thập đỏ Chính trị được phép đến thăm những nơi giam giữ, được trò chuyện với tù nhân và gửi quà cho họ, thậm chí được gửi đơn xin tha cho những người bị bệnh, những đặc quyền này của hội được duy trì gần suốt thập kỷ 1920 (Hoover, Nikolaevsky Collection, Box 99; RGASPI, Fond 76/3/87; Genrikh Yagoda, tr. 265). Nhưng theo nhà văn Lev Razgon, đi tù năm 1937, thì sau này những hoạt động ấy gần như là chuyện không tưởng, đến nỗi ông nghe người vợ sau của mình kể về hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Chính trị - cha của bà này từng là tù đảng viên xã hội – như thể “đang nghe kể chuyện cổ tích viển vông vậy” (Razgon, tr. 266).
Hình ảnh không tốt trong con mắt công chúng do tác động của các đảng xã hội phương Tây và Hội Chữ thập đỏ Chính trị khiến những người Bolshevik vô cùng khó chịu. Rất nhiều người từng sống lưu vong khá lâu, do đó rất nhạy cảm với các ý kiến từ những người đồng chí quốc tế trước đây. Rất nhiều người cũng vẫn còn tin rằng Cách mạng sẽ lan sang phương Tây bất cứ lúc nào, nên không muốn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản bị ngăn trở bởi các tai tiếng. Năm 1922, họ hết chịu nổi các bài viết từ báo chí phương Tây nên đã tung ra những cố gắng đầu tiên nhằm bênh vực cho khủng bố đỏ bằng cách tấn công vào “sự khủng bố của bọn tư bản”. Để đạt được mục đích này, họ thành lập riêng một tổ chức xã hội “đối lập” cứu trợ tù nhân: tổ chức Xã hội Quốc tế Cứu trợ Nạn nhân của Cách mạng – viết tắt từ tiếng Nga là MOPR, hoạt động công khai để giúp đỡ “100.000 tù nhân của chủ nghĩa tư bản” (Hoover, Nikolaevsky Collection, Box 99). Mặc dù chi hội Berlin của Hội Chữ thập đỏ Chính trị ngay lập tức lên án MOPR là đang cố gắng “bịt miệng nhưng người sắp chết đang rên rỉ trong các nhà tù, trại tập trung và chốn lưu đày ở Nga”, những người khác lại tiếp nhận nó. Năm 1924, MOPR tuyên bố đã có bốn triệu thành viên, thậm chí còn tổ chức một hội nghị quốc tế lần đầu tiên với đại diện đến từ khắp nơi trên thế giới (Hoover, Nikolaevsky Collection, Box 99). Cú tuyên truyền này đã có tác dụng. Khi nhà văn Pháp Romain Roland được đề nghị nhận xét về một tập thư xuất bản từ những nhà xã hội bị giam trong nhà tù Nga, ông đã trả lời rằng “Những chuyện y như vậy vẫn diễn ra tại các nhà tù Ba Lan; anh cũng có thể gặp chúng ở nhà tù bang California, tại đấy người ta đang hành hình các công nhân của IWW - Hiệp hội Công nhân thế giới; anh cũng gặp các cảnh này trong nhà ngục ở Quần đảo Andaman nước Anh…” (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 1-15). |
Cheka cũng tìm cách cải thiện dư luận báo chí bằng việc chuyển các nhà xã hội gây rắc rối kia đi xa khỏi mối liên lạc của họ. Một số bị đày tới, căn cứ theo mệnh lệnh của ban quản lý, những điểm lưu đày viễn xứ, giống như chế độ Sa hoàng từng làm. Những người khác bị chuyển tới các trại hẻo lánh gần thành phố phương bắc Arkhangelsk, còn những người đặc biệt bị đưa tới một trại sử dụng cơ sở của một tu viện bỏ hoang vùng Kholmogory, cách Petrograd hàng trăm dặm về phía bắc, gần Bạch Hải. Tuy nhiên, thậm chí ở những nơi lưu đày xa xôi nhất vẫn có thể tìm thấy các phương thức liên lạc. Từ Narym thuộc Siberi, một nhóm nhỏ tù “chính trị” trong một trại tập trung bé xíu đã tìm cách gửi thư cho một tờ báo xã hội lưu vong than phiền rằng họ bị “cách ly khỏi thế giới còn lại chặt chẽ tới mức chỉ các bức thư liên quan tới sức khỏe những người thân hoặc sức khỏe của chính họ mới có hy vọng đến được nơi. Tất cả các thư từ khác … bặt vô âm tín”. Trong số họ, thư viết, có Olga Romanova, một nữ vô chính phủ mười tám tuổi, bị chuyển tới vùng đặc biệt hẻo lánh của tỉnh “tại đó cô ta bị cho ăn ba tháng liền chỉ có bánh mì và nước nóng” (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 20-28).
Nhưng lưu đày viễn xứ cũng không đảm bảo cho đám cai ngục được yên tâm. Ở hầu khắp những nơi nào họ tới, các tù xã hội, đã quen với các đối xử ưu đãi mà tù chính trị từng được hưởng thời Sa hoàng, đòi hỏi được đọc báo, sách vở, đi dạo, quyền được quan hệ thư từ không giới hạn, và trên hết là quyền được chọn người phát ngôn cho riêng mình trong các việc liên quan với chính quyền. Khi nhân viên Cheka địa phương thiếu kinh nghiệm từ chối các đòi hỏi trên – những nhân viên này khó mà phân biệt nổi giữa kẻ vô chính phủ (anarchist) với một gã đốt nhà (arsonist) – thì đám xã hội phản kháng, đôi khi dùng tới bạo lực. Theo như một mô tả về trại Kholmogory, một nhóm tù đã nhận thấy: cần thiết phải dấy lên cuộc đấu tranh đòi những điều cơ bản nhất, ví dụ như dành lại cho những người xã hội và vô chính phủ các quyền thông thường của tù chính trị. Trong cuộc đấu tranh này, họ phải hứng chịu tất cả các hình phạt phổ biến như bị biệt giam, đánh đập, bỏ đói, ném vào rào kẽm gai, cho đơn vị quân đội bắn vào tòa nhà v.v. Thế là quá đủ để thông báo rằng vào cuối năm nay hầu hết tù nhân Kholmogory sẽ kiêu hãnh, với những gì họ đã làm trong quá khứ, thực hiện cuộc tuyệt thực toàn phần trong ba mươi đến ba mươi lăm ngày… (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 162-165) Cuối cùng, nhóm tù ấy bị dời từ Kholmogory tới một trại khác ở Petrominsk, cũng một tu viện khác. Căn cứ đơn thỉnh cầu sau đó họ gửi cho chính quyền, ở đấy họ được đón chào bằng những “quát tháo và đe dọa thô lỗ”, bị nhốt từng nhóm cứ sáu người vào một phòng khổ tu chật chội, trong chỉ có các giường tầng “sống chung với rận rệp ký sinh”, bị cấm tập thể dục, đọc sách và viết lách (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 162-165; Melnik và Soshina). Chỉ huy trại Petrominsk, đồng chí Bachulis, đã cố gắng bẻ gãy ý chí tù bằng cách cắt đèn điện và lò sưởi cho họ - và lâu lâu lại bắn vào cửa sổ phòng họ (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 162-165). Để đáp trả, họ tiến hành một loạt cuộc tuyệt thực khác không ngưng nghỉ và gửi thư phản đối. Cuối cùng, họ yêu cầu được chuyển khỏi trại, tuyên bố rằng trong trại có dịch sốt rét (Melnik và Soshina). |
Lãnh đạo các trại khác cũng than phiền về các tù nhân dạng này. Trong bức thư gửi Dzerzhinsky, một người viết rằng tại trại của mình “bọn Bạch vệ tự cho mình là tù chính trị đã tổ chức tập hợp lại thành một “nhóm tinh thần”, khiến lính gác không thể làm việc được: “chúng nói xấu chính quyền, bôi nhọ tên tuổi của họ… chúng xem thường danh dự và tiếng tăm của người công nhân Xôviết” (RGASPI, 17/84/395). Một số nơi lính gác đã tự tìm cách giải quyết. Tháng Tư 1921, một nhóm tù ở Petrominsk từ chối làm việc và yêu cầu được cấp khẩu phần tốt hơn. Phát chán với sự bất phục tùng này, chính quyền vùng Arkhangelsk đã ra lệnh xử tử 540 người trong số họ. Họ bị xử bắn lập tức (Doloi).
Ở một vài nơi, chính quyền cố gắng giữ yên bình theo cách khác, tức là chấp nhận cho cánh xã hội mọi điều họ đòi. Bertha Barbina, thành viên Đảng Xã hội Cách Mạng, nhớ lại bà được chuyển tới “cánh nhà xã hội” của nhà tù Butyrka tại Moscow phơi phới niềm vui được đoàn tụ với bạn bè, những người “từng hoạt động bí mật ở St Petersburg từ thời sinh viên của tôi, và đến từ các thị trấn và thành phố khác nhau nơi chúng tôi từng cùng sống lang thang với nhau”. Tù nhân được phép tự do đi khỏi khám tù. Họ tổ chức các buổi tập thể dục buổi sáng, lập một ban nhạc và dàn đồng ca, dựng lên một “câu lạc bộ” trong có các tạp chí nước ngoài và một thư viện phong phú. Theo truyền thống – có từ thời tiền cách mạng – mỗi tù để lại đó mọi sách vở sau khi anh ta được mãn hạn. Một chi bộ tù được tổ chức trong mỗi phòng, một số phòng còn được trang trí rất đẹp với thảm treo tường và trải sàn. Một tù khác nhớ lại rằng “chúng tôi tản bộ dọc hành lang như thể chúng là các đại lộ” (Guberman, tr. 72-74). Với Barbina, cuộc sống tù ở đây có vẻ như không thực: “Chẳng lẽ họ không thể giam chúng tôi nghiêm túc được sao?” (Bertha Barbina-Nevskaya, “Nhà tù đầu tiên của tôi, tháng Hai 1922”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 97-109) Lãnh đạo Cheka cũng đang nghĩ giống vậy. Trong một báo cáo gửi Dzerzhinsky vào tháng Giêng 1921, một thanh tra nhà tù bực mình than phiền rằng tại nhà tù Butyrka “đàn ông và phụ nữ thoải mái trò chuyện với nhau, các khẩu hiệu vô chính phủ và phản cách mạng treo đầy trên tường phòng giam” (RGASPI, 76/3/149). Dzerzhinsky đề nghị một chế độ nghiêm ngặt hơn – nhưng khi có chế độ nghiêm ngặt thì tù lại chống đối. Chẳng bao lâu khúc điền viên Butyrka mau chóng kết thúc. Tháng Tư 1921, căn cứ lá thư do một nhóm Cách mạng Xã hội gửi cho chính quyền, “khoảng giữa 3 đến 4 giờ sáng, một nhóm người vũ trang xông vào phòng giam và tấn công … phụ nữ bị nắm tay chân và tóc lôi khỏi phòng, những người khác bị nện nhừ tử”. Trong các báo cáo nội bộ sau đó, Cheka mô tả “sự cố” này như một cuộc nổi loạn vượt tầm kiểm soát – và kiên quyết không để lặp lại việc cho phép quá nhiều tù chính trị được tập trung ở Moscow (RGASPI, 76/3/227; Hoover, Fond 89, 73/25, 26 và 27). Đến tháng Hai 1922, “cánh nhà xã hội” của nhà tù Butyrka bị giải tán. Đàn áp không có tác dụng. Nhượng bộ cũng không có tác dụng. Thậm chí ngay trong những trại đặc biệt, Cheka cũng không thể cai quản được các tù đặc biệt của mình. Cũng không thể ngăn cản tin tức về chúng lọt ra thế giới bên ngoài. Rõ ràng là cần có giải pháp khác, dành cả cho họ lẫn cho tất cả đám phản cách mạng bất trị khác đang tập hợp trong hệ thống nhà tù đặc biệt. Đến mùa xuân năm 1923, một giải pháp đã được tìm ra: Solovetsky. Hết chương I |
Trích:
Thứ nữa, trong bản dich ra tiếng Nga của cuốn này, không hiểu sao không có đoạn trong ngoặc đơn kia. Chữ Cheka, phiên của ЧК theo hungmgmi nên viết hoa toàn bộ trong văn bản là CHEKA, cũng như sau này viết hoa toàn bộ các chữ cái các cơ quan an ninh hậu duệ của CHEKA. |
Đúng rồi phải là Hội đồng Dân ủy, em nhầm. Tất cả phần trong ( ) là chú thích của sách, do không tiện ghi chú ở dưới em nên mở ngoặc.
Những ký hiệu như GARF hay RGASPI là Văn khố của KGB hay của Văn khố Quốc gia kèm theo mã số thư mục. Còn nếu ghi tên, ví dụ như Razgon, tr. 123 có nghĩa là thông tin lấy từ nguồn sách của tác giả Lev Razgon, trang 123 (tên sách có ở Phụ lục phía sau) Cách viết Cheka là giữ nguyên theo bản tiếng Anh. |
2
“Trại Gulag đầu tiên” Ngồi đây linh mục cùng tu sĩ, Lẫn với lũ điếm và cướp đường, Chung cùng nam tước và quận công – Trên đầu mũ miện không còn nữa… Nơi đảo này, người giàu cũng tay trắng Đâu lâu đài, đâu cung điện thủa xưa… - Thơ của một tù vô danh, viết trên đảo Solovetsky năm 1926 (Ekran, số 12, 27 tháng Ba 1926) http://i653.photobucket.com/albums/u.../Gulag/2-1.jpg Cung điện (kremlin) của Tu viện Solovetsky Ngày nay đứng nhìn xuống từ trên đỉnh tháp chuông ở góc xa của tu viện cổ Solovetsky, ta vẫn trông rõ được hình thù của trại tập trung Solovetsky. Một bức tường đá dày vẫn bao quanh cung Solovetsky, nơi tập trung các công trình và nhà thờ của tu viện, được xây từ thế kỷ mười lăm, nơi sau này chuyển thành chỗ trú đóng của ban quản lý trại và các khối lán trung tâm. Phía tây là bến tàu, giờ có mấy chiếc thuyền đánh cá đang đậu, có thời từng chen chúc tù nhân được chở đến mỗi tuần, đôi khi là mỗi ngày trong mùa biển lặng ngắn ngủi vùng cực bắc. Phía sau đó là Bạch Hải trải dài. Từ đây có thuyền đi Kem, trại trung chuyển chính từ đất liền mà từ đó tù từng có thời lên thuyền khởi hành ra đảo, chuyến đi mất nhiều giờ đồng hồ. Chuyến tàu đi Arkhangelsk, cảng lớn nhất ở Bạch Hải và là thủ phủ vùng, hết mất cả ngày trời. Nhìn về phía bắc, ta chỉ có thể thấy đường viền lờ mờ của Sekirka, nhà thờ trên đỉnh đồi mà tầng hầm của nó từng chứa các khám phạt nổi tiếng của Solovetsky. Phía đông là trạm phát điện do tù nhân xây dựng, ngày nay vẫn còn hoạt động liên tục. Ngay sau đó là dải đất nơi vốn có vườn ươm thực vật. Tại đấy, trong những ngày đầu của trại, một số tù đã thử ươm cây làm thí nghiệm, cố gắng tìm hiểu xem loài nào hữu ích có thể canh tác tại miền cực bắc này. Cuối cùng, phía sau vườn thực vật là những đảo khác thuộc chuỗi đảo Solovetsky. Rải rác dọc bờ Bạch Hải là đảo Bolshaya Muksalma, nơi tù có thời đến nuôi giống cáo lông xám bạc để lấy da; đảo Anzer, nơi có trại đặc biệt dành cho người tàn tật, phụ nữ có con nhỏ và các cựu tu sĩ; hòn Zayatsky Ostrov, nơi có trại trừng phạt dành cho tù nữ (Mô tả về địa lý Solovetsky, các đảo khác và lịch sử của chúng có thể xem thêm Melnik, Soshina, Reznikova và Reznikov). Không phải vô cớ mà Solzhenitsyn đã chọn hình ảnh “quần đảo” để ám chỉ hệ thống trại tù Xôviết. Solovetsky, trại Xôviết đầu tiên được thiết kế và xây dựng với mong đợi sẽ hoạt động lâu dài, phát triển trên đúng là một quần đảo, lan rộng dần từ đảo này sang đảo khác, biến dần những nhà thờ và công trình cũ của một tu viện cổ thành của mình. Quần thể tu viện xưa kia cũng từng là một nhà tù. Các tu sĩ Solovetsky, những đầy tớ trung thành của Sa hoàng, kể từ thế kỷ 16 đã giúp vua giam cầm các đối thủ chính trị của mình – trong đó có những cha cố ngang ngạnh và các nhà quý tộc nổi loạn (“Solovetskaya monastyrskaya tyurma”, Solovetskoe Obshchestvo Kraevedeniya, Vypusk, VII, 1927 (SKM)). Sự cô đơn, những bức tường cao, gió lạnh và hải âu, từng có thời thu hút các tu sĩ thuộc dòng tu đặc biệt thích biệt lập, nay cũng hấp dẫn trí tưởng tượng của những người Bolshevik. Ngay từ tháng Năm năm 1920, một bài viết trên ấn bản vùng Arkhangelsk của thông tấn xã Izvestiya đã mô tả nhóm đảo này là nơi lý tưởng cho một trại lao động: “môi trường và chế độ lao động khắc nghiệt, việc chống chọi với các điều kiện thiên nhiên sẽ hình thành một trường học tốt cho mọi loại tội phạm”. Nhóm tù nhân đầu tiên được chuyển tới đây vào mùa hè năm đó (Ivan Bogov, Izvestiya Arkhgubrevkoma i Arkhgubkoma RKP (b), số 4 tháng Năm 1920 (SKM); cũng có trích trong Brodsky, tr. 13). |
http://i653.photobucket.com/albums/u.../Gulag/2-2.jpg
Những người khác thuộc giới lãnh đạo chóp bu cũng rất quan tâm tới nhóm đảo này. Bản thân Dzerzhinsky đã đứng ra thuyết phục chính quyền Xôviết chuyển giao các tài sản của tu viện đã bị quốc hữu hóa, cùng với tài sản của các tu viện Petrominsk và Kholmogory cho Cheka – lúc này được đổi tên thành GPU, và sau đó thành OGPU hay Cơ quan Quản lý Chính trị Toàn Liên bang – ngày 13 tháng Mười 1923. Cả ba tu viện được đổi tên thành “trại mục đích đặc biệt” (GARF, 5446/I/2. Xem thêm ý kiến của Nasedkin trao đổi với Dzerzhinsky tại GARF, 9414/I/77). Sau này, chúng sẽ được biết dưới cái tên “cụm trại mục đích đặc biệt phương bắc”: Severnye lagerya osobogo naznacheniya, hay SLON. Trong tiếng Nga, slon có nghĩa là “con voi”. Cái tên này sẽ trở thành nguồn gốc nhiều chuyện tiếu lâm, mỉa mai hoặc mang tính đe dọa. Theo lời kể của những người sống sót, Solovetsky sẽ mãi mãi được nhắc tới như là “trại Gulag đầu tiên” (Ví dụ xem Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 25-70). Mặc dù gần đây các chuyên gia ngày càng làm rõ rằng những trại và nhà tù khác cũng có tồn tại với phạm vi rộng vào thời điểm đó, Solovetsky hiển nhiên vẫn giữ một vị trí đặc biệt không chỉ trong ký ức những người sống sót mà cả trong ngành mật vụ Xôviết (Tham khảo Jakobson về số liệu hệ thống nhà tù thập niên 1920). Có thể Solovetsky không phải là nhà tù duy nhất tại Liên Xô vào những năm 1920, nhưng đó là nhà tù cho họ, cho tù của OGPU, nơi OGPU lần đầu tiên học được cách sử dụng lao động khổ sai cho hữu ích. Trong một bài giảng năm 1945 về lịch sử hệ thống trại cải tạo, đồng chí Nasedkin, lúc ấy là thủ trưởng điều hành hệ thống trại, đã tuyên bố rằng hệ thống trại không chỉ bắt nguồn từ Solovetsky năm 1920, mà toàn bộ hệ thống “lao động cưỡng bức với mục đích cải tạo tù” của Liên Xô cũng khởi đầu từ đó vào năm 1926 (GARF, 9414/I/77). Tuyên bố trên thoạt đầu có vẻ kỳ cục, bởi lao động cưỡng bức đã được xem là một hình thức của hình phạt tại Liên Xô kể từ năm 1918. Tuy nhiên ta sẽ thấy bớt kỳ cục hơn nếu nhìn lại sự phát triển của khái niệm lao động cưỡng bức trên chính cụm đảo Solovetsky. Bởi mặc dù tất cả cùng làm việc trên đảo, trong những ngày đầu tù nhân không được tổ chức thành một thứ gì gần giống như một “hệ thống”. Và cũng đầy đủ chứng cứ để thấy rằng lao động của họ ban đầu không đem lại lợi ích gì. |
http://i653.photobucket.com/albums/u.../Gulag/2-3.jpg
Trước hết là, một trong hai loại tù chính ở Solovetsky ban đầu không phải làm bất cứ việc gì. Đó là khoảng 300 tù “chính trị” phe xã hội, những người này chỉ được chuyển tới đảo vào tháng Sáu năm 1923. Đến từ trại Petrominsk, cũng như từ Butyrka và các nhà tù khác ở Moscow và Petrograd, họ được đưa thẳng tới tu viện nhỏ hơn Savvatyevo, nằm cách quần thể tu viện chính vài cây số về phía bắc. Tại đây, lính gác Solovetsky được yên tâm rằng họ bị cách ly khỏi các tù nhân khác, không thể gây ảnh hưởng đến họ bằng các trò tuyệt thực và chống đối quá khích của mình. Ban đầu, cánh xã hội được hưởng các “ưu tiên” của tù chính trị mà họ đã đòi hỏi từ lâu: báo chí, sách vở và, phía sau hàng rào kẽm gai, tự do đi lại và tự do làm việc. Với mỗi đảng chính trị chủ chốt – Cách mạng Xã hội tả khuynh, Cách mạng Xã hội hữu khuynh, Vô chính phủ, Dân chủ Xã hội và sau là Xã hội phục quốc Do Thái – đã chọn ra lãnh tụ của riêng mình, dành lấy những căn phòng cho riêng phe mình trong khu tu viện cũ (Juri Brodsky, tr. 30-31; Olitskaya, tập I, tr. 237-240; Malsagov, tr. 117-131). Đối với Elinor Olitskaya, một đảng viên Cách mạng Xã hội tả khuynh trẻ tuổi bị bắt năm 1924, thoạt đầu Savvatyevo có vẻ như “không giống nhà tù một tẹo nào”, đã khiến bà thấy choáng sau nhiều tháng trải qua trong nhà tù Lubyanka tối tăm ở Moscow. Căn phòng của bà, một phòng tu cũ thuộc khu nay trở thành khối nữ của phe Cách mạng Xã hội, như sau: sáng sủa, sạch sẽ, lau chùi thường xuyên, có hai cửa sổ cao rộng đang mở. Phòng giam mà tràn ngập ánh sáng và không khí. Dĩ nhiên là không có song sắt chắn cửa sổ. Giữa phòng giam là một chiếc bàn nhỏ phủ khăn trắng. Dọc theo tường có bốn cái giường, trải ga gọn gàng. Đầu mỗi giường có bàn ngủ nhỏ, trên bàn có sách, sổ tay và bút. Trong khi bà còn đang ngạc nhiên với căn phòng thì trà được dọn ra trong ấm sứ kèm theo đường mía đựng trong bát sứ, bạn cùng phòng giải thích rằng tù nhân chủ động tạo ra không khí thân mật như vậy là có chủ đích: “chúng tôi muốn sống cho ra con người” (Olitskaya, tập I, tr. 237-240). Olitskaya mau chóng nhận thấy rằng mặc dù đang phải chịu bệnh lao phổi và các căn bệnh khác, cũng như thường phải ăn không đủ no, tù chính trị Solovetsky được tổ chức vô cùng chặt chẽ, có “starosta” của mỗi phòng chịu trách nhiệm về việc tích trữ, nấu nướng và phân phối thức ăn. Bởi vì họ vẫn thuộc chế độ “chính trị” đặc biệt, họ cũng được phép nhận bưu phẩm, cả từ thân nhân lẫn từ Hội Chữ thập Đỏ Chính trị. Mặc dù Hội Chữ thập Đỏ Chính trị đã bắt đầu gặp khó khăn – năm 1922 các văn phòng hội bị tấn công và tài sản bị tịch thu – Ekaterina Peshkova, vị chủ tịch có quan hệ rộng của hội, vẫn được phép tự đứng ra gửi hỗ trợ cho tù chính trị. Năm 1923, bà gửi cả một toa tàu đầy thực phẩm cho tù chính trị Savvatyevo. Một chuyến thuyền chất đầy quần áo cũng khởi hành lên phương bắc vào tháng Mười cùng năm (Hoover, Nikolaevsky Collection, Box 99; và Hoover, Fond 89, 73/34.). |
Khi đó đây là giải pháp cho vấn đề về mối liên hệ với công chúng do tù chính trị đưa ra: dù ít dù nhiều cũng cho họ những gì họ muốn, nhưng giữ họ cách ly khỏi đám người nhân đạo càng xa càng tốt. Đó là một giải pháp không có hồi kết: chế độ Xô viết không thể chấp nhận các ngoại lệ mãi mãi được. Đến một lúc thì ảo tưởng cũng chấm dứt – số tù trên Solovetsky ngày càng tăng thì như thế mãi không được. “Ngay khi đặt chân lên Solovets, tất cả chúng tôi đều cảm thấy đang trải qua một quãng đời mới mẻ và kỳ lạ”, một tù chính trị viết. “Qua trò chuyện với bọn tội phạm, chúng tôi biết được chế độ hà khắc đáng kinh hoàng mà ban quản trại đang áp dụng với họ...” (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 165-171)
Kém tráng lệ và kiểu cách hơn nhiều, khu lán chính ở cung Solovetsky đã mau chóng đầy tràn tù nhân có thân phận vô định. Từ con số vài trăm năm 1923, từ từ đã tăng lên tới 6.000 năm 1925 (Juri Brodsky, tr. 194). Trong số họ có các sĩ quan và cảm tình Bạch vệ, “bọn đầu cơ”, đám cựu quý tộc, những thủy thủ từng tham gia nổi loạn ở Kronstadt và cả bọn tội phạm chính cống. Với các tù nhân này, trà đựng trong ấm sứ và đường đựng trong bát khó lòng mà với được. Hoặc đúng hơn là khó với tới đối với một số người, nhưng dễ hơn với một số kẻ khác; trên hết cả là mọi khía cạnh của cuộc sống trong lán “tội phạm” ở trại đặc biệt Solovetsky trong những năm tháng đầu tiên ấy đều rất bất hợp lý, và không thể nói trước điều gì sẽ xảy ra ngay vào lúc người tù đặt chân lên đảo. Cựu tù nhân Boris Shiryaev sau này viết hồi ký kể lại, trong đêm đầu tiên ở trại, ông và những người mới đến khác được đồng chí A. P. Nogtev, giám đốc thứ nhất của trại Solovetsky, đón tiếp. “Tôi xin chào đón các anh,” ông ta nói với họ bằng một giọng mà Shiryaev tả là “đầy mỉa mai”: “Như các anh đã biết, ở đây không có chính quyền Xôviết mà chỉ tồn tại chính quyền Solovetsky. Các anh có thể quên sạch mọi thứ quyền trước đây các anh từng có đi được rồi. Tại đây chúng ta có luật lệ riêng”. Cụm từ “không có chính quyền Xôviết mà chỉ tồn tại chính quyền Solovetsky” sẽ được lặp đi lặp lại, như xác nhận từ những người viết hồi ký khác (Shiryaev, tr. 30-37). Trong vòng vài ngày hoặc vài tuần sau, hầu hết tù nhân sẽ được nếm trải “chính quyền Solovetsky” là gì: một pha trộn giữa việc vừa mặc cho tội phạm hoàn thành, vừa hành động tàn ác bừa bãi. Điều kiện sống trong các phòng tu và nhà thờ cũ chuyển mục đích rất thô sơ, cũng không mấy ai quan tâm cải thiện nó lên. Trong đêm đầu ở lán của mình tại Solovetsky, nhà văn Oleg Volkov được phân chỗ ngủ tại sploshnye nary - giường tầng mà thực chất là những phản gỗ phẳng (chúng ta sẽ nghe kể nhiều hơn về nó ở những phần sau) trên đó một loạt người nằm ngủ thành hàng dài. Khi nằm xuống, rệp bắt đầu rơi xuống người ông “hết con này tới con khác như kiến vậy. Không tài nào ngủ được”. Ông bỏ ra ngoài thì lập tức bị bao vây bởi “một đám mây muỗi... Tôi nhìn đầy vẻ ghen tỵ những người đang nằm ngủ ồn ào trong kia, mình lúc nhúc đầy lũ hút máu” (Volkov, tr. 53). |
Bên ngoài khu tu viện chính mọi thứ còn khắc nghiệt hơn. Chính thức thì SLON bao gồm 9 trại riêng biệt rải khắp quần đảo, mỗi trại lại chia thành những tiểu đoàn lao động. Nhưng một số tù còn bị sống trong những điều kiện thô sơ hơn nữa trong rừng, gần điểm khai thác gỗ (Juri Brodsky, tr. 65). Dmitri Likhachev, sau này trở thành một trong những nhà bình luận văn học nổi tiếng nhất nước Nga, cảm thấy mình may mắn khi không bị phân vào làm ở một trong nhiều trại vô danh đóng giữa rừng. Ông đã tới một trại và viết lại như sau: “tôi phát rùng mình vì kinh hãi khi nhìn thấy nó: mọi người ngủ ngay trong những con hào vừa mới đào lúc ban ngày, đôi khi phải đào cả bằng tay” (Likhachev, Kniga bespokoistv, tr. 98-100).
Ở ngoài trời, ban quản lý trung ương trại kiểm soát hành vi từng cá nhân lính gác và chỉ huy trại còn lỏng lẻo hơn. Trong hồi ký của mình, tù nhân Kiselev đã tả lại trại ở Anzer, nằm trên một hòn đảo nhỏ hơn. Do một nhân viên Cheka tên là Vanka Potapov chỉ huy, trại này gồm ba lán và một trụ sở cho lính gác đóng trong một nhà thờ cũ. Tù nhân đi đốn cây, không nghỉ lấy sức, không ngưng tay, thức ăn rất thiếu thốn. Tuyệt vọng mong được nghỉ lấy sức vài ngày, họ tự chặt vào tay chân mình. Theo Kiselev, Potapov xiên những “viên ngọc” ấy trên một cây sào dài và cho khách đến thăm xem, khoe khoang với họ rằng mình đã tự tay giết đến hơn 400 người. “Không ai còn sống sót từ đấy trở về”, Kiselev viết về Anzer. Thậm chí nếu ông này có quá phóng đại thì tự điều ấy cũng nói lên nỗi khủng khiếp của các trại ngoại vi đối với tù nhân (Juri Brodsky, tr. 190). Trên toàn cụm đảo, điều kiện vệ sinh đã đến mức thảm họa, lao động quá sức và chất lượng thức ăn tồi dẫn tới bệnh tật, và trên hết là dịch sốt chấy rận. Trong số 6.000 tù do SLON quản thúc năm 1925, có khoảng một phần tư chết trong mùa đông 1925-1926 trong một đợt bệnh dịch dữ dội. Theo một số tính toán thì con số chết bệnh ở mức khá cao: có từ một phần tư đến một nửa tù chết vì sốt chấy rận, thiếu ăn và vì các bệnh dịch khác hàng năm. Một tài liệu ghi nhận 25.552 ca sốt chấy rận tại các trại của SLON trong mùa đông 1929-1930 (vào lúc này thì SLON đã phình ra khá lớn) (Juri Brodsky, tr. 195-197). |
Nhưng đối với một vài tù nhân thì Solovetsky còn đáng sợ hơn cả thiếu thốn và bệnh tật. Trên đảo, tù là đối tượng cho mọi hình thức bạo lực xa đích và hành hạ vô nghĩa theo kiểu mà trong Gulag về sau này ít gặp hơn – như Solzhenitsyn mô tả - “quản nô đã trở thành một hệ thống có trù tính kỹ lưỡng” (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 54). Mặc dù có nhiều hồi ký mô tả lại những hành động này, các kiểu hành hạ được thống kê đầy đủ nhất trong báo cáo của một ủy ban điều tra do Moscow gửi tới đây một thập kỷ sau. Trong quá trình điều tra, các quan chức Moscow kinh hoàng phát hiện ra rằng lính gác Solovetsky thường xuyên nhốt tù bị lột quần áo trong những tháp chuông cũ lạnh lẽo của nhà thờ vào mùa đông, tay chân họ bị trói quặt sau lưng bằng một mẩu thừng. Lính gác cũng vứt tù lên “băng ghế”, nghĩa là họ bị thúc phải ngồi trên các cây cọc có khi lâu tới 18 tiếng đồng hồ không được nhúc nhích, đôi khi với vật nặng buộc vào chân và bàn chân lơ lửng không chạm sàn nhà, cách này đảm bảo khiến tù tàn tật vĩnh viễn. Đôi khi, tù phải trần truồng đi tắm, điểm tắm cách đấy 2 cây số giữa thời tiết băng giá. Hoặc họ bị cho ăn thức ăn thối một cách có tính toán. Hoặc bị bỏ mặc không được chăm sóc y tế. Có những thời kỳ tù bị giao các công tác vô nghĩa không cần thiết như chuyển hàng khối tuyết từ nơi này qua nơi khác, hay phải nhảy từ trên cầu xuống dòng sông phía dưới trong khi lính gác hô to “Cá heo!” (Chukhin, Kanaloarmeetsi, tr. 40-44; hay Chukhin, “Dva dokumenta”. Chukhin giải thích rằng những tài liệu này, được in lại đầy đủ, là một phần của “Bản điều tra tội hình sự số 885”. Chúng thuộc Lưu trữ của FSB Petrozavodsk nơi Chukhin làm việc)
Một hình thức hành hạ khác đặc trưng của đảo này, được đề cập trong cả hồ sơ lưu trữ lẫn các hồi ức, đó là “cho đi ngủ với muỗi”. Klinger, một sĩ quan Bạch vệ sau trở thành một trong số ít người chạy trốn thành công khỏi Solovetsky, đã viết rằng ông từng thấy kết quả kiểu hành tội này trên người một tù chỉ vì đòi lính gác cho nhận gói bưu phẩm từ nhà gửi đến. Đám lính gác bực mình đã phản ứng bằng cách lột hết quần áo ông này, kể cả đồ lót, trói ông vào một cái cột giữa khu rừng mà vào mùa hè vùng cực bắc lúc nhúc đầy muỗi. “Trong vòng nửa giờ, khắp thân thể bất hạnh của ông ấy bao kín những vết muỗi đốt”, Klinger viết. Cuối cùng, người đàn ông kia ngất đi vì đau và mất máu (Klinger, tr. 210; được nhắc lại trong Sever, tập 9, tháng Chín 1990, tr. 108-112. Hành hạ bằng muỗi cũng được nhắc tới trong tài liệu lưu trữ - xem Zvenya, tập I, tr. 383 – cũng như trong các hồi ký. Xem Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 165-171; Volkov, tr. 55). Xử tử hàng loạt dường như được thực hiện tùy tiện, nhiều tù nhớ lại cảm giác khiếp hãi trước cái chết không thể đoán trước. Likhachev tuyên bố đã thoát chết trong gang tấc trong một cuộc xử bắn hàng loạt vào cuối tháng Mười 1929. Tài liệu lưu trữ cũng cho thấy khoảng năm mươi người (không phải 300 như Likhachev viết) bị hành quyết vào thời điểm đó với tội danh tổ chức một cuộc khởi loạn (Chukhin, “Dva dokumenta”, tr. 359; Likhachev, Kniga bespokoistv, tr. 196-198). |
Cũng tương đương với án tử nếu dính phải án giam trong Sekirka, một nhà thờ có toàn bộ tầng hầm biến thành khám biệt giam Solovetsky. Thực ra, mặc dù có nhiều câu chuyện kể về những gì đã xảy ra dưới tầng hầm nhà thờ, có quá ít người trở về được từ Sekirka đến nỗi thật khó biết rõ thực tế ở đó ra sao. Một nhân chứng đã thấy cả một đội lao động từ đó đi tới chỗ làm việc: “một đoàn những con người đầy vẻ khiếp sợ, ánh mắt man dại, vài người chỉ có bao vải làm quần áo, tất cả đều đi chân trần, xung quanh là lính gác vũ trang đầy đủ...” (Juri Brodsky, tr. 129)
Theo như các truyền thuyết của Solovetsky, chuyến hành trình dài 365 bậc thang lót gỗ dẫn từ nhà thờ Sekirka xuống dưới chân đồi dốc đứng cũng giết người không ít. Vào thời kỳ sau khi chính quyền trại cấm lính gác không được bắn vào tù nhân Sekirka nữa, bọn họ nghĩ ra cách dàn xếp các “tai nạn” và xô họ xuống các bậc thang (Các hướng dẫn du lịch trên cụm đảo Solovetsky đều đề cập tới câu chuyện này. Ta cũng có thể tìm thấy trong Quần đảo Gulag của Solzhenitsyn, tập II, tr. 37-38). Trong những năm gần đây, hậu duệ của tù Solovetsky đã dựng một thập giá bằng gỗ ở chân chuỗi bậc thang để đánh dấu nơi được cho là nhiều tù đã chết. Giờ đây đó là một điểm rất yên bình và khá đẹp – đẹp đến nỗi cuối những năm 1990 bảo tàng lịch sử địa phương Solovetsky đã cho in một thiếp Giáng Sinh với cảnh Sekirka, các bậc thang và cây thánh giá. |
Trong khi tinh thần bất công và bất lường thống trị khiến hàng ngàn người phải chết trong các trại của SLON trong những năm 1920, cũng sự bất công và bất lường ấy đã giúp cho nhiều người không chỉ sống sót mà còn – đúng theo nghĩa đen – được ca hát và nhảy múa. Năm 1923, một số tù đã tổ chức được nhà hát đầu tiên của trại. Thoạt đầu các “diễn viên”, nhiều người trong số đó phải đi đốn gỗ trong rừng sâu mười giờ mỗi ngày trước khi đến buổi tập, không có cả đến kịch bản, chỉ diễn các vở kinh điển dựa theo trí nhớ. Nhà hát đã cải thiện đáng kể vào năm 1924, khi có trọn một nhóm cựu diễn viên chuyên nghiệp được chuyển tới trại (tất cả đều cùng bị kết án là thành viên một tổ chức hoạt động “phản cách mạng”). Cũng vào năm đó, họ đã đưa lên sân khấu vở Chú Vania của Chekhov và Những đứa con của Mặt trời của Gorky (Tsigankov, tr. 196-197).
Về sau, nhiều vở opera và operetta đã được diễn tại nhà hát Solovetsky, tại đây cũng đã tổ chức được các buổi trình diễn nhào lộn và chiếu phim. Tiết mục biểu diễn âm nhạc buổi chiều bao gồm một đoạn trình diễn hòa tấu, một khúc ngũ tấu, một trích đoạn đồng ca hay aria từ một vở opera Nga (Likhachev, Kniga bespokoistv, tr. 212). Tiết mục biểu diễn vào tháng Ba 1924 bao gồm một vở kịch của nhà văn Leonid Andreev (con trai ông này là Danil, một nhà văn, sau cũng là một tù Gulag), một vở kịch Gogol và một buổi chiều tưởng niệm diễn viên Pháp Sarah Bernhardt (Kho lưu trữ báo và tạp chí của GARF : SLON, tập III, tháng Năm năm 1924). http://i653.photobucket.com/albums/u.../Gulag/2-4.jpg Nhà hát không phải là nơi duy nhất diễn ra hoạt động văn hóa. Solovetsky cũng có một thư viện với 30.000 đầu sách, và một vườn thực vật, nơi tù nhân thí nghiệm ươm giống các loại cây vùng cực bắc. Tù Solovetsky, với nhiều người từng là các nhà khoa học St. Petersburg, cũng tổ chức một bảo tàng thực vật, động vật, nghệ thuật và lịch sử địa phương (Shirayev, tr. 115-132; Likhachev, Kniga bespokoistv, tr. 201-205. Cũng có thể tham khảo sách và tạp chí tại SKM). Một số tù quý phái hơn còn cầm theo gậy chống – ít nhất là dựa theo ảnh chụp – vốn đầy chất tư sản. Các ảnh chụp cho thấy một chiếc dương cầm, sàn nhà lót gỗ, trên tường treo chân dung Marx, Lenin và Lunacharsky – Bộ trưởng Văn hóa đầu tiên của Liên Xô – mọi thứ trông rất ấm cúng (SLON, tập III, tháng Năm năm 1924 - GARF). |
Sử dụng chiếc máy in cũ của các tu sĩ, tù Solovetsky cũng xuất bản hàng tháng các tạp chí và báo với tranh biếm họa, những khổ thơ đầy nỗi nhớ nhà, thậm chí cả một tiểu thuyết có tính hiện thực đến bất ngờ. Trong ấn bản Solovetskie ostrova (Đảo Solovetsky) tháng 12 năm 1925 có một truyện ngắn kể về một nữ diễn viên tù đi đày tại Solovetsky, bị buộc phải làm nhân công lau dọn, đã không thể thích nghi với cuộc sống mới. Truyện kết thúc với câu kết “Solovetsky đã bị nguyền rủa”.
Trong truyện ngắn khác, một cựu quý tộc từng được hưởng “những buổi chiều ấm cúng trong Cung điện Mùa Đông” nay tìm kiếm sự thoải mái trong môi trường mới chỉ bằng cách đến thăm một nhà quý tộc khác và trò chuyện về thời đại đã qua (Solovetskie ostrova, tập 12, Tháng 12 năm 1925 - SKM). Rõ ràng là lối văn sáo rỗng hiện thực xã hội chủ nghĩa vẫn chưa được quán triệt. Không phải tất cả các câu chuyện đều có kết thúc có hậu vốn sau này trở thành sự bắt buộc, và không phải tất cả những nhân vật tù nhân hư cấu này đều vui vẻ thích ứng với hiện thực Xôviết. Các tạp chí ở Solovetsky cũng in những bài viết khá uyên bác, từ các phân tích của Likhachev về chiêu mánh cờ bạc của tù tội phạm, cho tới các nghiên cứu về nghệ thuật và kiến trúc của các nhà thờ Solovetsky đổ nát. Trong khoảng từ 1926 tới 1929, nhà in SLON thậm chí còn xuất bản được hai mươi chín bộ tổng tập do Hội Bách khoa địa phương Solovetsky thực hiện. Các cư dân ở đây đã tiến hành nghiên cứu về động thực vật trên đảo, tập trung vào các loài sinh vật độc đáo – nai vùng cực bắc hay các loài thực vật địa phương – và xuất bản các bài viết về sản xuất gạch, các luồng gió, các khoáng chất có ích và thuộc da thú. Một vài tù quá nhiệt tình với chủ đề cuối đến nỗi vào năm 1927, khi hoạt động sản xuất trên đảo đã đạt tới đỉnh điểm, một nhóm tù đã nhập mấy con cáo lông xám bạc từ Phần Lan để “tự nuôi lấy” nhằm cải tạo chất lượng giống cáo địa phương. Ngoài ra, nhóm biên soạn bách khoa địa phương đã thực hiện khảo sát địa chất đảo, kết quả khảo sát ngày nay vẫn còn được giám đốc bảo tàng lịch sử địa phương đảo sử dụng (Qua trao đổi với giám đốc SKM Tatyana Fokina ngày 12/9/1998. Cũng có thể tham khảo Solovetskie ostrova, năm 1925, tập số 1-7 và năm 1930 tập số 1; hoặc tập san Solovetskie obshchestvo kraevedeniya, thuộc bộ sưu tập của bảo tàng và bộ sưu tập của AKB. Cũng có thể xem thêm Dryakhlitsin). |
Những tù nhân được ưu đãi ấy cũng tham gia các buổi lễ và ngày kỷ niệm của chính quyền Xôviết, những dịp mà các thế hệ tù sau này của trại luôn cố ý lờ đi. Tại một bài viết vào tháng Chín 1925 trong ấn bản Solovetskie ostrova có tả lại Lễ Mùng Một tháng Năm trên đảo. Chán thay, thời tiết lại rất xấu:
Vào ngày Mùng Một tháng Năm, trăm hoa đang đua nở trên khắp đất nước Liên Xô, nhưng tại Solovetsky biển vẫn còn đầy băng chưa tan, trên đảo tuyết vẫn phủ kín. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chuẩn bị kỷ niệm ngày lễ vô sản. Từ sáng sớm, sự phấn khích đã bao trùm khắp các lán. Một số người tắm rửa. Một số cạo râu. Một số sửa soạn quần áo tươm tất, số khác thì đánh bóng ủng… (Solovetskie ostrova, tập 9, tháng Chín 1925, tr. 7-8 - SKM) Thậm chí đáng ngạc nhiên hơn – xét theo quan điểm của những năm sau này – là sự bền bỉ ngoan cố duy trì các buổi lễ tôn giáo trên đảo. Một cựu tù, V. A. Kazachkov, đã nhớ lại buổi Lễ Phục Sinh “hoành tráng” năm 1926 như sau: Không lâu trước ngày lễ, tay giám đốc nhà tù mới nhận chức yêu cầu tất cả những ai muốn đến nhà thờ phải tới trình diện hắn ta đem theo một tờ khai. Thoạt đầu hầu như không một ai làm theo – mọi người đều sợ lãnh hậu quả. Nhưng ngay trước Phục Sinh, một số đông đã làm tờ khai… Dọc con đường dẫn tới nhà thờ và nhà nguyện Onufrievskaya, mọi người đi thành nhiều hàng, tạo thành một đám rước lớn. Tất nhiên chúng tôi không thể chui tất vào trong nhà nguyện. Mọi người đứng bên ngoài, những ai đến muộn thậm chí không thể nghe được lễ (Reznikova, tr. 46-47). Thậm chí trong ấn bản tháng 5/1924 của tờ Solovetskii Lager, một tạp chí khác của trại tù, được biên tập cẩn trọng nhưng vẫn khẳng định Lễ Phục Sinh là “một ngày lễ cổ truyền mừng mùa xuân đang tới”, mà “dưới ngọn cờ hồng, ta vẫn cần rất trân trọng” (Solovetskii Lager, tập 3, tháng 5/1924 - SKM). |
Cùng với những ngày lễ tôn giáo, một số ít các tu sĩ chính cống vẫn tiếp tục sống sót trong sự ngạc nhiên của đám tù, mãi đến tận nửa cuối thập kỷ 1920. Họ được giao nhiệm vụ làm “thày tu trợ giáo”, nhằm truyền đạt cho tù các kỹ năng cần thiết để điều hành những nông trại và xưởng chế biến cá trước đây từng rất phát đạt – cá trích Solovetsky từng nằm trong thực đơn trên bàn ăn của Sa hoàng – cũng như các bí mật của hệ thống kênh đào phức tạp họ vẫn dùng để nối giữa các nhà thờ trên đảo trong suốt nhiều thế kỷ. Nhóm các tu sĩ được bổ sung thêm, qua nhiều năm trời, khoảng vài chục thầy tu Xôviết và nhiều thành viên các dòng Thiên chúa, gồm cả Chính thống lẫn Công giáo, là những người đã chống lại việc tịch thu tài sản của nhà thờ hoặc đã vi phạm “sắc lệnh về việc tách Nhà thờ khỏi Nhà nước”. Giới tăng lữ, có gì đó giống như các tù chính trị cánh xã hội, được phép sống biệt lập trong một khu riêng biệt thuộc phạm vi nội cung nhà thờ và cũng được phép làm lễ trong căn nhà nguyện nhỏ của nghĩa trang mãi cho đến năm 1930-1931 – một biệt đãi bị cấm với những tù khác ngoại trừ trong các dịp đặc biệt.
Những “đặc quyền” đó hóa ra đã gây những khó chịu, đã có vài căng thẳng giữa đám tăng lữ với tù thường. Một nữ tù, bị chuyển đến biệt khu dành cho bà mẹ có con nhỏ trên đảo Anzer sau khi sinh con, đã nhớ lại các bà xơ trên đảo “giữ khoảng cách xa với đám tín đồ chúng tôi… họ cáu kỉnh, không ưa lũ trẻ và thù ghét chúng tôi”. Các tu sĩ khác, như nhiều hồi ký có nhắc đến, có thái độ trái ngược hẳn, cống hiến hết bản thân cho hoạt động truyền bá tích cực và các công tác xã hội, đối với cả tù thường phạm lẫn tù chính trị (Reznikova, tr. 7-36; Hoover, Melgunov Collection, Box 7, Folder 44). Đối với những người có chút tiền thì có thể dùng tiền mua chuộc để được miễn làm việc trong rừng hoặc tránh không bị hành hạ đến chết. Solovetsky có một nhà hàng có thể (bất hợp pháp) phục vụ cho tù. Những ai có đủ món tiền hối lộ cần thiết cũng có thể mua tại đây thực phẩm cho mình (Nikolai Antsiferov, “Tri glavy iz vospominanii”, trong Pamyat, tập 4, tr. 75-76). Ban quản lý trại có thời gian thậm chí còn tổ chức các “cửa hàng” trên đảo, ở đấy tù có thể mua nhu yếu phẩm như quần áo, với giá gấp hai lần các cửa hàng Xôviết bình thường (Klinger, tr. 170-177). Một nhân vật khẳng định mình từng hối lộ để thoát khỏi cảnh hành hạ là “Bá tước Violaro”, một gã du côn có tên tuổi xuất hiện (được phát âm với nhiều biến thể khác nhau) trong rất nhiều hồi ký. Tay bá tước, thường được mô tả là “Đại sứ Mexico ở Ai Cập”, đã mắc sai lầm khi quyết định đến thăm gia đình nhà vợ ở nước Cộng hòa Xôviết Grudia ngay sau Cách Mạng. Cả anh ta lẫn vợ đều bị bắt và bị đầy lên phương bắc. Mặc dù ban đầu có bị giam – tại đây nữ bá tước được giao việc giặt giũ – huyền thoại trong trại kể rằng với khoản tiền 5.000 rúp, tay bá tước đã mua được quyền cho cả hai sống trong một căn nhà biệt lập có ngựa và người hầu (Klinger, tr. 200-201; Malsagov, tr. 139-145; Rozanov, tr. 55; Hoover, Melgunov Collection, Box 7). Nhiều người khác nhớ lại sự có mặt của một thương nhân Ấn Độ giàu có đến từ Bombay, sau này được thoát tù nhờ tác động từ lãnh sự quán Anh tại Moscow. Hồi ký của ông này về sau đã được các nhà in lưu vong xuất bản (Tsigankov, tr. 96-125; Hoover, Melgunov Collection, Box 7). |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:16. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.