Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=38)
-   -   Lịch sử nền khoa học công nghệ Tin học Xô Viết (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=274)

Thao vietnam 02-05-2008 23:20

(tiếp theo)
Dưới bệ người ta lắp một quạt gió để làm mát. Việc kiểm tra khả năng làm việc của từng bộ phận được tiến hành theo từng giai đoạn, xong cái nào thử ngay cái ấy. Cách tổ chức như vậy rút ngắn đáng kể thời gian hiệu chỉnh tổng thể toàn bộ máy. Như vậy cụm số học được lắp xong vào tháng Mười hai năm 1950 và đầu năm 1951 đã hiệu chỉnh xong. Hơn nữa, thời gian này chỉ cần điều chỉnh biến tử lập trình tại chỗ của cụm số học vì phần số của nó đã được hiệu chỉnh trước đó. Cùng lúc đó đã chế tạo và hiệu chỉnh xong biến tử lập trình chính. Matukhin và Karsev làm việc mỗi ngày 16-18 tiếng để hiệu chỉnh máy. Đến mùa xuân năm 1951 cũng đã làm xong trống từ. Thân hình trụ của nó được phủ bằng vật liệu sắt từ và bắt đầu hiệu chỉnh bộ nhớ từ tính – điều chỉnh đầu từ và mạch ghi, đọc. L.M. Giurkin làm công việc này dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của N.Ya. Matukhin. Khi được nhận vào phòng thí nghiệm hệ thống điện làm việc, A.B. Zalkin bắt tay vào hiệu chỉnh các thiết bị số học và nghiên cứu thiết bị nhập xuất dữ liệu.
Công việc hiệu chỉnh từng phần, tính tương thích của chúng và hiệu chỉnh toàn máy đã chiếm trọn cả sáu tháng đầu năm 1951. Giai đoạn đầu máy được hiệu chỉnh đạt đến mức ở chế độ không tự đọng có thể giải được tất cả các phép tính số học. Bầu không khí đoàn kết thân thiện trong tập thể và quan hệ thân thiết như cha với con giữa Bruk và các cộng sự đã làm cho công việc có kết quả tốt. Ông ấy có ước muốn mãnh liệt là vượt lên trước thời đại, ước muốn của ông đã truyền sang cả chúng tôi và chúng tôi đã làm việc không tiếc sức. Chúng tôi đều còn trẻ và mới bắt đầu tham gia vào hoạt động sáng tạo với niềm tự hào đóng góp sức mình vào một lĩnh vực kỹ thuật non trẻ. Vì vậy công việc trở nên nhẹ nhàng, lao động trở thành niềm vui. Công việc mới mẻ và hấp dẫn, mong sớm thấy kết quả mới chúng tôi sẵn sàng ở lại làm việc thêm giờ, làm việc từ sáng sớm tới khuya.

thanh_lam 03-05-2008 03:05

Trích:

nthach viết (Bài viết 4994)
Trung tâm điện toán đầu tiên


http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-58.jpg
Những người đã sáng tạo chiếc BESM-6 (từ trái sang phải) Valentina Lauth, Aleksandr tomilin, Leo Korolev, Vladimir Smirnov, Andrey Sokolov, Valentina Ivanov, Leonid Zak, Vladimir Melnikov, Sergey Lebedev, Vladimir Semeshkin.


Tháng hai năm 1955, Hội đồng bộ trưởng Liên Xô đã ra một nghị quyết thành lập một trung tâm điện điện toán đầu tiên thuộc Học viện Khoa học; viện sĩ hàn lâm Dorodnitsyn được bổ nhiệm làm giấm đóc trung tâm. Đặt tại Viện toán V.A. Steklov, trung tâm chịu trách nhiệm chi phối hai chiếc máy điện toán: BESM và Strela. Mặc dù cả hai chiếc BESM và Strela đã hoạt động đồng bộ, như chúng vẫn chưa giữ vững mức độ liên tục như thiết kế. Do mức độ cấp bách của yêu cầu tính toán, chủ tịch hội đồng bộ trưởng Liên Xô N.A. Bulganin, đã tự chuẩn bị lịch trình hàng tuần cho các máy tính. Theo Dorodnitsyn, số lượng nhân viên trong đội ngũ tính toán thường xuyên vượt hơn 69 người thường trực ở tại trung tâm điện toán. Nhưng số người ở trong trung tâm không chỉ để giải quyết các vấn đề mà còn phải nghiên cứu lập trình. Bởi ở đây, hai chiếc máy tính Ural-1 và Ural-2 từ dòng máy tính khác đã được lắp ráp tại trung tâm chủ yếu sử dụng cho đào tạo và làm tài liệu hướng dẫn

Đoàn chủ tịch học viện đã thành lập một ủy ban để đứng ra so sánh hiệu suất hoạt động của hai chiếc máy tính BESM và Strela. Sau khi đã xem sét, Ủy ban đã cùng nhất trí đưa ra kết luận; chiếc BESM có triển vọng hơn để tiếp tục phát triển. Sau khi nghị quyết đã thống nhất, Viện Cơ khí Chính xác công nhận rằng đèn hình chân không sẽ làm tăng công suất của máy tính. Thời gian này đã là cuối năm 1954 đầu năm 1955. Ngay khi bộ nhớ đã nạp đầy vào các đèn chân không, chiếc BESM bắt đầu hoạt động hết công suất. Thậm chí sau đó hai năm, Chất lượng của chiếc BESM vẫn còn ngang tầm với những chiếc máy tính tốt nhất của Mỹ và là một chiếc máy tính đạt tốc độ cao nhất châu Âu. Trung bình, chiếc BESM thực hiện được ba – địa chỉ 8000 phép tính trên giây, tốc độ tối đã của máy là 10.000 phép tính trên giây.
Những phiên bản sau của BESM được sản xuất ra, chúng vẫn là những chiếc máy tính tốt nhất châu Âu. Năm 1958, BESM được đưa vào sản xuất hàng loạt. Ngược lại mẫu máy tính Strela chỉ dừng lại ở số lượng bảy chiếc nguyên bản và không được sản xuất thêm một chiếc nào nữa. Chiếc máy tính Strela đã được trung tâm điện toán gửi sang cho hãng Mosfilm để sử dụng làm thiết bị dựng phim.

http://sovietcomputing.com

Cám ơn bạn NThach đã dịch rất nhiều tư liệu bổ ích. Trong đoạn Quote trên có một chỗ chưa chính xác : Leo Korolev xin hãy đính chính lại thành Lev Korolev ông là người viết hệ điều hành cho BESM 6 và cũng là người thầy kính mến của TL. BESM 6 là niềm tự hào của kỹ thuật máy tính Xô Viết. Nó là chiếc siêu máy tính đầu tiên của châu Âu. Vào thời điểm đó (1955) các máy CRAY của Mỹ cũng chưa thể địch lại BESM 6 về tốc độ tính toán. Người Mỹ về sau đã thắng trên cuộc đua này vì họ biết thương mại hóa sản phẩm làm ra. Trong khi đó dòng máy BESM 6 chỉ sản xuất được 7 chiếc và chủ yếu phục vụ mục đích nghiên cứu.

Thao vietnam 07-05-2008 23:28

(tiếp theo)
Trong quá trình hiệu chỉnh từng phần và giai đoạn đầu hiệu chỉnh tổng thể họ đã dùng bộ nguồn riêng cho từng phần. B.B Blưnsky nghiên cứu mạch nguồn chung cho cả máy, đến mùa hè thì dùng một bộ nguồn chung khi máy đưa vào vận hành. Từ cuối tháng Tám bắt đầu tiến hành hiệu chỉnh tổng thể: thực hiện các phép tính số học và logic ở chế độ tự động. Cùng với việc đưa vào khai thác thiết bị nhập xuất dữ liệu thì cũng bắt đầu nghiên cứu công nghệ lập trình. Các chương trình đầu tiên được viết cho những bài toán đơn giản. Một trong những bài đó là giải phương trình parabol x=y. Bài toán này có điểm đặc biệt là cho một giá trị y như nhau cho dù giá trị x là âm hay dương. Như vậy khi so sánh các giá trị đối xứng có thể xác định được là máy chạy đúng hay không. Điều đó thật đáng quý vì khi đó chưa có khái niệm chương trình kiểm tra máy tính. Có thể coi phương trình parabol y = x là chương trình kiểm tra (test) đầu tiên đối với máy tính M-1. Giải phương trình y = 1/x là chương trình thứ hai. Giai đoạn hiệu chỉnh tổng thể kêt thúc bằng việc giải phương trình y=1/x.

Thao vietnam 29-05-2008 12:43

(tiếp theo)
Từ đầu năm 1952 máy M-1 được đưa vào khai thác thử nghiệm. Người ta đã dùng nó để giải nhiều bài toán khác nhau để kiểm chứng các lời giải kỹ thuật và hoàn thiện công nghệ lập trình. Ví dụ người ta làm rõ là cần có bàn điều khiển và phép toán dừng là những khái niệm trước đó chưa ai nghĩ đến. Trong giai đoạn này mọi người tích cực tham gia vào khai thác máy, làm rõ những điểm mạnh và yếu của nó.
Zalkin, một trong những người tham gia chế tạo MTĐT M-1 nhớ lại một câu chuyện thú vị liên quan đến việc khai thác máy tính: Thời gian của máy là cực kỳ quan trọng đối với ban lãnh đạo do Kursatov đứng đầu, cánh tay phải của ông là nh à bác học nổi tiếng S.L. Sobolev chịu trách nhiệm về phần toán (khi ấy chưa có thuật ngữ bảo đảm toán học). Sobolev thường đến xem máy M-1 và ủng hộ chúng tôi bất cứ lúc nào. Nhóm của ông cần sử dụng ma trận cỡ lớn và điều này đã được M-1 làm xong từ ngay đầu năm 1952. Lúc này cũng đã có đèn pentod 6x4 s ản xuất trong nước nhưng không dùng thay thế đèn của Đức được vì đèn của chúng ta cần điện áp phân cực lưới rất cao. Hoạt động của máy tính M-1 bị chấm dứt, dù chỉ là thử nghi ệm. Đối với Sobolev điều đó thật không dễ chịu còn đối với những người chế tạo chúng tôi thì đó là một thảm hoạ.
(còn tiếp)

Thao vietnam 29-05-2008 16:08

(tiếp theo)
Tôi được phái đến nhà máy Svetlana ở Leningrad để nhận loạt bóng đèn 6x4 đã được kiểm tra đặc biệt. Người ta đã làm một cái bệ thật đơn giản gồm cực lưới , chân đèn và nguồn nuôi cùng bộ hạn dòng để thử nghiệm loạt bóng đèn này. Trước khi đi, Sobolev đến bảo tôi: Nếu có khó khăn gì hãy gọi điện thoại và mở đầu bằng câu này … Tôi hồi hộp bước trên tấm thảm dẫn đến phòng ông Gavrilov, kỹ sư trưởng nhà máy Svetlana. Tôi dừng lại ở cửa khi Gavrilo ngồi trên ghế cất tiếng hỏi : “Chọn đèn à?” tôi trả lời: “Vâng” và nghe thấy tiếng đáp: “Cút ngay khỏi đây”. Tôi buồn bã trở ra khách sạn và nhớ lai lời dặn của Sobolev trước chuyến đi. Tôi gọi điện thoại và được chỉ dẫn đến một địa chỉ trên đại lộ Nhevsky. Đó là một căn hộ có vẻ ngo ài bình thường. Ở đó họ chăm chú nghe tôi trình bày và bảo tôi đành phải đợi hai ngày vì họ hành động theo chỉ thị của bí thư thứ ba của Tỉnh Uỷ. Hai ngày sau chuông điện thoại reo vang: “ Mọi việc với Gavrilov đều ổn , anh có thể đến gặp ông ấy”. Ở Svetlana Gavrilov mỉm cười bắt tay tôi và ra lệnh thực hiện tất cả những gì tôi yêu cầu. Tôi chở về Matxcova 3 trăm bóng đèn 6x4.
(còn tiếp)

Thao vietnam 31-05-2008 13:51

(tiếp theo)
Nhờ đó mà máy M-1 lại hoạt động suốt ngày đêm. Sobolev đã rất cảm ơn chúng tôi. Nhờ có thành tích, Bruk được đưa vào nhóm của Karsev để nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử mới có nhiều tính năng hoàn thiện hơn. Tập thể trẻ lần này lại làm được một việc lúc đó tưởng như là không thể; sau nửa năm chiếc máy tính mới, mạnh hơn đã được lắp ráp xong và sẵn sàng để hiệu chỉnh.
Karsev tự kể về chặng đầu trên con đường khoa học của mình - chế tạo máy tính điện tử - khi phát biểu trong lễ kỷ niệm 15 năm thành lập Viện kỹ thuật máy tính Bộ công nghiệp radio Liên Xô năm 1967 như sau:
“Mùa xân năm 1952, khi tôi vừa kịp lấy bằng tốt nghiệp, Bruk chia cho tôi một nhóm 7 người và giao nhiệm vụ nghiên cứu thiết kế máy tính điện tử M-2. Bây giờ tôi thật khó hình dung những gì chúng tôi đã làm được lúc đó. Chúng tôi soạn thảo các tài liệu kỹ thuật, tiến hành sản xuất trong nhà máy thực nghiệm của Viện nnhiên liệu hoá thạch Viện Hàn lâm khoa học, xưởng thực nghiệm của Viện Năng lượng, nhà máy kim loại màu và hàng chục đơn vị nữa, lắp ráp và hiệu chỉnh máy tính. Chúng tôi bắt đầu công việc vào mùa xuân năm 1952, đến tháng 10 năm 1952, trước Đại hội XIX ĐCS LX đã lắp xong hai bộ phận đầu tiên - bộ điều khiển và bộ số học, đến 7 tháng 11 thì xong tủ nguồn và trống từ, đến 5 tháng 12 – Ngày Hiến pháp Liên Xô thì xong tủ cuối cùng của máy - tủ nhớ điện tử. Và ngay trong tháng Giêng năm 1953 máy tính đã làm việc với trống từ và mùa hè năm đó thì với bộ nhớ điện tử.
(còn tiếp)

Thao vietnam 31-05-2008 14:00

(tiếp theo)
Nói chung máy M-2 vẫn là phiên bản duy nhất, người Trung Quôc cũng thử làm một cái như vậy nhưng chúng tôi không biết về việc đó. (Trong tạp chí “Hữu nghị”, số 11 năm 1958, bài của một tác giả Trung Quốc “2000 phép tính trong một giây” có kể là máy tính điện tử M-2 được đưa vào sử dụng tháng Mười năm 1958 – chú thích của tác giả). Dù vậy nó vẫn là một máy tính đích thực, người ta đã dùng nó để giải nhiều bài toán rất lớn và rất phức tạp. Nói riêng thì trong suốt vài năm ở Liên Xô chỉ có hai máy tính làm việc: máy M-2 của chúng tôi và máy tính c ủa Viện cơ khí chính xác và kỹ thuật tính toán Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. (M áy t ính BESM được đưa vào khai thác thường xuyên từ tháng Tư năm 1953 - t ác giả). Sergei Lvovich Sobolev đã dùng nó để giải các bài toán lớn cho Kursatov, và hãng của Aleksei Ivanovich Berg. Chúng tôi được giao (bằng lệnh đặc biệt của chính phủ) nhiệm vụ tính toán độ b ền vững của các đập nước của các nhà máy thuỷ điện Kuibưsev và Vonga. Những tính toán này do Viện cơ khí Viện HLKH thực hiện. Ngay cả Mikhev (Viện vật lý lý thuyết và thực nghiệm) và nhiều nhiều người khác cũng tính toán trên máy của chúng tôi”.
Tất cả các bài toán giải trên máy tính M-2 đều phải được sự đồng ý của Bruk. Tuy nhiên ngay khi thực hiện nhiệm vụ đầu tiên quy định “thép” này đã bị vi phạm nhưng mãi 15 năm sau Bruk mới biết chuyện này. Chuyện đó như thế này. Cuối năm 1953, sau khi hiệu chỉnh xong máy tính M-2, Bruk đi nghỉ ở Kislovodsk. Thời gian đó, “hàng xóm” của chúng tôi là phòng thí nghiệm Viện năng lượng thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, một nhóm các nhà khoa học do bà Tachiana Valerianovna Bazenova lãnh đạo phải “đẻ” ra một bảng thông số khí động học và nhiệt động học của không khí dùng cho các nhà tên lửa học (dùng để tính độ dầy của lớp sơn chịu nhiệt). Cả nhóm bắt đầu ngồi tính toán từ mùa hè năm 1953 và hứa đến tháng 12 cho kết quả. Thời hạn đến gần nhưng kết quả vẫn xa vời. Bà Bazenova nhớ lại: “Mặc dù phép tính chỉ tính đến hai thành phần cơ bản của không khí là ôxy và nitơ nhưng rất tốn công sức. Cần phải thêm phương trình iôn hoá nguyên tử ôxy và nitơ tạo thành ôxyt nitơ vào phương trình phân ly của chúng. Lại phải thêm phương trình các quá trình tương tác, phương trình định luật bảo toàn năng lượng, định luật khí động học của sóng xung kích. Cuối cùng được hệ 13 phương trình phải giải bằng phương pháp gần đúng".
(còn tiếp)

Thao vietnam 09-06-2008 22:28

(tiếp theo)
Ban đầu người ta giao việc này cho hai nhân viên phòng thí nghiệm nhưng họ đã cho thấy ngay là không thể làm kịp bởi các phép tính rất cồng kềnh. Lúc ấy người ta liên hệ với Xí nghiệp máy tính cơ học, ở đó các cô gái với máy tính ngồi đầy cả một phòng lớn. Công việc chạy hơn nhưng thời hạn hoàn thành công việc còn đến nhanh hơn. Thời đó chỉ có một máy tính điện tử duy nhất thực hiện những đơn đặt hàng có thời hạn nghiêm ngặt và còn phải xếp hàng lâu mới đến lượt… và thế là có một vận may bất ngờ.
Chúng tôi biết rằng “hàng xóm” của mình, ở phòng thí nghiệm do viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô Bruk đứng đầu đang làm việc trên một cái máy mới bí mật nào đó. Một lần người bạn ở phòng thí nghiệm đó đến dự sinh nhật tôi và tặng một loại dầu trượt tuyết khan hiếm. Những hộp dầu được bó với nhau bằng một băng giấy có những dòng số đều đặn. Tôi không biết gì về hình thức đặc trưng của kỹ thuật tính toán nhưng băng giấy này rất giống với thứ dùng để lấy kết quả tính toán trên máy tính điện tử. Tôi hỏi: “dải băng này của các anh à?” họ đáp “vâng” và sau đó không khó để hình dung cái máy bí mật của họ dùng để làm gì.
Chúng tôi trình bày và họ đã hiểu những khó khăn của chúng tôi. Khi đó máy tính chưa được đưa vào khai thác chính thức và còn rỗi. Và thế là “Đội của Bruk” lấy bài toán của chúng tôi để chạy thử máy. Và phải nói là kịp thời, đúng lúc. Các nhà chế tạo tên lửa túc trực bên canh nhà số 18 đại lộ Lenin lấy ngay từng phần bảng tính để dựa vào đó tính toán lớp sơn cho những tên lửa xuyên lục địa đầu tiên của chúng ta. Giờ đây chúng ta đã biết, khẩn cấp là có cơ sở: việc sở hữu tên lửa ấy đã đặt nước ta ngang bằng với Mỹ.
(Năm 1968, tức 15 năm sau, Bagienova kể lại chuyện này trong bài “Vũ trụ trong những chiếc ống”, tạp chí “Khoa học và đời sống.”)
(còn tiếp)

Thao vietnam 10-06-2008 22:50

(tiếp theo)
Máy tính điện tử M-2 đã không được sản xuất hàng loạt dù nó có rất nhiều ưu điểm. Thời gian đã khẳng định phẩm chất cao của nó: tại Viện năng lượng thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô nó đã làm việc liên tục suốt 15 năm ròng, giải nhiều bài toán trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau.
Trong việc thiết kế chế tạo chiếc máy này tài năng sáng tạo của M.A Karsev được bộc lộ toàn diện.
Khác với máy M-1, máy tính điện tử M-2 thuộc loại cỡ lớn, nó có cùng tính năng như máy "Strela" (2000 phép tính một giây).
Trong tiểu sử khoa học của Karsev, việc nghiên cứu chế tạo máy tính M-2 là bước đầu tiên trên con đường tạo dựng trường phái khoa học riêng chế tạo siêu có khuynh hướng làm việc độc lập và đã thể hiện bóng dáng của các thủ lĩnh khoa học tương lai.máy tính công dụng đặc biệt. Dường như đồng thời với máy M-2, phòng thí nghiệm của Bruk còn triển khai nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử cỡ nhỏ M-3, việc này do Matukhin phụ trách. Quyết định đồng thời nghiên cứu hai máy tính bởi một tập thể nhỏ như phòng thí nghiệm lúc đó có thể được giải thích là bởi cả hai học trò tài năng của Bruk là Matukhin và Karsev
Có lẽ máy M-3 sẽ là phiên bản duy nhất nếu như không có sự xuất hiện của viện sỹ Victor Amazaspovich Ambarsumian. Năm 1954 sau khi đến Matxcova ông đề nghị bạn mình là giám đốc VNIIEM Yosyphiian giúp Viện hàn lâm khoa học Acmeni mua máy tính điện tử. Ông này lại liên hệ với Bruk, người vừa kết thúc dự án MTĐT M-3. Các bên thỏa thuận cùng nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử có hiệu suất đủ mạnh dùng cho Viện Toán Erevan thuộc Viện hàn lâm khoa học Acmeni và đơn vị của S.P Korolev. Năm 1956 mẫu đầu tiên M-3 đã làm xong và được trình lên Ủy ban Quốc gia kèm theo tài liệu liên quan để sản xuất hàng loạt.
B.M Kagan, một lãnh đạo nhóm làm việc chung khi phát biếu trong lễ mừng bruk 90 tuổi đã kể về số phận các máy tính như sau:
"Lịch sử kỹ thuật máy tính ở Liên Xô chưa được viết bởi vì có những sự kiện không hay.
....Bởi vì việc chế tạo MTĐT M-3 là sáng kiến nhất thời và không nằm trong kế hoạch nào nên Ủy ban Quốc gia do viện sỹ Bruevich đứng đầu không muốn chấp nhận M-3 vì nó ra đời bất hợp pháp. Tuy nhiên mọi người đã chấp nhận nó. Và suốt hai năm nó không được chấp nhận sản xuất hàng loạt. Lúc này Viện toán Erevan được thành lập và Viện này chế tạo máy tính đầu tiên của mình ("Araga" và "Razdan-1 và 2") theo tài liệu của chúng tôi. Cũng trong những năm đó người ta đã xây dựng xong một nhà máy ở Minsk nhưng dường như nó chẳng để làm gì cả. Minsk đã biết là không ai đồng ý sản xuất hàng loạt máy tính của Yoshiph. và chỉ khi đó người ta thông qua quyết định chuyển giao tài liệu về máy M-3 cho nhà máy này. Như vậy việc chế tạo MTĐT M-3 trở thành cơ sở để phát triển ngành chế tạo máy tính ở Erevan và Minsk. Tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm là ở Trung Quốc và Hungary cũng đã chế tạo máy tính theo tài liệu của chúng tôi. Nhưng ở Viện chúng tôi việc này vấp phải những khó khăn khi tiếp tục những nghiên cứu quy mô lớn liên quan đến việc chế tạo các hệ thống máy tính quản lý.
"Đội quân Bruk" đã gia nhập vào hàng ngũ các nhà sản xuất máy tính công nghiệp như vậy đó.
(còn tiếp)

Thao vietnam 11-06-2008 09:34

(tiếp theo)
Đam mê mới.
Năm 1956 Bruk báo cáo trước khóa họp của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô về tự động hóa đề cập những phương hướng chủ yếu để ứng dụng máy tính điện tử trong công nghiệp. Năm 1958 dưới sự lãnh đạo của ông đã tiến hành công trình "Nghiên cứu lý thuyết, nguyên tắc chế tạo và ứng dụng máy tính điện tử chuyên dụng".
Hai tài liệu này về thực chất là những viên gạch đầu tiên của chương trình tự động hóa nền kinh tế quốc dân dựa trên máy tính điện tử. Lần đầu tiên thực tiễn trong nước đã xem xét vấn đề sử dụng máy tính điện tử không chỉ trong các lĩnh vực truyền thống như kỹ thuật, vật lý, toán học mà còn sử dụng máy tính để giải các bài toán quản lý công nghệ và kinh tế. (tính toán sự cân đối giữa các ngành, tối ưu quá trình vận chuyển, giá thành, v.v....) Báo cáo của Bruk là cú hích đưa tới việc thành lập hàng loạt cơ quan nghiên cứu và phòng thiết kế máy điều khiển vào cuối những năm 1950.
Trên cơ sở phòng thí nghiệm hệ thống điện đã thành lập phòng thí nghiệm máy điều khiển vào năm 1956 và vào năm 1958 thì ra đời Viện máy tính điện tử trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô mà Bruk là giám đốc đầu tiên. Cũng thời gian này Bruk được Đoàn chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô bổ nhiệm là lãnh đạo khoa học "Nghiên cứu lý thuyết nguyên tắc chế tạo và ứng dụng máy điều khiển".
Dưới sự lãnh đạo của Bruk người ta đã chế tạo máy tính M-4 (1957 - 1960, thiết kế trưởng là M.A. Karsev) để giải các bài toán đặc biệt trong hệ thống của Viện Kỹ thuật radio thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô; máy M-5 (1959 - 1964, thiết kế chính là V.V Belưnsky) để giải các bài toán kinh tế kế hoạch hóa và quản lý nền kinh tế quốc dân; máy M-7-200 và M-7-800 (1966 - 1969, thiết kế chính là N.N. Lenov) để quản lý các cụm năng lượng lớn.
Vị giám đốc tương lai Bruk đã dành nhiều sự quan tâm cho việc mở rộng Viện, tạo ra một tập thể có năng lực sáng tạo, giáo dục tình yêu khoa học cho các học trò.Sau khi nghỉ hưu năm 1964, Bruk vẫn là cố vấn khoa học và lãnh đạo hội đồng khoa học của học viện, ông tiếp tục quan tâm thiết thực đến hoạt động của học viện. Trong 5 năm cuối đời, Bruk nhận đựoc 16 Bằng tác giả, tổng cộng ông có hơn 100 công trình khoa học, trong số đó có hơn 50 phát minh sáng chế. Đóng góp của Bruk trong khoa học kỹ thuật được ghi nhận bằng ba Huân chương Lao động Cờ đỏ và nhiều huy chương.
(còn tiếp)

Thao vietnam 13-06-2008 23:01

(tiếp theo)
Khách quan mà nói thì Bruk không về hưu mà người ta đã buộc ông phải nghỉ. Ông V.D. Belkin, một cộng sự của Bruk , người sau này quan tâm đến các vấn đề liên quan đến cải cách kinh tế kể lại chuyện này.
"Bruk là một trong số ít người hưởng ứng lời kêu gọi cải cách kinh tế triệt để và xây dựng chủ nghĩa xã hội nếu không từ khía cạnh con người thì cũng từ khía cạnh kinh tế...... Tảng đá trì trệ không còn nữa nhưng cơ chế vẫn bị níu kéo. Nó ẩn chứa ngay trong những dự án vô hại của các nhà kinh tế thuộc viện chúng tôi. Bruk đề nghị rõ là nền kinh tế đất nước đang đi vào ngõ cụt và còn nói đây là hệ quả của sự liên kết lỏng lẻo giữa hai hệ thống quản lý - của chính quyền (Hội đồng bộ trưởng, Ủy ban kế hoạch, ...) và của đảng. Ông ta nói: "Hệ thống quản lý do đảng tạo ra là hệ thống phản ứng nhanh nhưng nhược điểm của nó là thiếu sự phản hồi". Phải có sáng suốt lắm mới có thể nói được những lời như vậy vào thời đó.
Đã có một cuộc tranh luận nảy lửa ở Ủy ban kế hoạch nhà nước, chủ tịch Ủy ban là Lomako, quan chức quan liêu cuối cùng của cung cách Stalin nói với Bruk: "Các anh định điều hành cả Ủy ban kế hoạch nhà nước và sẽ phải trả giá đắt cho việc làm loạn đó". Và đơn giản là người ta buộc ông phải nghỉ hưu.
"Sau đó các nhà kinh tế của viện chúng tôi đưa ra mô hình ngân hàng sẽ điều hành thị trường, Bruk kịch liệt phê phán . Khi ấy ông ông vẫn là cố vấn khoa học của viện. Ông châm chọc: "Thị trường được điều hành bởi ngân hàng như các vị giới thiệu giống như một người đang sung sướng được bơi trên bong bóng. Không thể có học thuyết quản lý từ quan điểm như vậy. "Con quỷ"cần phải bơi ở bên dưới và chọc vỡ bong bóng; tức là phải có luật phá sản"
Mọi ý tưởng của Bruk đều liên quan đến sự vận động hướng về thị trường, những điều được nói ra nhiều năm trước đã chứng tỏ rằng ngay trong học thuyết kinh tế ông ấy cũng là nhà bác học có đẳng cấp cao". (trích phát biểu trong lễ trọng thể kỷ niệm 90 năm ngày sinh Bruk).
Vào ngày 6 tháng Mười một, ba tháng ba ngày sau khi S. A. Lebedev từ trần thì Y. S. Bruk cũng vĩnh viễn ra đi.
(còn tiếp)

Thao vietnam 15-06-2008 21:15

(tiếp theo)
Hồi ức của những người trong cuộc
Tuy không có tiểu sử khoa học chính thức của Bruk nhưng có thể hình dung đầy đủ về con người phức tạp và đầy mâu thuẫn này. Những người đã từng làm việc trong phòng thí nghiêm của ông là Alecsandriri, Zalkin, Lenov, Rogachev, Belưnsky, Lavrrnhiuk và nhiều người khác đã bổ sung đầy đủ chân dung của nhà bác học.
“Đối với tôi, Bruk Yssak Semenovioch khi đó là một người quyền quý nổi tiếng và hơi đáng sợ, dù hiện tại của ông có vẻ khá trẻ. Nhưng khi đó trong mắt tôi ông là một người cao tuổi, học vị cao , khó tính, … Cái gì ông cũng muốn làm nhanh. Trong phòng thí nghiệm, chính xác là ông chỉ chạy chứ không đi, nhanh chóng gặp gỡ người này người nọ ân cần hỏi thăm công việc, đưa ra những lời khuyên, chăm chú lắng nghe lời đề nghị, nhận xét những thiếu sót khuyết điểm.
Có năng khiếu bẩm sinh, được học hành toàn diện, nghiêm túc với bản thân, ông đã làm cho các cộng sự khâm phục và làm theo. Mọi người coi ông như người cha nghiêm khắc và chu đáo, ví dụ thấy Matukhin không có áo panto, ông đã cho chiếc áo da của mình.
Sự hăng hái nhiệt tình đối với công việc của Bruk đã động viên khích lệ chúng tôi, làm cho chúng tôi không thụ động trước bất cứ việc gì. Khi đó chúng tôi còn trẻ và không hề biết là đã được làm việc cùng một người thế nào. Giờ đây sau khi đã trải qua chặng đường dài trong sự nghiệp của mình tôi mới hiểu rằng tôi không thể gặp được một người mẫu mực như Bruk nữa dù rằng tôi vẫn làm việc với nhiều viện sỹ khác.
Bruk là một con người khác thường, có tài năng, nghị lực xuất chúng, biết cách cuốn hút mọi người vào công việc, kiến thức uyên thâm (khi ấy chúng tôi có cảm tưởng ông ấy biết mọi thứ), trình độ toán học cao, hiện thực hoá bất kỳ ý tưởng nào”
“Ông không chịu được sự hời hợt đạo đức giả , vì thế ông hiện diên ở thế giới bên ngoài – các hội đồng khoa học, hội nghị như một nhân vật phản biện hay gây sự, cáu kỉnh, một nhà phê bình hay vặn vẹo bắt bẻ. Ví dụ ông nói về máy “Strela” khi được sản xuất hàng loạt là “đồ của thời đại đồ đá” ( N. N.Lenov, N.V. Pautin).
(còn tiếp)

Thao vietnam 16-06-2008 21:57

(còn tiếp)
"Y.S. Bruk là một con người kín đáo, ông nghiêm khắc yêu cầu giữ kín thông tin về công việc của phòng thí nghiệm. Tránh tham gia vào các công trình theo chỉ thị của chính phủ có sự phối hợp của các tập thể khác. Việc chế tạo máy tính điện tử M-1, M-2, M-3 được thực hiện trong nội bộ theo nghị quyết của Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Chúng tôi đã phải làm việc trong những điều kiện khó khăn. Có cảm giác dường như chúng tôi chế tạo máy tính bất hợp pháp không có trong kế hoạch nhà nước và không được sử dụng những trang bị hiện đại. Chúng tôi đành phải sử dụng máy móc và linh kiện do nước Đức bồi thường chiến tranh". (T.M. Alecsandriri).
"Tính cách ấy không hề cản trở sự nghiệp của ông ta Chỉ có một phần ba máy tính M-3 do ông ấy nghiên cứu được sản xuất với số lượng nhỏ và sau đó được sản xuất công nghiệp. Chỉ trong năm 1958 Bruk đã kịp thành lập viện nghiên cứu mà ông đã ấp ủ từ lâu". (N.V. Pautin).(13/6/2008)
“Bruk luôn luôn đầy ắp các ý tưởng mới, khát vọng nghiên cứu những cái mới và mới hơn đã lôi cuốn ông đến nỗi thực tế đôi khi ông bỏ quên giữa chừng không chỉ công việc mà còn cả con người”. (T.M. Alecsandriri).
“Không thể tạo ra nhà bác học” - ông khẳng định con đường đến khoa học thông qua nghiên cứu sinh không hiệu quả. “Hãy làm việc và bạn sẽ được đền đáp”. Thậm chí ngay cả đối với các học trò yêu của mình là Matukhin và Karsev ông cũng không hối túc bảo vệ luận án mà coi trước tiên họ cần có thực tế kỹ thuật phong phú. Có lẽ vì vậy ông không giữ họ lại trong viện nghiên cứu của mình. Cả hai người sau này đã trở thành những nhà bác học lớn”. (N.N. Lenov).
Tác giả đã làm quen với Y.S. Bruk vào năm 1956. Tháng Ba năm 1956 ở Matxcova diễn ra hội nghị “Con dường phát triển ngành chế tạo máy tính Xô viết” tập hợp nhiều chuyên gia máy tính toàn Liên Xô. Phòng họp lớn của trường Đại học tổng hợp Matxcova trong phiên trù bị đầy ắp đại biểu. Viện sỹ Lebedev khai mạc hội nghị. Giáo sư D.Yu. Panov trình bày báo cáo đầu tiên “Lịch sử và sự phát triển máy tính dùng đèn điện tử”. Ông nói: “Hiện nay mọi người đều biết máy tính điện tử vạn năng của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đựoc nghiên cứu chế tạo năm 1952 dưới sự hướng dẫn của viện sỹ Lebedev. Máy tính này vượt trội hơn tất cả máy tính châu Âu và nhiều máy tính Mỹ”
Tại hội nghị quốc tế ở Darmstate mùa thu năm 1955 viện sỹ Lebedev đã trình bày báo cáo về chiếc máy này. Các nhà bác học và kỹ sư nước ngoài có mặt tại hội nghị đã đánh giá rất cao.
Chẳng cần phải nói tôi đã nghe chăm chú thế nào, gặp gỡ những người tham dự hội nghị trong giờ giải lao, cố gắng tiếp cận gần hơn những người trước đó chưa quen biết.
Báo cáo của tôi “Những thiết bị cơ bản để phối hợp các yếu tố từ tính và tinh thể” đưởctình bày ở tiểu ban máy kỹ thuật số vạn năng. Tamara Minovna Alecsandriri cũng phát biểu ở tiểu ban này, báo cáo của bà là “ Bộ nhớ tĩnh điện của máy tính điện tử M-2”, chính bà là người trẻ trung, nghị lực đã thu hút sự chú ý của tôi. Sau đó tôi đã hỏi bà một vài câu và đã có thể đến thăm phòng thí nghiệm hệ thống điện nơi bà làm việc.
Ysak Semenovich Bruk khi đó đang ở độ tài năng nở rộ nhất (khi ấy ông 54 tuổi).
Sau hội nghị tôi còn gặp Bruk vài lần, làm thân với Matiukhin và Karsev nhung tôi không biết gì nhiều về họ ngoài những kiến thức về máy móc và những bài viết của họ.
Khi có ý định viết cuốn sách này, tôi vẫn chưa có tư liệu gì.
(còn tiếp)

Thao vietnam 19-06-2008 01:00

(tiếp theo)
Georgy Pavlovich Lopato, một trong những người kế tục trường phái khoa học Bruk , khi biết tôi đang thu thập tài liệu cho cuốn sách đã cho tôi số điện thoại của Alecsandriri hiện đang sống ở Matxcova. Phải thừa nhận là tôi đã rất xúc động hồi hộp khi gọi điện, liệu bà còn nhớ không? bốn chục năm trước Tamara chỉ là một chuyên gia trẻ mới vào nghề. Còn giờ đây liệu bà có tiếp chuyện tôi không? Thực tế diễn ra hơn cả sự mong đợi: bà lập tức mời tôi lên Matxcova gặp những người nghiên cứu “máy tính Bruk” đầu tiên. Sau vài cuộc gặp gỡ bàn tròn tôi đã có đủ tư liệu về trường phái kho học của Y.S. Bruk. Những tư liệu chủ yếu tôi có được do những người này cung cấp: T.M. Alecsandriri (vợ của Matiukhin), Yu.V. Rogachev, người thay thế M.A. Karsev ở chức vụ giám đốc Viện tính toán (Matxcova), V.V. Belưnsky, cộng tác viên Viện viện máy điều khiển điện tử (Matxcova) do Bruk thành lập, A.B. Zankin, viện máy tự động.
Y.S Bruk chỉ muốn nhận nam giới vào làm ở phòng thí nghiêm. Tamara Minovna Alecsandriri là người phụ nữ duy nhất trong số những người nghiên cứu chế tạo máy M-1. Cái họ lạ lùng của Tamara Minovna đã giúp bà.
Cái họ này làm bà nhớ đến người cha, một người Hy lạp đã Nga hoá ở vùng Krasnoda. Sau khi sinh được hai năm, gia đình tan vỡ và cô gái được mẹ nuôi dạy và chuyển đến Matxcova sinh sống. Tamara tốt nghiệp trung học trước chiến tranh đồng thời tham gia một câu lạc bộ radio và có chuyên môn điện báo viên khi chưa đầy 17 tuổi (bà sinh ngày 26 tháng 9 năm 1924). Tất cả đang ở phía trước, nhưng chiến tranh bùng nổ. Bà tình nguyện vào quân đội. Những tháng đầu bà học nghiệp vụ vô tuyến điện ở gần Matxcova nhưng đến tháng 8 đã ở thành phố Sevastopol bị vây hãm. Bà giữ được liên lạc với hậu phương đến phút chót và rời thành phố cùng những chiến sỹ cuối cùng Sau đó bà học trường quân sự ở Kerch và chiến đấu ở bán đảo Taman. Khi bọn phát xít dồn các học viên quân sự đến bờ biển họ đã phá được vòng vây một cách thần kỳ. Chuyện về tinh thần chiến đấu dũng cảm của điện báo viên Tamaratrong những ngày tháng gian khổ đó đã được viết trên báo mặt trận. Những chiến sỹ còn lại của trung đoàn được điều chuyển về tập đoàn quân 62. Khi quân địch tiến đến gần Stalingrad, bộ phận của bà đóng ở đồi Mamaiev. Ngày 22 tháng 8 quân Hitle bắt đầu tấn công phá huỷ thành phố. Trước mắt bà những toà nhà đổ sụp cùng những đám mây khói bụi bốc cao. Vận may lại đến lần nữa, bà vẫn sống sót sau trận đánh vĩ đại trên sông Vonga.
Tháng 5 năm 1943 Tamara Alecsandriri được gọi về thủ đô và được huấn luyện thành một điện báo viên giỏi cho mặt trận. Và cô gái dũng cảm lại trải qua các trận chiến đấu ở chiến trường Ucraina, vượt qua sông Dniev, Visla, Oder và ở Berlin bà đã nhận bức điện cuối cùng thông báo việc đầu hàng không điều kiện của nước Đức Hitle.
Tháng 6 năm 1945 bà trở về Matxcova với huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng hai và năm huy chương khác.
Cũng trong năm đó bà vào học ở Viện năng lượng Matxcova. Năm 1950 bà được đến phòng thí nghiệm của Bruk để làm đồ án tốt nghiệp. Về việc bà tham gia chế tạo máy M-1 tôi đã nói đến trước đây. Ngay khi còn là một cộng tác viên khoa học trẻ bà đã nghiên cứu và hiệu chỉnh bộ nhớ của máy tính điện tử M-2, sau đó bà làm nghiên cứu sinh và bảo vệ thành công luận án phó tiến sỹ.
Sự am hiểu tinh thông kỹ thuật máy tính đã giúp bà nhanh chóng chuyển sang làm chuyên gia về hệ thống điều khiển tự động. Khi chúng tôi gặp lại nhau, T.M. Alecsandriri đã là giáo sư phụ trách cán bộ hệ thống điều khiển tự động của Viện đường bộ Matxcova. Bà cũng giới thiệu cho tôi nhiều tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của chồng mình ( là Matiukhin - người dịch).
(còn tiếp)

Thao vietnam 19-06-2008 17:42

(tiếp theo)
Nikolai Yakolevich Matiukhin
Sau khi qua” trường“ của Bruk, N.Ya. Matiukhin đã trở thành một nhà bác học xuất sắc, đã tạo lập ra trường phái khoa học của mình.
Nikolai Yakolevich Matiukhin sinh năm 1927 ở Lenigrad. Lúc đó cha ông , Yakov Vasilievich làm thợ điện ở nhà máy, mẹ ông, Margarita Phedorovna làm nội trợ. Cha ông sinh năm 1880 trong một gia đình nông dân ở làng Gorodets quận Vưgonitsky tỉnh Briansk, trước cách mạng làm thợ điện trong một nhà máy ở Petrograd. Mẹ ông sinh năm 1895 ở thành phố Bobrov tỉnh Voronhet trong gia đình một người đưa thư của trường trung học, sau khi học xong trung học thì làm cô giáo dạy tiểu học.
Cha ông Yakov Vasilievich tham gia phong trào cách mạng, từ 1909 – 1910 là huyện uỷ viên của đảng Xã hội dân chủ Nga xứ Vưborgsky của Petrograd, đã từng kết bạn với Kalinin, làm điểm liên lạc của Dgiukasvili, Ordgionikize và nhiều đảng viên nổi tiếng khác của đảng XHDC Nga. Tất cả họ đều đã sử dụng căn nhà bí mật của ông. Sau cách mạng Matiukhin từ bỏ hoạt động chính trị và làm thợ điện. Năm 1932 Kalinin chuyển ông về Matxcova làm việc và được cấp một phòng trong nhà chính phủ ở phổ Ganovsky. Khi đó không ai biết được chuyện này sẽ đi đến đâu, họ mừng vì có chỗ ở tốt ở thủ đô.
Năm 1935 Matiukhin bắt đầu đi học. Ông học dễ dàng, vui lòng với những thành tích của cha mẹ. Mẹ ông bà Margarita Phedorovna là người có học đã dạy dỗ ông phát triển toàn diện.
Chủ nghĩa xét lại Stalin đã cắt đứt tuổi thơ hạnh phúc. Năm 1937 cha ông bị bắt và sau đó hoàn toàn mất tin tức (năm 1957 cha ông được phục hồi sau khi chết). Bị đuổi khỏi Matxcova, sau khi bán một số vật dụng mẹ ông mua căn phòng nhỏ trong một ngôi nhà gỗ ở làng Solssevo ngoại ô Matxcova. Trong chiến tranh (tháng 8 1941 ) gia đình Matiukhin sơ tán về thành phố Penza sống nhờ họ hàng.
Sau khi học xong lớp 10, năm 1944 Matiukhin vào học khoa kỹ thuật vô tuyến đại học năng lượng Matxcova. Ông học rất giỏi và đồng thời nghiên cứu khoa học từ năm thứ ba. Ông đã có được bằng sáng chế do phát minh ra hệ thống máy phát vô tuyến mới có hệ số có ích cao.
Tháng 2 năm 1950 ông tốt nghiệp loại giỏi và xin làm nghiên cứu sinh ở đại học năng lượng Matxcova ngành máy phát vô tuyến điện. Thật quá ngây thơ! Bị từ chối ông đến làm việc tại phòng thí nghiệm của Bruk và đã thực hiện xuất sắc vai trò lãnh đạo trong các công trình về máy tính điện tử M-1 và M-3.
Tôi đã rất muốn tìm được điều gì đó trong ký ức của chính Matiukhin về thời kỳ này. Lục giở tư liệu tôi tìm thấy tờ báo "Энергетик" của đại học năng lượng Matxcova số ra ngày23 tháng 10 năm 1976 kỷ niệm 25 năm bộ môn kỹ thuật tính toán. Tôi mừng hết cỡ khi thấy bài báo “Những bước đi đầu tiên” do chính N.Ya. Matiukhin viết, khi ấy ông đã là giáo sư, tiến sỹ khoa học kỹ thuật.
Ông viết: “Sau khi tốt nghiệp khoa vô tuyến điện đại học năng lượng Matxcova tôi thực sự bị lôi cuốn bới những công việc trong lĩnh vực phát sóng vô tuyến cực ngắn và không thể hình dung được bước ngoặt đột ngột đang đợi tôi sau khi tốt nghiệp đại học. Một tháng sau khi bảo vệ tốt nghiệp, ông hiệu phó Trursin gọi tôi lên và giới thiệu một người dáng thấp rất nhanh nhẹn và đầy nghị lực , người đó hỏi han rất kỹ về sở thích cũng như công việc của tôi. Cuối cùng ông mời tôi về làm một công việc hiện “đại” trong một viện của Viện Hàn lâm khoa học. Đó là viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô Y.S. Bruk, người thầy và người lãnh đạo của tôi sau này.
(còn tiếp)

Thao vietnam 20-06-2008 23:25

(tiếp theo)
Thời đó, trong mắt tôi Viện hàn lâm khoa học là một đỉnh cao vời vợi mà một người trần tục không thể với tới được, đơn giản để có mặt ở đó là điều không thể. Cũng xin nói thêm là thời đó việc phân công công tác rất cứng rắn, nhiều sinh viên Matxcova tốt nghiệp không được phân công về các viện nghiên cứu mà là về nhà máy, trong số đó có nhiều nhà máy ở xa thành phố.
Tôi đồng ý ngay không chút đắn đo dù chưa hình dung được công việc “hiện đại” đó là gì bởi vì bất kỳ công việc nào ở Viện Hàn lâm khoa học cũng trên cả tuyệt vời. Công việc đó là thế này: tôi được tham gia vào việc nghiên cứu chế tạo một trong những máy tính điện tử kỹ thuật số đầu tiên trong nước.
Lúc đó có 3 nhóm nghiên cứu hoàn toàn khác nhau, một nhóm của viện sỹ S.A. Lebedev, một nhóm của viện sỹ thông tấn Y.S. Bruk và một nhóm của Yu.Ya. Bazilevsky. Nhóm chúng tôi là nhóm ít người nhất, có lẽ đó là lý do chính buộc Bruk hướng mọi cố gắng của chúng tôi vào việc chế tạo máy tính điện tử cỡ nhỏ. Tất nhiên không một ai trong số tân binh hình dung được tính phức tạp của công việc, lúc đó Bruk chỉ nhặt nhạnh được không đầy chục sinh viên mới tốt nghiệp. Có lẽ vì thế chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ chế tạo được máy tính điện tử, mặc dù với trình độ kỹ thuật vô tuyến điện thời đó thì các chuyên gia có kinh nghiệm sẽ rất e ngại tính khả thi của ý tưởng này. Thật may là chúng tôi không có chút khái niệm nào về lý thuyết tin cậy, không biết rằng đèn điện tử và linh kiện vô tuyến thường hay hỏng nên chúng tôi bắt tay vào công việc không chút dao động.
Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là lắp một bộ cộng ba lối vào dùng đèn điện tử hai cực 6X6. Ban đầu, bị lôi cuốn bởi số dư khi phối hợp giữa số 1 (đơn vị) và số 0 (số không) tôi lại bài giảng của O.A. Goriainova về giáo trình “Tự động hóa và cơ khí vô tuyến” có điều gì đó giống nhau, môn này chúng tôi vẫn coi là môn phụ so với các môn Định vị vô tuyến hay Kỹ thuật xung. Tôi vẫn lưu giữ bài giảng tất cả các môn bởi thời đó tài liệu kỹ thuật khá hiếm. Sau khi lục lọi các bài giảng và sử dụng trong báo cáo về quá trình giải phương trình đại số Bun tôi đã được Bruk khen ngợi.
Cánh thanh niên chúng tôi rất thích thú khi làm việc với Bruk. Ông trực tiếp hướng dẫn hoạt động của nhóm chúng tôi và động viên khích lệ chúng tôi rất nhiều. Rất hiếm khi chúng tôi nói chuyện trong phòng, thường thường buổi sáng ông đi xộc phòng chúng tôi và trao đổi công việc ngay tại chỗ. Bruk quyết định sử dụng rộng rãi linh kiên bán dẫn cho công viêc. Theo tôi đó là một trong những giải pháp chủ yếu quyết định thành công của chúng tôi, chế tạo được máy tính điện tử trong thời gian ngắn. Thời đó linh kiện bán dẫn trong công nghiệp chỉ là diode oxyt đồng cỡ nhỏ được sản xuất để dùng cho kỹ thuật đo lường.
Bruk đã hợp đồng sản xuất một loại diode đặc biêt có kích thước bằng điện trở thông thường và chúng tôi đã lắp các bộ mạch rồi tiếp theo là các khôi (bloc). Gần một năm sau thì máy đã “bắt đầu thở” (máy gồm vài trăm đèn điện tử và hàng nghìn diode bán dẫn). Khi bắt đầu phiên làm việc, việc điều khiển được thực hiện bằng máy điện thoại dã ngoại thông qua dây dẫn trực tiếp. Trong triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân, khách thăm quan đã vây lấy mẫu máy chúng tôi đem trưng bày và họ đã nhận được kết quả tính toán được in ra.
(còn tiếp)

Thao vietnam 21-06-2008 22:56

(tiếp theo)
Thực hiện việc chế tạo máy tính M-1 chúng tôi buộc phải biết rành rẽ nhiều vấn đề rất khác nhau - từ việc điều chỉnh điện áp cho máy phát điện một chiều dùng làm nguồn nuôi thứ cấp cho máy đến việc soạn ra hệ thống lệnh và chương trình cho những bài toán đầu tiên.
Ngay việc chọn hệ thống lệnh cũng là một việc không hề đơn giản với chúng tôi - thời đó hệ ba địa chỉ được công nhận rộng rãi và tự nhiên hơn cả, nó yêu cầu máy ghi và bộ nhớ có dung lượng đủ lớn. Khả năng hạn chế của chúng tôi đã thúc đẩy việc tìm kiếm những giải pháp tiết kiệm hơn.
Đôi khi trong ngõ cụt lại có những lối thoát tình cờ. Lúc đó Bruk mời nhà toán học trẻ Yu.A. Shreider đến làm việc. Shreider trong khi cùng chúng tôi xây dựng những nguyên tắc lập trình sơ đẳng đã hướng chúng tôi chú ý đến một điều là trong nhiều công thức tính gần đúng, kết quả phép tính sẽ trở thành một trong những toán tử cho bước tiếp theo. Từ đó đến hệ lệnh hai địa chỉ không còn xa. Đề xuất của chúng tôi được Bruk khen ngợi và sau máy M-1 chúng tôi được tiếp tục phát triển trên máy M-3. Đoạn tiếp theo của sự kiện đã đưa máy M-3 đến Minsk, ở đó đã xây dựng xong phần đầu tiên của nhà máy sản xuất máy tính mang tên S. Ordgionikidze. Ở đó đã xuất xưởng một lô nhỏ máy tính loại này trong điều kiện nửa thủ công, tiếp theo nhà máy đã sản xuất hàng loạt máy tính nhãn hiệu “Minsk” nổi tiếng.
Và thế là xong, còn bản gốc của dòng máy này được đưa vào căn phòng khiêm tốn của phòng thí nghiệm hệ thống điện của Viện năng lượng thuộc Viện Hàn lâm khoa học (chính xác là ở tầng hầm, nơi lần đầu tiên Bruk trình diễn giới thiệu “cậu bé” của chúng tôi cho viện sỹ Andronov).
Cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh rằng tôi chỉ giới hạn trong những hồi ức của các thầy giáo và lãnh đạo của mình. Còn các cộng sự của tôi trong những năm tháng đó còn nhớ lại rất nhiều, những người đó nay đã trở thành những chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực kỹ thuật máy tính. Trong khuôn khổ một bài báo nhỏ không thể kể ra đầy đủ những câu chuyện của họ”.
(còn tiếp)

Thao vietnam 23-06-2008 01:20

(tiếp theo)
Năm 1957 Nikolai Yakovlevich Matiukhin chuyển sang làm việc ở Viện nghiên cứu khoa học tự động Bộ công nghiệp điện tử, ở đó ông tham gia vào việc chế tạo máy tính điện tử cho hệ thống phòng không , ông là tổng công trình sư của hàng loạt máy tính điện tử và thiết bị điều khiển công dụng đặc biêt. Chính ở đây tài năng và năng lực làm việc phi thường của ông đã được phát huy toàn diện.
Năm 1962 ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sỹ và năm 1972 nhận hàm tiến sỹ khoa học kỹ thuật. Là một chuyên gia lớn về kỹ thuật máy tính, ông là một trong những người đặt nền móng để phát triển ngành chế tạo máy tính ở Liên Xô, năm 1979 ông được bầu là viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô chuyên ngành “cơ học và quá trình điều khiển”. năm 1976 ông giành được Giải thưởng Nhà nước Liên Xô nhờ các công trình trong lĩnh vực hệ thống điều khiển. Ông đã kết hợp có hiệu quả công việc nghiên cứu khoa học với công việc sư phạm – ông từng là giáo sư bộ môn cơ bản Đại học vô tuyến điện và tự động hóa Matxcova.
Trong số những thành tích khoa học quan trọng nhất của Matiukhin về lý thuyết máy tính, nổi bật nhất là công trình nghiên cứu nguyên lý cấu trúc chế tạo máy tính.và các tổ hợp dùng cho hệ thống phức tạp tự động quản lý lãnh thổ (theo thời gian thực) và truyền số liệu trong đó.
Matiukhin còn là tổng công trình sư của nhiều máy và tổ hợp tính toán có ý nghĩa quốc phòng quan trọng. Dưới sự hướng dẫn của ông người ta đã nghiên cứu ra một loạt tổ hợp tính toán phức tạp thế hệ thứ hai và thứ ba, được sản xuất theo lối công nghiệp và khai thác có hiệu quả. Ví dụ một trong những tổ hợp như vậy được sản xuất và sử dụng hơn mười năm nhờ có những đặc tính kỹ thuật – sử dụng và đặc tính kiến trúc cao cho phép sử dụng có hiệu quả trong nhiều thiết bị phòng không cơ động và cố định khác nhau.
Trong giai đoạn 1968 – 1971 lần đầu tiên ở Liên Xô Matiukhin đã chế tạo những tổ hợp nhiều máy
Những tổ hợp nhiều máy tính điện tử do Matiukhin chế tạo lần đầu tiên ở Liên Xô trong giai đoạn 1968 – 1971 đã chứng tỏ hiệu suất cao để sử dụng trong các hệ thống mở. Việc phát triển hơn nữa các nguyên lý này trong thời kỳ 1972 – n1975 cho phép Matiukhin thành lập trung tâm chuyển số liệu dùng cho mạng lưới thông tin, đó cũng là công trình lớn trong nước đầu tiên trong lĩnh vực khoa hoc kỹ thuật phát triển như vũ bão những năm gần đây.
Ông đã viết gần trăm công trình khoa học (trong đó có 7 phát minh sáng chế). Năm 1980 ông được tặng thưởng huân chương Lao động Cờ đỏ bởi có thành tích cao trong lao động.
Vợ ông, bà Alecsandriri nhớ lai: “Trong cuộc sống riêng, với bạn bè, đồng sự và gia đình , Matiukhin thể hiên là một con người rất đôn hậu, khiêm tốn, cẩn thận chu đáo. Tính ông dễ xúc động và lôi cuốn mọi người, biết khuyến khích mọi người xung quanh bằng những ý tưởng của mình.
Thể thao nghiệp dư là thứ mà ông thích trong những lúc rỗi rãi. Mùa hè, nghỉ phép là những chuyến đi thuyền dọc theo các con sông miền trung nước Nga, chúng tôi đã đã có các chuyến đi theo các con sông của Ural và các tỉnh Kalinin, Vologda, v.v… Đôi khi chúng tôi cũng đi du lịch bằng ô tô hay xe đạp. Mùa đông ông thích trượt tuyết. Dù Matiukhin đi trượt hơi muộn khi ông chừng 40 tuổi nhưng ông cũng đạt thứ hạng khá trong làng nghiệp dư.
Gia đình tôi luôn luôn rất hòa thuận, cả cha mẹ và con cái cùng có nhiều sơ thích chung trong cũng như ngoài công việc. Con trai chúng tôi – Boris tốt nghiệp Đại học năng lượng Matxcova ngành kỹ thuật máy tính, bảo vệ luận án phó tiến sỹ về những vấn đề tự động tổng hợp các thử nghiệm năm 1981. Con gái - Ekaterina tốt nghiệp ngành vô tuyến điện tử, bảo vệ luận án phó tiến sỹ năm 1989 về lĩnh vực kỹ thuật vi xử lý”
Tamara Minovna Alecsandriri đau đớn chịu đựng cái chết của chồng vào ngày 4 - 3 – 1984 và mãi mãi lưu giữ những kỷ niệm về một con người yêu dấu.
Tôi chân thành cảm ơn T.M. Alecsandriri và các đồng nghiệp của bà đã giúp tôi chuẩn bị tư liệu cho cuốn sách này.
(còn tiếp)

Thao vietnam 24-06-2008 21:53

(tiếp theo)
Bí mật những năm sau chiến tranh.
Những tài liệu (trước đây là mật) về các công trình nghiên cứu được tiến hành ở viện nghiên cứu tự động hoá dưới sự hướng dẫn của N.Ya. Matiukhin được A.V. Zalkin chuyển cho tác giả (cuốn sách).
“Năm 1957 chúng tôi quyết định chuyển vào Viện nghiên cứu khoa học tự động hoá của Bộ công nghiệp điện tử để nghiên cứu phương án xô viết của hệ thống phòng không Mỹ. Chúng tôi – đó là Matiukhin trưởng nhóm, Zalkin, Rosnhitsky, Shurov.
Viện này được thành lập năm 1956, G.L.Shorin là giám đốc và tổng công trình sư thiết kế hệ thống phòng không nói trên. Năm 1958 nhóm chúng tôi bắt tay dựng mô hình hệ thống “Trái đất”.
Trong hệ thống “Trái đất” tất cả bắt đầu từ máy điện báo. Thông tin về “mục tiêu di động” trong mạng toạ độ của hệ thống phòng không được truyền theo mạng lưới điện báo. Trong khi làm việc, nhân viên điện báo sẽ truyền chúng cho người vận hành trạm quản lý kỹ thuật số, những người này sẽ mã hoá các số liệu rời rạc. Số liệu từ trạm quản lý được chuyển đến thiết bị xử lý và cho ra kết quả là hướng di chuyển của mục tiêu trong hệ toạ độ vuông góc. Số liệu cuối cùng được lưu giữ trên trống từ đóng vai trò một bộ đệm. Từ trống từ, số liệu được đưa vào máy tính điện tử để xử lý lần thứ hai và đưa vào vị trí công tác là một ống phóng tia điện tử đặc biệt. Các chữ cái, chữ số và các đại lượng logic được tái hiện bằng phương pháp giấu tia.
Toàn bộ mô hình được hoàn thành trong thời gian cực ngắn và hội đồng quốc gia cũng kết thúc công việc trong quý 2 năm 1960.Đánh giá cuối cùng là kém do kích thước lớn và thiếu tin cậy ở những phần dùng đèn điện tử. Từ đó đã có quyết định cấm hoàn toàn việc sử dụng đèn điện tử trong những nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi.
Nhắc đến mô hình “Trái đất” là để làm nổi bật những thành tựu tiếp theo của chúng tôi. Trải qua 15 năm, Viện đã tạo ra một mạng lưới toàn cầu bao gồm hơn 20 trung tâm kết nối thông tin. Mạng lưới này đảm bảo trao đổi thông tin liên tục quanh năm trong hệ thống phòng không.
Việc nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử bán dẫn đầu tiên trong nước “Tetiva” dùng cho mạng lưới này được tiến hành dựa trên mô hình mẫu năm 1960. “Tetiva” là máy tính trong nước đầu tiên có sử dụng vi chương trình lưu ở ma trận DZU trong bộ phận điều khiển. Sau đó điều khiển vi chương trình được áp dụng trong máy tính điện tử NAIRI (1964), máy tính MIR và EC-1020.
Bộ phận số học của máy “Tetiva chỉ dùng mã thuật toán trực tiếp. Bộ phận số học đó nổi tiếng vì đắt nhưng nhanh nhất và có khả năng tự kiểm tra.
Chương trình của “Tetiva” được lưu giữ trong DZU. Điều đó đảm bảo cho nói chạy trơn tru không trục trăc. Việc sản xuất máy “Tetiva” do nhà máy ở Minsk thực hiện. Năm 1962 đã có 8 máy tính được lắp đặt ở nơi sử dụng. Việc đưa thông tin vào “Tetiva” trước tiên được thực hiện nhờ các nút bấm “Knupfel” để loại những đặc tính tình trạng - toạ độ ban đầu của đối tượng khỏi màn ảnh ống tia điện tử. Chương trình trong máy tính điện tử bảo đảm theo dõi việc này nửa tự động.
(còn tiếp)

Thao vietnam 25-06-2008 13:03

(tiếp theo)
Để đảm bảo hệ thống phòng không làm việc ổn định suốt ngày đêm chúng tôi đã dùng hai máy “Tetiva”, khi có hỏng hóc trong hệ thống, máy tính sẽ tự chuyển đổi.
Tổ hợp đã làm việc không ngưng nghỉ suốt hơn 30 năm, thậm chí đã “phát hiện” chuyến bay của Rust năm 1986… (sự kiện này có thể tìm hiểu thêm ở đây: http://www.nuocnga.net/default.aspx?...532&CateID=227 – ND)
Trong khi chưa khai thác hết hệ thống phòng không dựa trên máy tính “Tetiva” thì chúng tôi đã ráo riết nghiên cứu mô hình máy tính đầu tiên có thể vận chuyển được ЭВМ 5Э63 và 5Э63.1. Năm 1967 máy tính đã được sản xuất hàng loạt sau khi thử nghiệm có kết quả ở Kpustinui Yaro (bãi thử quân sự gần Astrakhan) Năm 1967 bắt đầu nghiên cứu máy tính điện tử loại tương tự như EC theo từng khối chức năng. Máy tính 5Э76 đầu tiên là tổ hợp của 6 máy tính điện tử.
Năm 1969 bắt đầu nghiên cứu tổ hợp giám sát quy mô “toàn cầu” - từ bbờ biển Baltich đến bờ biển Thái bình dương. Nhiệm vụ chính của nó là đảm bảo liên lạc và làm việc suốt ngày đêm ở chế độ tự động. Trong hệ thống cũng có chỗ cho người vận hành và thực hiện liên kết “người – máy” nhưng không nhất thiết con người phải có mặt.
Do diện tích lắp đặt có hạn và những yêu cầu độ tin cậy nên người ta chọn hệ thống giám sát kép gồm 2 máy . Tổ hợp mới có tên là 65c180. Trong thời kỳ 1972 – 1992 có tất cả32 tổ hợp 65c180 được sản xuất. Tất cả các loại máy tính và tổ hợp kể trên được do các cộng sự chế tạo dưới sự hướng dẫn trực tiếp của N.Ya. Matiukhin, những người đó là V.P. Kharitonov, A.V. Tamoshinsky, A.L. Zalkin, G.S. Vilưpansky, G.G. Karpov, Yu.S. Bravưi, V.A. Lushekin, L.A. Shifrina, V.A. Biriukov. Nay chuyện đó đã là lịch sử.
Dường như sau những con số khiêm tốn đó là công lao to lớn của Matiukhin, của các cộng sự của ông, của các nhà máy sản xuất máy tính, của các cơ quan nghiên cứu chế tạo và duy tu bảo dưỡng hệ thống phòng không.
(còn tiếp)

Thao vietnam 26-06-2008 07:02

(tiếp theo)
Máy tính M-3 ra đời lần thứ hai.
Máy M-3 là một trong những máy tính điện tử cỡ nhỏ đầu tiên được nghiên cứu để sản xuất hàng loạt. Máy đơn giản đến nỗi nhiều đơn vị có thể tự sản xuất và hiệu chỉnh theo tài liệu hướng dẫn. Năm 1958 tài liệu thiết kế máy M-3 dược chuyển cho nhà máy máy tính ở Minsk để sản xuất một lô nhỏ.
Vậy là như một sự trùng hợp may mắn, đứa con của Y.S. Bruk và học trò của ông là Matiukhin được nghiên cứu ở Matxcova và sản xuất ở Minsk – quê hương của Bruk.
Máy tính điện tử đầu tiên được sản xuất tháng 9 năm 1959 có bộ nhớ linh hoạt trên trống từ nhưng điều đó hạn chế hiệu suất dưới 30 phép tính một giây mặc dù bộ phận số học hoạt động song song.
Máy tính tỏ ra là rất tốt nên được quyết định hiện đại hoá. Bộ nhớ trên lõi ferit được thêm và bộ nhó trên trống từ làm tăng hiệu suất đến 1500 phép tính trong một giây. Những máy tính M-3 đầu tiên đã được trang bị bộ nhớ mới.
Một năm sau nhà máy được giao nhiệm vụ sản xuất một loại máy mới hoàn thiện hơn, rẻ, hiệu chỉnh và khai thác đơn giản và dễ thích ứng với yêu cầu của khách hàng. Máy tính điện tử “Minsk-1” là cái máy như vậy (tổng công trình sư là G.P Lopato) – máy hai địa chỉ có hiệu suất 3000 phép tính trong một giây. Về kết cấu nó được làm dưới dạng thiết bị hoàn chỉnh có chức năng độc lập.
Mạch logic đơn giản, cấu trúc to lớn và lòng nhiệt tình không bờ bến của các cộng sự đã làm cho việc nghiên cứu được hoàn thành trong thời gian rất ngắn và chuẩn bị đưa vào sản xuất. 14 tháng sau nhà máy đã xuất xưởng chiếc máy tính “Minsk-1” đầu tiên.
(còn tiếp)

Thao vietnam 26-06-2008 23:24

(tiếp theo)
Kết cấu rộng rãi của máy cho phép rút ngắn thời gian hiệu chỉnh máy, làm đơn giản hoá đáng kể công việc bảo dưỡng của người sử dụng, bảo đảm nghiên cứu nhanh hàng loạt kiểu máy “Minsk-1” theo yêu cầu của khách hàng: máy “Minsk-11” năm 1961 – dùng cho các kênh liên lạc (thiết kế V.L. Salov), máy “Minsk-12” năm 1962 (thiết kếV.Ya. Simkhes) có dung lượng bộ nhớ lớn hơn, máy “Minsk-14” năm 1962 ( thiết kế L.Y.Kabenic) dùng cho các kênh liên lạc với bộ nhớ dung lượng lớn, máy “Minsk-16” năm 1962 (thiết kế V.T. Mangialey) để xử lý thông tin đo lường từ xa do vệ tinh nhân tạo chuyển về.
Máy tính “Minsk-1” được cung cấp cho người sử dụng theo mẫu bất kỳ trong số các mẫu trên. Đây là các kiểu máy do nhà máy sản xuất trong những năm 1960 – 1964 và là những máy tính điện tử cỡ nhỏ phổ biến nhất thế hệ đầu tiên ở Liên Xô trước đây. Chúng được sử dụng trong các trường đại học trung học, các viện nghiên cứu và nhiều nhà máy.
Năm 1962 đã hoàn thành việc nghiên cứu máy “Minsk-100” dùng để xử lý dấu vân tay (dùng ở Minsk và Leningrad). Một máy “Minsk-1” được lắp trên tàu nghiên cứu khoa học “Sergey Vavilov” dùng cho nghiên cứu khoa học ngay trên biển và hoàn tòan đáp ứng yêu cầu khi làm việc ở vùng nhiệt đới.
Máy tính M-1 và “Minsk-1” trở thành tổ tiên của máy tính hai địa chỉ thế hệ thứ hai được nghiên cứu ở Minsk. Lần đầu tiên trong thực tiễn ở Liên Xô, Minsk đã thực hiện thành công việc sản xuất hàng loạt bộ nhớ linh hoạt trên lõi ferit.
Tập thể phòng thiết kế đã thành công trong việc sản xuất và sử dụng máy tính M-3 và “Minsk-1” và họtiếp tục triển khai đề án nghiên cứu kỹ thuật máy tính điện tử bán dẫn “Minsk-2”. Khi được đề nghị phối hợp, Uỷ ban nhà nước về vô tuyến điện tử đã trả lời rằng triển khai nghiên cứu máy tính mới ở phòng thiết kế Minsk là không hợp lý vì nhiệm vụ chính của phòng là nghiên cứu những thiết bị thử nghiệm, hoàn thiện quy trình công nghệ, theo dõi và cải tiến những máy tính do nhà máy sản xuất. Tập thể phòng thiết kế tin tưởng rằng nhiệm vụ chế tạo máy tính điện tử thế hệ hai đã đặt trên vai họ và họ sẽ thực hiện thành công. Tình hình này đã được Chủ tịch Uỷ ban kinh tế nước cộng hoà Belorus A.M. Tarasov xem xét, và ông ủng hộ, cung cấp tài chính. Sau hai năm máy tính điện tử “Minsk-2” đã nghiên cứu thành công, được Hội đồng nhà nước đánh giá cao và năm 1963 được đưa vào sản xuất. Đây là máy tính vạn năng cỡ nhỏ thế hệ hai (dùng linh kiện bán dẫn) được sản xuất hàng loạt đầu tiên ở Liên Xô dùng để giải các bài toán khoa học kỹ thuật và một số bài toán kinh tế dùng cho các trung tâm tính toán, các tổ chức nghiên cứu khoa học, phòng thiết kế và nhà máy (do V.V. Prgialkovsky thiết kế).
(còn tiếp)

Thao vietnam 27-06-2008 22:04

(tiếp theo)
Máy tính thế hệ hai thuộc seri “Minsk” được chia ra thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm “Minsk-2”, “Minsk-22”,”Minsk-22M” dựa trên mẫu máy “Minsk-2”. Nhóm thứ hai có “Minsk-23”, “Minsk-32” (do V.Ya. Pưkhtin thiết kế). Ngoài những model kể trên, còn có vài kiểu máy “Minsk-26”, “Minsk-27” và các tổ hợp tính toán bao gồm máy tính thế hệ thứ nhất và thứ hai được chế tạo nhằm mục đích mở rộng khả năng ứng dụng máy tính.
Máy tính điện tử vạn năng “Minsk-22” (V.K. Nadenenko thiết kế) nhằm hướng tới giải các bài toán phạm vi rộng hơn nhờ nâng cao và cải thiện hàng loạt thông số so với mẫu gốc: dung lượng bộ nhớ linh hoạt tăng lên hai lần, dung lượng bộ lưu trữ ngoài trên băng từ tăng lên bốn lần, mở rộng thiết bị nhập và xuất dữ liệu (bộ so sánh quang học ВСМ-ЗМ,ФС-5, máy đục lỗ băng giấy ПЛ-80 , máy in АЦПУ-128-2 , v. v…); lần đầu tiên thực hiện được giao tiếp bằng chữ và số với con người (nhập trực tiếp, xử lý, lưu trữ và đưa ra thông tin dưới dạng chữ và số); hệ thống đình chỉ chương trình đơn giản và tiết kiệm cho phép tối ưu hoá quá trình tính toán và được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1965. Một vài khuyết điểm của cấu trúc và mạch logic máy tính “Minsk-22” đã được khắc phục ở model sau là “Minsk-22M” (Prgialkovsky thiết kế): bổ sung thiết bị ngoại vi hiệu suất cao hơn, giảm kích thước toàn máy. Điều này cho phép cải thiện tỷ số hiệu suất – giá thành đến 25-30%.
Những nét đặc trưng của máy tính nhóm thứ nhất là đơn giản trong sản xuất và khai thác, độ tin cậy khá cao, giá rẻ do có cùng cấu trúc.
Máy tính nhóm thứ hai có công dụng cụ thể. “Minsk-26” (N.A. Malsev thiết kế năm 1963) dùng để xử lý thông tin khí tượng, còn “Minsk-27” (năm 1964) dùng để xử lý thông tin đo lường từ xa khi thăm dò tầng cao khí quyển. Trong quá trình nghiên cứu các mẫu máy này, lần đầu tiên đã kết hợp công việc của cơ chế kéo băng giấy và hệ đo lường từ xa với công việc của máy tính bằng phương pháp “đình chỉ”.
(còn tiếp)

Thao vietnam 28-06-2008 00:49

(tiếp theo)
Người tổ chức ngành chế tạo máy tính ở Belarus.
Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Nga Georgy Pavlovich Lopato là người có nhiều đóng góp vào sự phát triển ngành kỹ thuật máy tính ở Minsk. Tên tuổi ông được gắn liền với sự hình thành và phát triển kỹ thuật máy tính ở Belorus.
Georgy Pavlovich Lopato sinh ngày 23 tháng 8 năm 1924 ở làng Ozersina quận Rechitsky tỉnh Gomel. Người cha của ông đã tốt nghiệp học viện nông nghiệp Goretsky, tham gia nội chiến trong thành phần đội quân kỵ binh thứ nhất. Sau chiến tranh làm nhân viên địa chính, năm 1924 vào học Đại học bách khoa Leningrad và tốt nghiệp năm 1929. Ông làm kỹ sư trưởng ở một nhà máy ở Matxcova rồi sau đó làm giảng viên ở Viện cơ khí và điện khí hoá nông thôn Matxcova.
Georgy đi học phổ thông từ năm 1931 đến 1941. Mùa hè năm 1941 ông tham gia xây dựng pháo đài phòng thủ ở cửa ngõ Matxcova. Tháng 10 năm 1941 được gọi vào Hồng quân và được biên chế làm đội viên tiểu đoàn độc lập số 314 lực lượng phòng không quân khu Matxcova. Năm 1946 được giải ngũ và vào học khoa điện - vật lý Đại học năng lượng Matxcova, tốt nghiệp năm 1952 với bằng kỹ sư cơ điện.
Ông bắt đầu hoạt động sáng tạo với vị trí kỹ sư viện nghiên cứu điện công nghiệp thuộc Uỷ ban kế hoạch nhà nước ở Matxcova, tham gia nghiên cứu các thiết bị cơ điện. Năm 1954 ông được biệt phái công tác vài tháng ở phòng thí nghiệm máy điều khiển thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, ở đó dưới sự hướng dẫn của N.Ya. Matiukhin và V.V. Belưnsky ông tìm hiếu kỹ càng máy tính điện tử M-3. Cuối năm 1957 tài liệu về máy tính M-3 được chuyển cho Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc và Hungary.
Ở nhà máy điện thoại Bắc Kinh đã chế tạo máy mẫu cho Viện kỹ thuật tính toán Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc. G.P. Lopato đã đến Trung Quốc để giúp hiệu chỉnh và đưa máy tính vào khai thác. Ông đã hoàn thành tốt công việc. Sau khi trở về, ông được mời đến Minsk làm kỹ sư trưởng ở phòng nghiên cứu của nhà máy máy tính Minsk từ ngày 20 tháng 4 năm 1959. Năm năm sau ông được bổ nhiệm làm trưởng phòng nghiên cứu và năm 1972 là giám đốc viện máy tính điện tử.
Dưới sự lãnh đạo và tham gia trực tiếp của G.P. Lopato, sau 28 năm viện đã tạo ra 15 model máy tính điện tử “Minsk” thế hệ thứ nhất và thứ hai, (11 model sản xuất hàng loạt và 4 model riêng theo đơn đặt hàng), 5 model máy tính điện tử EC, 6 tổ hợp máy tính chuyên dùng, hàng loạt hệ thống vận hành và hệ thống lập trình và trên 50 loại thiết bị ngoại vi.
(còn tiếp)

Thao vietnam 29-06-2008 23:15

(tiếp theo)
G.P. Lopato là tổng công trình sư của máy tính “Minsk-1”, hệ thống nhiều máy tính “Minsk-222”, hệ thống sử dụng chung "Нарочь" liên kết 12 máy tính điện tử EC, hệ thống này là tổ hợp công cụ của Viện dùng để thiết kế các công cụ kỹ thuật và lập trình. Ông cũng là phó tổng công trình sư của hệ thống 70K1 (tổng công trình sư là viện sỹ V.S. Semenikhin) – đó là một hệ thống thông tin – logic phức tạp, bao gồm nhiều loại thiết bị có công dụng khác nhau; ông còn là tổng công trình sư của một loạt máy tính điện tử cơ động.
G.P. Lopato là một trong những nhà sáng lập trường phái thiết kế máy tính Minsk - trường phái xuất sắc, nổi trội bởi tính thực tiễn - giải quyết các vấn đề kinh tế - kỹ thuật trong nghiên cứu như một vấn đề thống nhất, trong đó đặc biệt chú ý đến giảm giá thành, tính lâu dài và tính kế thừa của kỹ thuật tính toán. Hoạt động sáng tạo của ông được tôi luyện trong thực tiễn - việc sản xuất hàng loạt sản phẩm được thực hiện trong thời gian rất ngắn (ví dụ hai tháng sau khi hoàn thành nghiên cứu đã đưa vào sản xuất máy tính “Minsk-32” và EC-1020)
Trong cuộc đời hoạt động của mình Lopato rất chú ý đào tạo cán bộ. Ông đã thành lập bộ môn “Máy tính và hệ thống máy tính” ở trường Đại học kỹ thuật vô tuyến Minsk và lãnh đạo bộ môn này 10 năm. Năm 1969 ông bảo vệ luận án phó tiến sỹ và năm 1975 - luận án tiến sỹ. Năm 1979 ông được bầu là thành viên thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô chuyên ngành kỹ thuật máy tính. Ông được phong hàm giáo sư và hiên nay là viện sỹ nước ngoài của viện Hàn lâm khoa học Nga. Ông đã xuất bản trên 120 công trình và nhận được 45 bằng tác giả.
G.P. được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô, huân chương Lê nin (1983), huân chương Cách mạng tháng Mười (1972), huân chương Lao động cờ đỏ (1976), Bằng danh dự (1966), 9 huy chương, 4 Bằng khen của Xô viết tối cao Liên Xô.
Hiện nay ông đang sống ở Minsk. Sau khi nghỉ hưu năm 1987 ông thành lập và đứng đầu trung tâm khoa học - kỹ thuật “Neirocomputer” trong thành phần Viện hàn lâm công nghệ kỹ thuật Belorus.
Từ lâu tôi đã biết đến nhà lãnh đạo trường phái máy tính Minsk nhưng phải đến những năm đầu thập niên 1980 mới được làm quen với ông khi tìm cách liên kết lực lượng nghiên cứu máy tính cá nhân từ các bộ khác nhau. Hình như chỉ có mỗi Lopato ủng hộ ý tưởng của tôi. Viện nghiên cứu do ông lãnh đạo (có sự tham gia của Viện điều khiển học mang tên V.M. Glushkov- Viện Hàn lâm khoa học Ucraina) đã thực hiện một khối lượng lớn công việc liên quan đến việc thiết kế máy tính cá nhân và đưa vào sản xuất hàng loạt.
Chúng tôi đã lập tức tìm được tiếng nói chung ngay từ những ngày đầu làm quen với nhau. Ông đã chinh phục tôi bằng tính cách nhẹ nhàng, sự thông minh, thái độ thân thiện với mọi người và kinh nghiệm phong phú trong nghiên cứu máy tính điện tử. Ngay cả tập thể Viện nghiên cứu của ông cũng giống như chính ông vậy. Nhiều học trò và trợ lý của Lopato cũng điều chỉnh máy tính rất tôt. Ông chẳng còn bận tâm lo lắng gì khi về nghỉ hưu. Tiếp tục lãnh đạo viện là học trò của ông - V.Ya. Pưkhtin, người khi còn là sinh viên đã từng được nghe các bài giảng của S.A. Lebedev. Lopato tiếp tục làm việc ở viện nghiên cứu, kiến thức và kinh nghiệm của ông vẫn mang lại lợi ích to lớn cho những người nghiên cứu các loại máy tính mới.
(còn tiếp)

Thao vietnam 10-07-2008 00:19

(tiếp theo)
M.A. Karsev thuộc về số các nhà bác học mà công lao của họ chỉ được công nhận chính thức và đầy đủ khá lâu sau khi chết. Giới hàn lâm không phong tặng cho ông danh hiệu hàn lâm. Mười năm sau khi ông từ giã cõi đời thì Viện khoa học máy tính (Matxcova) mới được mang tên người sáng lập ra nó.
Khoa học kỹ thuật máy tính là năng khiếu thiên bẩm của ông, nó mang lại cho ông cả hạnh phúc lẫn nỗi buồn, ông đã dành tất cả thời giờ của mình cho nó - cả khi làm việc lẫn lúc nghỉ ngơi.
Con trai ông là Vladimir nhớ lại – “ Những gì tôi còn nhớ được về người cha đó là cả cuộc đời ông dành cho công việc. Lúc rỗi rãi ông chủ yếu đọc sách, thỉnh thoảng chúng tôi cùng đi xem phim. Ông không bao giờ chơi thể thao, kiên quyết phản đối nhà nghỉ và ô tô. Nhưng khi bị đau chân ông cũng mua một chiếc Volga và yêu quý nó. Ở tuổi ông học lái xe không hề dễ dàng nhưng ở Matxcova ông định hướng rất tốt. Cha tôi không thuộc về lớp người thường hay than vãn và muốn bàn luận về những khó khăn của mình, thực tế không thể moi được những hồi ức ở ông, ông không sống bằng quá khứ mà sống bằng tương lai”.
Mikhain Alecsandrovich Karsev sinh ngày 10 tháng 5 năm 1923 ở Kiev trong gia đình một nhà giáo. Bố ông chết ngay năm đó. Mikhain sống với mẹ ở Odessa, Kharkov, nhưng từ 1939 – 1941 lại về sống ở Kiev và tốt nghiệp trường trung học ở đó. Mùa hè năm 1941 ông được tham gia công cuộc phòng thủ ở vùng Donbass, tháng 9 năm đó ông nhập ngũ và phục vụủtong quân đội đến tháng 2 năm 1947. Trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chiến sỹ xe tăng Karsev đã chiến đấu trong đội ngũ các phương diện quân Tây – Nam, phương diện quân phía Nam, phương diện quân Bắc Kavkaz và phương diện quân Ucraina số 2. Ông tham gia giải phóng Rumani, Hungary, Tiệp Khắc, Áo. Vì tinh thần chiến đấu dũng cảm , ông, một chuẩn uý hai mươi tuổi đã được tặng thưởng huy chương “Dũng cảm”, huân chương Sao đỏ, huy chương “Giải phóng Budapet”, “Chiến thắng nước Đức”. Tháng 11 năm 1944, ngay tại mặt trận ông được giới thiệu vào đảng và đến tháng 5 năm 1945 trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô.
Sau khi giải ngũ, Karsev vào học khoa kỹ thuật vô tuyến điện Đại học năng lượng Matxcova. Ngay khi học năm thứ ba ông đã hoàn thành kỳ thi của năm học cuối cùng với tư cách là thí sinh tự do trở thành sinh viên năm thứ năm và vào làm việc (kiêm nhiệm) ở phòng thí nghiệm hệ thống điện Viện năng lượng Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và tham gia nghiên cứu một trong những máy tính điện tử đầu tiên của Liên Xô, máy M-1. Năm 1952 ông được phái đến Viện năng lượng VHLKH Liên Xô, làm việc ở phòng thí nghiệm hệ thống điện với tư cách là cộng tác viên khoa học sơ cấp. Khi tham gia chế tạo máy tính điện tử M-2 ông đã thể hiện những năng lực xuất chúng. Máy tính M-2 đã được một tập thể nhỏ hoàn thành trong một năm rưỡi!
(còn tiếp)

Thao vietnam 16-07-2008 04:08

(tiếp theo)
Đến năm 1957 ngành công nghiệp điện tử trong nước đã sản xuất hàng loạt được transistor, vì vậy máy M-4 được thiết kế hoàn toàn bằng linh kiện bán dẫn. Để tiến hành chế tạo máy điện tử điều khiển, trong Viện máy điện tử điều khiển vừa mới thành lập đã lập ra phòng thí nghiệm số 2 do Karsev lãnh đạo. Tháng 3 năm 1958 mới bảo vệ sơ đồ thiết kế thì tháng 4 đã có nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô về sản xuất máy tính M-4. Nghị quyết cũng chỉ định nhà sản xuất là một nhà máy có kinh nghiệm sản xuất máy tính điện tử do A.G. Shishilov là kỹ sư trưởng, lãnh đạo phòng thiết kế là V.S. Shemenikhin (về sau ông là viện sỹ, giám đốc Viện nghiên cứu tự động hoá, Anh hùng lao động XHCN, giải thưởng Lê nin và giải thưởng nhà nước). Tháng 4 năm 1958 bộ tài liệu thiết kế đầy đủ được đưa tới nhà máy và chuẩn bị sản xuất. Nhóm nghiên cứu máy M-4 tích cực tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất và hiệu chỉnh. Việc đó cho họ nhiều kinh nghiệm và những máy tính được nghiên cứu sau này của họ đều có tính công nghệ cao và đặc biệt là được hiệu chỉnh rất tốt.
Năm 1959 hai bộ máy M-4 đã được sản xuất và đưa vào hiệu chỉnh tổng thể. Cuối năm 1960 bộ đầu tiên đã bắt đầu chạy và chuyển cho Viện kỹ thuật vô tuyến.
Để giải bài toán quản lý và xử lý thông tin định vị vô tuyến theo thời gian thực cần có một thiết bị phối hợp giữa trạm và máy M-4. Tháng 1 năm 1961 giám đốc Viện nghiên cứu máy điện tử điều khiển Bruk đã phê chuẩn thoả thuận với đại diện Viện kỹ thuật vô tuyến về nghiên cứu thiết bị xử lý thông tin định vị phòng không tốc độ cao kèm theo máy M-4. Kỹ sư trưởng thời đó là Yu.V. Rogachev được giao phụ trách công trình nghiên cứu.
Mùa hè năm 1961 bộ tài liệu thiết kế đã được giao cho chính nhà máy đã chế tạo máy M-4, đến tháng 3 năm 1962 thiết bị xử lý tông tin tốc độ cao và bộ máy M-4 thứ hai đã được sản xuất trước đó được đưa vào hiệu chỉnh tổng thể và ghép nối với nhau. Tháng 7 năm 1962 hoàn thành chạy thử và bắt đầu khai thác thử nghiệm.
Tháng 11 năm 1962 có nghị quyết đưa máy M-4 vào sản xuất hàng loạt. Thế nhưng Karsev lại đề nghị nghiên cứu và sản xuất hàng loạt loại máy mới khắc phục những thiếu sót của máy M-4 bằng cách làm cho nó có tính công nghệ cao hơn trong chế tạo và hiệu chỉnh. Ngoài ra thời đó đã có những hệ linh kiện logic mới có tốc độ nhanh hơn dosử dụng transisto cao tần và xuất hiện transisto công suất cho phép loại bỏ hoàn toàn bóng điện tử.
(còn tiếp)

Thao vietnam 16-07-2008 16:46

(tiếp theo)
Việc nghiên cứu thiết kế máy M-4M được làm trong thời gian rất ngắn: tháng 3 năm 1963 tài liệu thiết kế tủ đầu tiên - tủ thiết bị số học được giao cho nhà máy sản xuất nhưng đến tháng 8 năm đó đã giao toàn bộ tài liệu thiết kế đầy đủ.
Sau đúng 1 năm, tháng 8 năm 1964 nhà máy đã chế tạo và đưa vào hiệu chỉnh hai mẫu máy đầu tiên và họ chỉ cần hai tháng để kết nối và hiệu chỉnh. Tháng 10 năm 1964 cả hai mẫu máy đã vượt qua cuộc kiểm tra kỹ thuật và được khách hàng chấp nhận. Máy có tốc độ 220 nghìn phép tính một giây, vượt tốc độ dự kiến hơn hai lần. Máy tỏ ra có tính công nghệ cao trong sản xuất và thực tế không cần phải hiệu chỉnh. Máy tính M-4M được tiếp tục sản xuất đến năm 1985 (đã sản xuất hơn trăm bộ).
Seri máy tính M-4M có 3 kiểu có ký hiệu 5Э71, 5Э72 và 5Э73 khác nhau về dung lượng bộ nhớ trong. Để mở rộng khả năng ứng dụng, người ta đã làm thêm nhiều thiất bị kết nối bên ngoài. Những tổ hợp nhiều máy tính làm nên một hệ thống tính toán mạnh làm việc theo thời gian thực đã được thiết lập từ những máy tính M-4M.
M.A. Karsev xúc động và tự hào nhớ lại : “25 năm trước, năm 1957 bắt đầu nghiên cứu một trong những máy tính điện tử bán dẫn đầu tiên ở Liên Xô, máy M-4, nó đã làm việc theo thời gian thực và vượt qua các cuộc thử nghiệm.
Tháng 11 năm 1962 đã có nghị quyết đưa máy M-4 vào sản xuất hàng loạt nhưng chúng tôi hiểu rõ là máy này không đạt để đưa vào sản xuất hàng loạt. Đây là máy thử nghiệm dùng transistor đầu tiên, điều chỉnh nó rất khó khăn, rất khó lặp lại trong sản xuất. Hơn nữa trong giai đoạn 1957 – 1962 kỹ thuật bán dẫn đã có bước nhẩy vọt cho phép chúng ta làm ra những máy tính tốt hơn máy M-4, mạnh hơn những máy tính đã được sản xuất ở Liên Xô đến lúc đó. Những cuộc tranh cãi nẩy lửa diễn ra suốt mùa đông 1962 / 63. Lãnh đạo Viện (khi đó chúng tôi ở Viện máy điện tử điều khiển) kịch liệt phản đối nghiên cứu máy mới, họ khẳng định trong thời gian ngắn như vậy chúng tôi chẳng kịp làm gì cả, rằng đó là một cuộc phiêu lưu, rằng họ không bao giờ cho phép.
Quyết định của Hội đồng công nghiệp-quốc phòng Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ra đời tháng 3 năm 1963 đã kết thúc các cuộc tranh cãi này. Cũng ngay trong tháng ấy chúng tôi giao cho xí nghiệp tài liệu về tủ đầu tiên của máy tính - tủ thiết bị số học. Tháng 8 năm 1963 giao toàn bộ tài liệu thì tháng 8 năm 1964 nhà máy đã đưa vào hiệu chỉnh hai mẫu đầu tiên. Chưa đầy hai năm sau khi có nghị quyết của Chính phủ, tháng 10 năm 1964 hai mẫu máy đầu tiên đã được vận hành, đến tháng 12 năm 1964 đã có thêm 5 máy nữa ra đời. Những máy này được sản xuất suốt hơn 15 năm và đến nay vẫn phục vụ rất tận tuỵ.
(còn tiếp)

Thao vietnam 17-07-2008 21:13

(tiếp theo)
Luận án tiến sỹ của M.A. Karsev, luận án phó tiến sỹ của L.V. Yvanov, Yu.V. Rogachev, R.P. Shidlovsky, Yu.N. Melnhic, E.A. Bratelsky đã được bảo vệ dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học tiến hành khi nghiên cứu loạt máy tính M-4M. Phân viện do M.A. Karsev lãnh đạo đã mở rộng đến 200 cộng tác viên trong quá trình làm việc. Đã thành lập 5 phòng thí nghiệm do các phó tiến sỹ Rogachev, Yvanov, Shidlovsky, Glivenko và Melnhic phụ trách. Có gần 30 nhà thiết kế và nhiều nhân viên của viện tham gia công việc. Các vị G.Y. Tanetov, V.A. Brik, L.Z. Liburkin, A.G. Konovalov, L.V. Yvanov, R.P. Shidlovsky, R.P. Makarova, G.M. Kabaenkova, V.M. Emelin, Yu.N. Melnhic đã có nhiều đóng góp cho công trình. M.A. Karsev đã được tặng giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1967.
(còn tiếp)

Thao vietnam 17-07-2008 21:15

(tiếp theo)
Đi trước thời gian
Có vẻ như đã có thể nghỉ ngơi đôi chút, thoát khỏi sự căng thẳng của công việc.
Không được, đươn giản là không thể được. Một lần nữa, năm 1966 Karsev đưa ra ý tưởng tạo ra một tổ hợp tính toán từ nhiều máy tính riêng rẽ. Nghiên cứu cho thấy hiệu suất của tổ hợp lên đến hàng tỷ phép tính một giây. Thời đó không một máy tính nào trên thế giới có được tốc độ như vậy. Điều đó làm Karsev và tập thể của ông rất phấn khích và ngay trong năm 1967 họ đã hoàn thành sơ đồ thiết kế tổ hợp (BK M-9) như vậy. Khi đưa ra bảo vệ ở bộ đã được đánh giá tích cực
BK M-9 bao gồm bộ xử lý điều khiển và bốn máy tính khác loại: máy vận hành-chức năng, máy số, máy kết hợp và máy tính ngoài.
Ý tưởng cơ bản được đưa vào BK M-9 là cấu trúc của máy tính được tính toán sao cho nó không làm việc với các con số riêng rẽ mà với các nhóm số, nhóm này là sự thể hiện gần đúng các hàm số hay các vector đa chiều. Nói khác đi là cần lập sự liên kết có ý nghĩa sâu sắc hơn nữa trong thông tin so với sự liên kết được tính toán cho những máy hiện hành: không chỉ giữa các hạng riêng rẽ của một con số mà là giữa các con số riêng rẽ là giá trị của một hàm số. Tương tự như vậy, các phép toán của máy không chỉ trên không gian của con số mà trên không gian của hàm. Trong số các phép toán này có thể có phép cộng, trừ và nhân hàm số, so sánh hàm số, các phép toán analog trên hàm và số, tìm cực đại của hàm số, tính tích phân không xác định, tính tích phân xác định từ đạo hàm của hai hàm số, dịch chuyển hàm số theo trục hoành và v.v…
(còn tiếp)

Thao vietnam 17-07-2008 23:13

(tiếp theo)
Nhiều phép tính trong đó có thể giải thích như các phép tính vector đã biết : cộng và phép trừ hàm số như cộng và trừ vector, tính tích phân xác định từ đạo hàm của hai hàm số - như tính tích vô hướng của hai vector, dịch chuyển hàm theo trục hoành – như quay vector đối với trục toạ độ và v.v…
Điểm khác biệt chủ yếu của chiếc máy như vậy là ở cách tổ chức tương tác của các thiết bị số học. Chúng làm việc nhờ một máy phát tạo nhịp chung, hơn nữa mỗi máy thực hiện phép tính của mình trong suốt một hay hai nhịp, ở cuối mỗi một phép toán hay đầu phép toán tiếp theo (không cần tốn thêm thời gian) có duy trì việc trao đổi thông tin giữa đầu ra của một thiết bị số học bất kỳ với đầu vào của một bộ ghi nào đó (ghi phép tính trước) và giữa đầu vào của thiết bị số học bất kỳ với đầu ra của bộ ghi nào đó (đọc dữ liệu gốc cho phép tính tiếp theo) và cả giữa các thiết bị số học với nhau.
Máy số vector trong thành phần BK M-9 thực hiện các phép tính trên các phần của hàm số hay các vector nhiều hướng. Máy tính kết hợp có hiệu suất cao đảm nhận phần lớn việc về số dư và hiệu chỉnh thông tin. Máy tính số làm việc theo chương trình độc lập và theo chương trình đồng bộ với các máy khác trong BK M-9. Việc đồng bộ hoá các máy tính khác chủng loại cho phép tổ hợp giữ được hiệu suất cao khi làm việc với nhiều dạng thông tin và làm cho nó trở thành công cụ tính toán vạn năng để giải nhiều dạng toán yêu cầu hiệu suất rất cao.
Tiếc là tổ hợp tính toán M-9 không được sản xuất công nghiệp nhưng việc nghiên cứu chế tạo và khai thác có hiệu quả mẫu mô hình máy là bằng chứng rõ ràng về sức sáng tạo của tập thể do Karsev đứng đầu. Năm 1967 trở thành một mốc đáng nhớ đối với những người nghiên cứu máy BK M-9: thành lập Viện nghiên cứu – khoa học tính toán. Đội quân của Karsev trở thành nòng cốt và chính ông được bổ nhiệm làm giám đốc. Đó là sự công nhận chính thức trường phái khoa học của Karsev.
Năm 1968 chính phủ ra nghị quyết về việc chế tạo máy tính điện tử M-10 dựa trên máy tính vector của tổ hợp BK M-9. Theo lời tiến sỹ khoa học kỹ thuật L.V. Yvanov, “có một cuộc thảo luận có uy tín đã diễn ra trước khi có nghị quyết này, tại đây đã xem xét tương lai của hai công trình nghiên cứu đã tiến hành: “Elbrus” (viện sỹ S.A. Lebedev) và M-10 (m.A. Karsev). Lebedev phát biểu kiên quyết phản đối bộ T nhiều quá trình trong “Elbrus” và chọn phương án một quá trình tốc độ cao nhất. Viện sỹ Gluskov ủng hộ cả hai hướng. Và cả hai hướng đều được tán thành. Cũng chính trong năm ấy bắt đầu nghiên cứu thiết kế cấu trúc và chuyển cho nhà máy chế tao. Từ năm 1970 ở nhà máy đã bắt đầu công việc chuẩn bị sản xuất và chế tạo mẫu thử nghiệm. Giữa năm 1970 toàn bộ tài liệu thiết kế đã được chuyển cho nhà máy , một năm sau, tháng 8 năm 1971 nhà máy đã dưa mẫu máy M-10 vào hiệu chỉnh. Cùng lúc đó người ta tiến hành sửa đổi thiết kế và chế tạo mẫu máy để sản xuất công nghiệp. Đó là một năm vất vả đối với Karsev. Công việc căng thẳng đã ảnh hưởng đến sức khoẻ: bệnh nhồi máu mạch vành đã bắt ông nằm vài tháng, cũng may là ông đã vượt qua.
(còn tiếp)

Thao vietnam 18-07-2008 01:47

(tiếp theo)
Đến tháng 6 năm 1973 tất cả các bộ phận của mẫu đầu tiên đã được làm xong và thử nghiệm kỹ thuật và được đưa đến để hiệu chỉnh tổng thể toàn máy. Tháng 9 năm đó mẫu máy M-10 công nghiệp đầu tiên đã được kiểm tra kỹ thuật và đưa vào khai thác thử nghiệm.
Tháng 12 năm 1973 thì chính mẫu công nghiệp thứ hai cũng được thử xong. Thực tế từ lúc đó đã bắt đầu sản xuất hàng loạt máy tính M-10 và được sản xuất trong suốt hơn 15 năm sau đó. Vài chục bộ máy đã được sản xuất, đa số vẫn được khai thác cho đến ngày nay. Hàng loạt tổ hợp tính toán mạnh đã được thiết lập dựa trên máy tính M-10. Năm 1976, máy tính M-10 đã thành công trong cuộc thử nghiệm quốc gia.
Việc chế tạo máy tính điện tử M-10 đã được ghi nhận bằng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1977 trao cho cả nhà nghiên cứu và nhà sản xuất. Trong số những người được trao danh hiệu Giải thưởng nhà nước có phó thiết kế trưởng L.V. Yvanov, A.A. Krupsky, L.Ya. Miller, Yu.V. Rogachev, R.P. Shidlovsky, A.yu. Karasik; phía nhà máy có kỹ sư trưởng Shishulov và phó thiết kế sản xuất V.A. Musnhikov, phía đơn vị lắp ráp có kỹ sư trưởng Y.N. Yarưgin. Tổng công trình sư máy tính M-10 M.A. Karsev được tặng thưởng huân chương Lê nin. Còn có 118 cộng tác viên của Viện nghiên cứu máy tính và nhà máy sản xuất được tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại của nhà nước Liên Xô.
Máy tính M-10 là hệ thống nhiều quá trình dạng đồng bộ và thuộc về máy tính thế hệ thứ 3: máy sử dụng mạch vi điện tử seri 217 làm linh kiện logic chủ yếu. Máy dùng để duy trì hoạt động của các hệ thống điều khiển tự động phức tạp trong thời gian thực và để giải nhiều bài toán khoa học kỹ thuật khác nhau.

Nếu thua kém siêu máy tính “Sgau-1” của Mỹ thời đó về hiệu suất thì máy tính M-10 lai trội hơn về nhiều khả năng trong cấu trúc. Những khả năng này được xác định bằng các chu trình máy (trung bình) để thực hiện một phép tính. Con số này càng nhỏ thì máy càng tốt về cấu trúc. Máy tính M-10 có số này vào khoảng từ 0,9 đến 5,3 (cho toàn phổ phép tính) còn máy “Sgau-1” thì từ 0,7 đến 27,6. Ở đây giá trị nhỏ nhất là xấp xỉ nhau nhưng giá trị lớn nhất của máy M-10 nhỏ hơn nhiều so với máy “Sgau-1”.
Để độc giả hiểu được tầm quan trọng của việc chế tạo máy M-10 cần nói đôi chút về ý nghĩa cơ bản của nó. Ý nghĩa náy được giữ bí mật khá lâu vì máy được chế tạo để dùng cho Hệ thống cảnh báo cuộc tấn công tên lửa và theo rõi không gian vũ trụ. Thông tin về việc này lần đầu tiên được xuất hiện trên báo “Sự thật” ngày 1/4/1990. Nhiệm vụ của hệ thống là cung cấp cho lãnh đạo đất nước những thông tin tin cậy về khả năng tấn công tên lửa và tình hình vũ trụ, tức là thuần tuý quốc phòng. Hiện nay trên quỹ đạo gần trái đất có gần 17 nghìn vật thể có nguồn gốc khác nhau bao gồm cả vệ tinh đang hoạt động hay đã hết hạn sử dụng, các mảnh vỡ của tên lửa đẩy và nhiều thứ khác. Thê đội đầu tiên của Hệ thống cảnh báo tấn công tên lửa ở trên vũ trụ: các vệ tinh xác định được nơi phóng theo quầng sáng của tên lửa. Nòng cốt của hệ thống là thê đội hai ở mặt đất gồm các tram rada mạnh nằm ở biên giới (trước khi Liên Xô tan rã có 9 trạm ở Riga, Murmansk, Pechera, Yrkutsk, Balkhas, Min-gechaur, Sevastopol, Mukachevưi) và mạng lưới các tổ hợp tính toán M-10.
Ngay cả việc chuẩn bị chiến tranh hiện nay cũng liên quan đến việc phóng nhiều loại tên lửa. Nhưng nếu tên lửa hạt nhân rơi vào tay những kẻ phiêu lưu chính trị hay các “lãnh tụ” kiêu ngạo có thể phóng tên lửa mà không đợi “phê chuẩn”? Cần phải đánh giá nhanh chóng và chính xác những hành động như vây, nếu khác đi hậu quả sẽ là huỷ diệt cả hành tinh. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi hoạt động của hệ thống cảnh báo và kiểm soát không gian vũ trụ có ý nghĩa toàn cầu.
Cần nhấn mạnh yêu cầu cực kỳ cao đối với kỹ thuật tính toán trong hệ thống như vậy: chỉ có vài giây để tính quỹ đạo của tên lửa còn lượng dữ liệu từ các trạm rada đổ vào máy tính là rất lớn.
(còn tiếp)

nthach 18-07-2008 07:24

Công nhận bác Thao vietnam vớ phải cái chương này "xương thật, " :emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm

Thao vietnam 18-07-2008 17:47

(tiếp theo)
Đến đầu năm 1980 máy tính M-10 là máy có hiệu suất cao nhất (theo một vài đánh giá – 20-30 triệu phép tính/giây), dung lượng bộ nhớ trong và khả năng thông qua nhiều kênh. Lần đầu tiên trên thế giới trong máy đã áp dụng hàng loạt cách giải quyết tiên tiến, trong đó có khả năng xem xét trước sự phối hợp đồng bộ đến 7 máy tính có thể trao đổi thông tin trực tiếp giưac các chương trình của từng máy tính riêng rẽ và sự chia sẻ tài nguyên năng động; hiện thực hoá việc tái cấu trúc một cách tự động môi trường của các quá trình; đã đưa vào bộ nhớ trong bậc hai có dung lượng hơn 4 triệu bytes có thể tự do truy cập; có sự trao đổi bên ngoài với cả hai bậc của bộ nhớ trong.
Điểm mới lạ của các giải pháp kỹ thuật được bảo vệ bằng 18 bằng sáng chế và 5 bằng về kiểu dáng công nghiệp.

Dung lượng bộ nhớ trong lớn của máy M-10 yêu cầu số lượng linh kiện khá lớn. Nếu như tất cả linh kiện của máy đặt trong 31 tủ thì bộ nhớ linh hoạt bậc một trên lõi pherit dạng M-100П2 có đường kính ngoài 1mm đã chiếm 8 tủ như vậy, bộ nhớ cố định dạng tụ điện có phiếu đục lỗ kim loại có thể thay thế được làm vật mang thông tin cũng chiếm 8 tủ nữa, bộ nhớ lớn (bộ nhớ bậc hai) dùng lõi М-100П2 chiếm 4 tủ. Nhằm thu nhỏ kích thước máy M-10 người ta quyết định nghiên cứu khả năng chế tạo bộ nhớ có cùng dung lượng nhưng có độ tích hợp cao để thu nhỏ kích thước. Các nghiên cứu đã cho kết quả khả quan: năm 1974 bắt đầu nghiên cứu bộ nhớ mới. Người ta dùng các mạch vi điện tử làm vật mang thông tin trong các bộ nhớ linh hoạt bậc nhất và bộ nhớ lớn (bậc hai), còn trong bộ nhớ cố định thì dùng các lõi toroid có từ tính. Năm 1975 tài liệu thiết kế đã được giao cho nhà máy sản xuất để chế tạo những mẫu đầu tiên. Tất cả bộ nhớ linh hoạt được đặt trong một tủ, bộ nhớ lớn trong hai tủ và bộ nhớ cố định cũng trong hai tủ. Bộ nhớ mới hoàn toàn đáp ứng đầy đủ mọi chức năng của máy M-10.
Từ năm 1980 máy được sản xuất với bộ nhớ mới và có ký hiệu M-10M. Máy M-10 và M-10M có cùng chương trình và có thể thay thế lẫn nhau.
Chính Karsev đã viết về những năm tháng đáng nhớ đó trong báo cáo nhân dịp 15 năm thành lập Viện như sau: “Chúng tôi trải qua năm 1967 với một đề nghị khá táo bạo là dự án tổ hợp tính toán M-9. Đây cũng là năm kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười nên máy có tên gọi là Tháng Mười. Ở Bộ máy công cụ người ta cio đây là việc làm quá quắt, họ bảo : các anh hãy đi gặp xin Kalmưkov. Vậy là hôm nay chúng ta đã kỷ niệm 15 năm chính cái ngày ấy.
Dự án M-9 không được thực hiện nhưng năm 1969 đã bắt đầu nghiên cứu máy tính M-10 để đến năm 1973 đưa vào khai thác. Trong nhiều năm liền đây là máy tính mạnh nhất ở Liên Xô và hiện nay vẫn được tiếp tục sản xuất và sử dụng. Nhờ sử dụng máy mà chúng ta đã thu được những kết quả khoa học quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý. Không thể nói rằng việc nghiên cứu máy tính M-10 đã được đón nhận cởi mở. Thực ra người ta đã bảo chúng tôi là những kẻ tâm thần, rằng không thể gom đống kim loại ấy vào một chỗ và chúng sẽ chẳng bao giờ hoạt động được. Nói như vậy, về tâm lý bây giờ chúng tôi đã quen rằng máy tính lớn được cấu tạo từ nhiều thiết bị khác nhau. Thời đó không một ai chấp nhận điều đó. Và chúng tôi đã phải làm việc trong những điều kiện rất khó khăn, chúng tôi đã phải làm việc trong tầng hầm của nhiều ngôi nhà ở khắp Matxcova.

(còn tiếp)

Thao vietnam 19-07-2008 20:39

(tiếp theo)
Sau khi được tách ra độc lập , tập thể chúng tôi được phân một nơi có diện tích 590 mét vuông của xưởng mộc của một xí nghiệp . Để bố trí cho cả tập thể đành phải chạy tìm khắp Matxcova và thuê chỗ ở, chủ yếu ở tầng hầm. Viện xây một toà nhà riêng có dạng trường học năm 1975 và nhà thí nghiệm theo một dự án riêng năm 1985-1986. Nhưng chúng tôi luôn nhận được sự ủng hộ từ Bộ và từ đích thân bộ trưởng P.S. Plesakov, thứ trưởng V.Y. Mirkova, từ ban lãnh đạo xí nghiệp, từ các cơ quan đảng cao nhất, từ Uỷ ban kế hoạch nhà nước, từ Đoàn chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, từ phía các nhà máy bạn bè và cả từ phía khách hàng. “họ đã giúp chúng tôi làm việc, giúp hoàn thành sự nghiệp này. Và chúng tôi đã hoàn thành. Công trình này được ghi nhận bằng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô”.
Khi nói về thái độ của những người có uy tín đối với máy tính M-10 và các tổ hợp hai hoặc ba máy tính, Karsev nói: “Họ bảo chúng tôi là những kẻ tâm thần, …, rằng cái máy đó chẳng bao giờ chạy được”.
Không khó hiểu những người nghi ngờ nếu xem qua vài con số: máy tính M-6 dùng 60 nghìn transistor, 180 nghìn diode bán dẫn, 12 triệu lõi pherit. Tổ hợp tính toán gồm 3 máy M-10 chứa 2100 nghìn vi mạch, 1200 nghìn transistor, 120 triệu lõi pherit. Đây không chỉ là “một đống kim loại” mà còn là con số khó hình dung về các linh kiện điện tử được kết nối bởi các sơ đồ phức tạpvà phải làm việc trơn tru.
Tuy vậy, các tổ hợp tính toán đã bắt đầu làm việc …. Nhờ hoàn thiện đảm bảo toán học và các thiết bị cấu thành đã rút ngắn việc tự động xử lý số liệu trong một năm chỉ còn 10 phút!
Không phải tất lời khen thuộc về tài năng xuất chúng của Karsev và tập thể tuyệt vời của ông. Tôi còn nhớ một lần thế này.
Đâu đó khoảng cuối những năm 60 đầu những năm 70, Karsev gọi đén Kiev cho tôi với đề nghị làm người phản biện luận án tiến sỹ của V.A. Brik, một cộng tác viên của Karsev có tham gia nghiên cứu M-9. Sau khi đọc luận án tôi biết chắc rằng nó hoàn toàn không tầm thường - họ đề nghị những phương pháp hoàn toàn mới để tăng tốc thực hiện hàng loạt phép tính và các lời giải sơ đồ tương ứng đã được thực tiễn kiểm tra. Trong một lĩnh vực khoa học kỹ thuật đã được nghiên cứu rất tỷ mỷ dường như tất cả đã được nghiên cứu và sắp đặt đúng chỗ, tác giả luận án lại dám nói những lời mới mẻ và cực kỳ có trọng lượng. Và người phản biện thứ hai là nhà bác học nổi tiếng đã viết hàng loạt sách về kỹ thuật tính toán là A.A. Papernov cũng có ý kiến như vậy. Chúng tôi đã phát biểu ủng hộ luận án.
Quyết định tiêu cực của hội đồng bác học do viện sỹ V.S. Semenikhin đứng đầu đã gây sốc cho cả hai chúng tôi. Quyết định này là không khách quan. Các thành viên hội đồng có quan hệ không thiện chí với Karsev và họ đã “hành” học trò của ông.]
(còn tiếp)

Thao vietnam 19-07-2008 22:28

(tiếp theo)
Trận cuối cùng
Năm 1978 Karsev đề nghị chuyển sang chế tạo máy tính vector đa quá trình mới dựa trên những kinh nghiệm có được khi nghiên cứu sản xuất và khai thác máy tính M-10 và M-10M và dựa trên những thành tựu mới nhất trông công nghệ và kỹ thuật điện tử. Họ quyết định đặt tên cho máy mới là M-13.
Năm 1979 bắt đầu nghiên cứu thiết kế, họ cũng ấn định những nhà máy sẽ sản xuất máy tính M-13. Trong suốt những năm 1980-1981 họ chuyển tài liệu thiết kế cho các nhà máy này.
M-13 trở thành máy tính thế hệ thứ tư. Nó sử dụng nhiều vi mạch cỡ lớn. Máy tính điện tử vector đa quá trình này trước hết dùng để xử lý những luồng thông tin lớn trong thời gian thực, trong cấu trúc của nó dự định có 4 phần chính: phần xử lý trung tâm, các công cụ hỗ trợ hệ thống vận hành, bộ phận kết nối địa chỉ và phần xử lý đặc biệt.
Phần xử lý trung tâm có:các bộ xử lý số học (4, 8 hoặc 16), bộ nhớ linh hoạt chính, bộ nhớ cố định chính, bộ nhớ linh hoạt bậc hai, bộ kết nối trung tâm, phần điều khiển trung tâm, thiết bị hiệu chỉnh, kênh phức hợp. Các công cụ hỗ trợ hệ thống vận hành có: bộ xử lý điều khiển trung tâm, bảng nhớ ảo ba bậc, công cụ tìm kiếm. Bộ phận kết nối địa chỉ có: bộ phận kết nối điện học tiêu chuẩn, giao diện đã được lập trình, các bộ xử lý kết nối (từ 4 đến 128). Phần xử lý đặc biệt bao gồm bộ kiểm soát điều khiển kỹ thuật (sẽ quản lý bộ nhớ các giả thiết) và các bộ xử lý nhất quán (từ 4 đến 80).
Máy M-13 có cấu trúc theo từng modul cho phép lắp lẫn, cho người sử dụng có được những thông số kỹ thuật cần thiết ở mức độ tối ưu. Như vậy phần xử lý trung tâm có ba cấu hình và có thể có hiệu suất tuỳ theo nó thực hiện 12.106, 24.106 hay 48.106 phép tính một giây. Khi ấy dung lượng bộ nhớ trong, khả năng thông qua của bộ kết nối trung tâm và khả năng thông qua của kênh phức hợp cũng có thay đổi tương ứng. Như vậy dung lượng bộ nhớ trong sẽ là 8,5 17,0 hay 34,0 Mb, khả năng thông qua của bộ kết nối trung tâm sẽ là 800, 1600 hay 3200Mb/s, khả năng thông qua của kênh phức hợp sẽ là 40, 70, hay 100Mb/s.

Bộ kết nối địa chỉ và bộ xử lý đặc biệt có thể ghép nối mềm dẻo hơn.
Phần xử lý đặc biệt dùng để xử lý những khối lớn đối với những thông tin bậc thấp (phép biến đổi Furie, tính hàm tương quan, so sánh các ngưỡng, kiểm tra các giả thiết và v.v…) và có phép nhân hai số phức (biến đổi Furie hai điểm) là phép tính cơ bản. Bộ xử lý số học đặc biệt (phức hợp) sẽ thực hiện phép tính cơ bản này sau một nhịp máy. Phản ứng nhanh tương ứng của đường xử lý phức hợp sẽ nâng cao phản ứng của đường xử lý số học ở dạng so sánh số liệu. Tốc độ tương ứng của bộ xử lý đặc biệt ở máy M-13 có thể đạt đến 2.4.109 phép tính một giây.
Bộ kết nối địa chỉ của máy M-13 chứa hệ thống thao tác, hệ thống lập trình, hệ thống tệp , hệ thống tài liệu hoá, thư viện các chương trình điển hình v.v…
(còn tiếp)

Thao vietnam 19-07-2008 23:32

(tiếp theo)
Tháng 5 năm 1982, kỷ niệm 15 năm thành lập viện, Karsev kết thúc bài phát biểu bằng những lời sau: “ Giờ đây chúng tôi cảm thấy rằng dường như chưa từng làm được một công trình nghiên cứu tốt như vậy (ý nói máy M-13), … rằng chưa bao giờ chúng tôi gặp khó khăn. Nhưng tôi muốn nhắc các vị rằng chúng tôi thực sự đã bị các công trình lôi cuốn mạnh mẽ và gặp phải những khó khăn không thể hình dung được. Và giờ đây tôi giật mình thức giấc hàng đêm vã mồ hôi vì quá trình sản xuất sản phẩm mới của chúng tôi chậm và khó khăn như vậy. Nhưng các vị hãy hiểu rằng, nói chung, đó là chứng mất ngủ của tuổi già. Còn thực ra từ ngày chúng tôi nhận nhiệm vụ chính phủ giao chỉ có hai năm tám tháng. Và tập thể trẻ già chúng tôi không thể làm chậm thêm nữa.
Lúc nào đó bất chợt nhớ lại chuyện này cúng tôi không tin nổi chính mình nữa, nhưng chúng ta cần một chiến thắng, một chiến thắng cho tất cả”.
Câu cuối cùng Karsev lấy từ bài hát mà nhiều người còn nhớ trong phim “Nhà ga Belorus”. Và điều đó không phải là ngẫu nhiên. Cựu trung sỹ xe tăng đã từng chiến đấu ở mặt trận, đã làm việc căng thẳng cả về thể chất và trí lực để lập công (huân chương “Vì lòng dũng cảm” và Huân chương Sao đỏ khi mới 20 tuổi), thời bình ông và tập thể của mình dường như cũng không được thong thả.
Những lời phát biểu cảm động của Karsev trước các cộng tác viên đã trở thành di huấn của ông. Một năm sau – 23 tháng 4 1983, ông đã không còn nữa”.
(còn tiếp)

Thao vietnam 20-07-2008 07:13

(tiếp theo)
Đôi điều nói thêm
Yu.V. Rogachev được bổ nhiệm làm giám đốc Viện và tổng công trình sư máy M-13, dướií thời Karsev ông là kỹ sư trưởng và phó tổng công trình sư thứ nhất. Thực hiện lời di huấn của người sáng lập Viện và thực hiện thành công những công việc do ông khởi xướng là những nhiệm vụ cơ bản của tập thể Viện. Rogachev tích cực tìm kiếm liên hệ các nhà máy đặc biệt để sản xuất máy tính M-13 - đứa con cuối cùng của Karsev. Và công việc này đã có kết quả: năm 1984 máy tính M-13 đã bắt đầu được sản xuất theo lối công nghiệp.
Việc sản xuất và đưa vào khai thác máy tính M-13 kèm theo chương trình đã được tiến hành có kết quả dưới sự lãnh đạo của Rogachev và sự tham gia tích cực của phó tổng công trình sư thứ nhất, phó tiến sỹ khoa học kỹ thuật Miller, phó tổng công trình sư, PTS KHKT Shidlovsky, PTS KHKT Krupsky, PTS KHKT Karasik, Tsibul, những người phụ trách các bộ phận và phòng thí nghiệm , các chuyên gia đầu ngành vè kỹ thuật tính toán và lập trình. Họ cũng tiếp tục chế tạo thành công các tổ hợp tính toán mới dựa trên máy tính M-10M có sử dụng sợi quang.
Chính phủ đánh giá cao những đóng góp của Viện vào sự phát triển của kỹ thuật máy tính nước nhà: năm 1986 Viện nghiên cứu khoa học máy tính được tặng thưởng Huân chương Lao động Cờ đỏ. Nhiều thành viên của Viện được trao tặng những phần thưởng cao quý, trong đó Rogachev được tặng Huân chương Lao động Cờ đỏ.
Trong cuộc đời hoạt động sự nghiệp của mình, Karsev thể hiện tính sáng tạo cao. Tài liệu chuyên khảo của ông về cơ sở lý thuyết thiết bị số học và cơ sở thiết kế cấu trúc máy tính đã trở thành những cuốn sách gối đầu giường của những người làm kỹ thuật máy tính. Những máy tính do Karsev chế tạo có công dụng đặc biệt được dùng trong quân đội Liên Xô ít được biết đến hơn. Chúng thường trực ở các mục tiêu quốc gia từ năm 1967 đến 1981, thời gian hỏng hóc tổng cộng chỉ khoảng 700-1000 giờ.
Từ 76 máy tính M-10 làm việc theo một thuật toán thống nhất người ta đã tạo ra một tổ hợp máy tính lớn nhất nước, làm việc suốt ngày đêm, kết nối các kênh truyền số liệu từ xa hàng chục nghìn km.
Karsev hiểu rằng máy tính do Viện chế tạo không chỉ dùng trong hệ thống phòng thủ cảnh báo tấn công tên lửa mà còn có thể mang lại lợi ích to lớn trong nghiên cứu khoa học khi thực hiện những phép tính toán khoa học kỹ thuật phức tạp nhất thời đó không một máy tính nào trong nước có thể làm được không chỉ vì tốc độ thấp mà còn vì dung lượng bộ nhớ trong quá nhỏ. Mặc dù có sự phản đối của bộ máy hành chính quân sự nhưng ông đã được phép công bố tài liệu về máy tính M-10, điều này đã tích cực tạo mối liên hệ giữa các tổ chức có nhu cầu sử dụng kỹ thuật hiệu suất cao. Theo sáng kiến của ông đã thực hiện trên máy M-10 những phép tính toán khoa học đặc biệt phức tạp: về cơ học môi trường liên tục (nhanh hơn máy EC-1040 40-45 lần), về mô hình plasma (nhanh hơn máy tính БЭСМ-6 từ 20 đến hàng trăm lần)
(còn tiếp)

Thao vietnam 20-07-2008 10:01

(tiếp theo)
Theo đánh giá của Viện toán ứng dụng Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, tốc độ máy tính M-10 ở định dạng 64 bậc vượt trội hơn máy БЭСМ-6 (48 bậc) đến 3,6-4,6 lần, hơn máy EC-1060 3 – 5,6 lần, hơn máy "Эльбрус-1-1" (48 bậc) 2,4 lần. Các nhân viên nghiên cứu của Bruk đã dựa trên các giải pháp kỹ thuật mới đin trước thời đại: tổ chức bộ nhớ theo từng trang, phối hợp các thuật toán với dấu phẩy trôi và dấu phẩy cố định trong máy M-2 (1952-1956), cấu trúc đường trục (“dây chuyền”) trong máy M-4M (1962-1964), tái cấu trúc thước đồng bộ các quá trình, cấu trúc vector, bộ nhớ linh hoạt bậc hai tốc độ cao trong máy M-10.
Trong hệ thống đa quá trình thế hệ thứ tư M-13 lần đầu tiên đã thực hiện sử dụng thiết bị chu trình tuần tự (cho phép các chương trình không phụ thuộc số quá trình trong hệ thống), thiết bị tổ chức bộ nhớ theo từng phần (khả năng nhấy bước của hệ thống file), bộ xử lý ngoại vi điều khiển theo chương trình dùng cho các phép tính dạng biến đổi Furie, Wolss, Adamar, Frenel, tính các hàm đối ứng, các bộ lọc không gian, v.v…. Tốc đọ trung bình của phần trung tâm - đến 50 triệu phép tính một giây (hoặc đến 200 triệu phép tính ngắn một giây), bộ nhớ trong đến 34Mb, tốc đọ trao đổi bên ngoài đến 100Mb/s, tốc độ bộ xử lý ngoại vi đến 2 tỷ phép tính một giây.
M.A. Karsev là tác giả của nhiều công trình lý thuyết căn bản về kỹ thuật máy tính (5 tài liệu chuyên khảo, 55 báo cáo, 16 sáng chế). Những cuốn sách “Thiết bị số học của máy điện tử kỹ thuật số” (xuất bản bằng tiếng Nga năm 1958 sau đó được xuất bản ở nước ngoài), “Số học máy kỹ thuật số” (1969) đã đặt cơ sở lý thuyết cho cácthiết bị số học, các kết luận trong đó đã đi vào sách giáo khoa. Những chuyên khảo cuối cùng của ông “Cấu trúc máy tính kỹ thuật số” và “ Hệ thống tính toán và số học đồng bộ” thực tế đã đặt những cơ sở khoa học đầu tiên để thiết kế cấu trúc chung của máy tính điện tử và các máy làm các phép tính song song.
Karsev là một trong những người có sáng kiến triển khai ở Liên Xô những công trình sử dụng những thành tựu quang điện trong kỹ thuật máy tính. Lần đầu tiên ở Liên Xô, Viên nghiên cứu máy tính đã sử dụng sợi quang cho tổ hợp gồm 6 máy tính M-10.
Thành tích lao động của Karsev được đánh dấu bằng Huân chương Lê nin (1978), Huân chương Lao động Cờ đỏ !971), huân chương “Danh dự” (1966), huy chương “Vì lao động quên mình”. Năm 1967 ông đã được trao Giải thưởng nhà nước Liên Xô. Năm 1993 Viện nghiên cứu khoa học máy tính đã được mang tên người sáng lập ra nó.
Tôi kết thúc câu chuyện về Karsev bằng những lời trong bức thư của con trai ông, Vladimir.
“Những trang ít ỏi mà cháu gửi đến bác này tất nhiên nhỏ bé hơn nhiều so với những đóng góp của cha cháu. Càng nghĩ nhiều về chúng cháu càng khó hiểu : ông đã là người thế nào. Không nghi ngờ gì nữa, công việc là cơ bản đối với ông, cũng không nghi ngờ là ông cũng sẽ đạt được thành tích trong những lĩnh vực khác nếu số phận thay kỹ thuật máy tính bằng một nghề gì khác cho ông.
Cha cháu rất quý tài năng và hiểu biết của con người, cho dù đó là năng lực giải quyết một vấn đề lý thuyết hay lái xe giỏi. Tiếc rằng ông thường xuyên phải giao tiếp với những người không có tài nhưng lại có quyền định đoạt số phận sự nghiệp của ông. Trong trường hợp này ông phần lớn phải chấp nhận. Có một lý do khác trong cách ứng xử của cha cháu. Một lần ông đọc to cho cháu nghe lời đề tựa cho một cuốn sách về học thuyết của các bá tước: “Khi biết một người phụ nữ sẽ đến thăm mình, Jone triển khai nhiều chuẩn bị nhộn nhịp, và mở tiệc đón khi chị này tới. Chị này ngạc nhiên khi thấy đĩa ăn bị đóng đinh xuống bàn. Sau bữa ăn Jone huýt sáo gọi lũ chó, chúng lao đến và liếm sạch đĩa. Jone nói với lũ chó “Ta tập cho các ngươi quen với việc chạy vào bàn ăn không phải đơn giản như vậy nhưng đáng phải làm như vậy, và chị này bỏ đi ngay lập tức”. Đọc xong đoạn này cha nói thêm: “Người lãnh đạo của dự án nào cũng cần sẵn sàng nhúng tay mình vào công việc, việc đó không đơn giản nhưng cần phải như vậy”.
(còn tiếp)

Thao vietnam 20-07-2008 15:36

(tiếp theo )
Xen lẫn với công việc cha cháu cũng giảng bài cho sinh viên các lớp buổi tối. Khi ấy cháu cảm thấy việc đó là tự nhiên và nghĩ khi lớn lên ai cũng sẽ là giáo sư. Một lần cháu hỏi ông khi ông đang chuẩn bị bài giảng. “Và bố đơn giản là kể cho sinh viên hết chương này đến chương khác trong cuốn sách của mình mà thôi”, thật là đơn giản, và cha cũng chẳng ngốc đâu. Cháu hỏi: “Vậy bố sẽ làm gì khi hết tất cả các chương vì cuốn sách chưa được viết xong mà?” thì ông đùa: “Khi ấy năm học kết thúc”. Cháu không còn hỏi gì nữa nhưng bây giờ càng có nhiều điều muốn hỏi hơn. Vậy cha có thể viết sách báo vào lúc nào? Cháu ngờ là ông viết ngay khi đang làm việc.
Ông làm như vậy để làm gì vì đó chỉ là gánh nặng trong sự nghiệp. Nhiều người hoạt động sáng tạo sẽ hiểu được thuật ngữ này, họ dùng ngòi bút để lưu lại những cảm hứng của mình. Ông viêt sách bất cứ lúc nào rảnh rỗi mà không viết nháp, thảo ngay trên máy chữ. Ngay bây giờ không ai hiểu đựơc quá trình nào đã diễn ra trước khi ý nghĩ được đưa ra giấy, ông viết có dễ dàng không. Ông không thích sưu tập tem hay làm nhà nghỉ. Có lẽ điều bí mật chính là ông luôn là chính mình và viết sách là thú vui của ông.
Cha cháu không thích tính nghiệp dư trong bất cứ lĩnh vực nào. Cháu nhớ những lời không hài lòng khi ông lắp một máy thu thanh theo bộ lắp ghép thiếu nhi, trong đó các linh kiện bố trí lộn xộn. Thế nhưng để khắc phục khó khăn thì ông lại kiên nhẫn không giới hạn.
Khi hỏi thi, cha cháu cho phép sinh viên mang theo bất cứ cuốn sách nào. Và tất nhiên cháu tin rằng ông không đòi hỏi họ phải biết những gì ông biết. Nhưng mọi người không coi làm bài thi với ông là dễ dàng. Ông yêu cầu không chỉ nhớ thông tin mà còn phải nhớ cả công cụ. Bao nhiêu người có thể khoác lác về chuyện này?
Trí tuệ của ca cháu ở lại trong các công trình nghiên cứu và sách vở của ông, trong công việc của những người kế tục ông, trí thức chỉ trong trí nhớ của những người biết ông. Phẩm chất cuối cùng làm cho cha cháu trở nên dễ bị tổn thương trong những trường hợp phải thỏa thuận với giới quyền lực về một việc nào đó. Con người mà tất cả chúng ta nhớ đến đó là một con người đầy trí tuệ và hài hước.
Một vài cuốn trong số sách mà cha cháu thích là “Mười hai chiếc ghế”, “Con nai vàng”,… Không chỉ sách khoa học kỹ thuật mà cả sách văn học cũng hấp dẫn ông. Ông đọc sách tiếng Anh khá thao (tài liệu khoa học), có lần ông đã nói tiếng Anh khá khéo léo với hai người Arab gặp trong quán cà phê. Khi cháu học tiếng Đức và học vẹt bài đọc thì có lúc ông đọc to lên trước cả cháu và bất chợt còn chỉ dẫn môn tiếng Đức cho cháu. Nói chung ông chỉ học tiếng Anh nhưng từ lâu đã quan tâm thứ tiếng phổ biến thời đó là tiếng Đức và đọc hết sách giáo khoa tiếng Đức. Và có lẽ như vậy là đủ.
(còn tiếp)


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:47.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.