![]() |
Bác Gà mờ chỉ được cái nói đúng, cần phải ở lại giúp em nó ổn định đất nước đã, rồi có thành lập Liên bang hay không thì còn nghiên cứu!
"Miềng đã thắng Mỹ thì miềng oánh thằng nào cũng được tuốt!" đúng không bác? Hồi đó cứ đi lên đến biên giới rồi về đã được huân chương rồi, chẳng cần oánh nhau đâu các bác ạ. |
Trích:
|
Trích:
Cho dù quân ta đánh có...vài ngày đã thủng qua tận đất Thái lận, nhưng có diệt được mấy thằng đâu. Nó tan như ném đá ao bèo tấm ấy! Nếu về luôn, khi lão Râu tới Tây Ninh, vài giờ sau nó đã theo sát đít, chưa kịp ngồi đã được Pốt "chăm sóc" tiếp đấy! Lão lo ba cái vụ mùa màng cấy hái đi!! |
Trong khi chúng ta ở đây đang nhắc nhở nhau "Hãy sống và nhớ mãi"... thì Nhà xuất bản Văn Học phối hợp với Nhà phát hành Công ty Văn Hóa Phương Nam lại cho ra cuốn "MA CHIẾN HỮU" của Mạc Ngôn, Trần Trung Hỷ dịch. Không còn biết nói gì nữa.
http://www.phuongnamvh.com/data/item...IENHUU_LAR.gif Nội dung ca ngợi "các anh hùng TQ" "hy sinh" chống bọn "bọn xâm lược" VN. --- Khi đọc vài trang cuốn sách này tôi thực sự kinh hoàng. Có lẽ nào nhà xuất bản Văn Học lại cho ra một cuốn sách ca ngơi những kẻ thù đã xâm lược, giết hại đồng bào của mình. Trong cuốn sách có những trang mà quân Trung Quốc chúc nhau giết được nhiều địch để rạng danh quân đội anh hùng. Kẻ địch trong cuốn sách này nói chính là những người lính quân đội nước CHXHCN Việt Nam. Nhưng sự thực thì vẫn là sự thực. Trích từ: http://blog.360.yahoo.com/blog-t0IS290hb67U6oYE5faRfPd8 Còn đây là giới thiệu sách của Phương Nam: http://www.phuongnamvh.com/vie/item_...4&item_id=9598 |
Không thể tưởng tượng nổi sao một nhà xuất bản uy tín như NXB Văn học lại cho dịch và in ra một cuốn sách như vậy!~X(
|
Không biết mấy ông ở NXB này còn chút gì là tinh thần dân tộc không?Dù biết Mạc Ngôn là nhà văn nổi tiếng của TQ,nhưng không có nghĩa là mọi tác phẩm của ông ta đều có giá trị.Không thể coi thứ văn kích động hận thù là có giá trị được.Bác nào làm trong lĩnh vực văn hóa-thông tin hãy lên tiếng phản ánh với NXB đi.
|
8h Tối nay thứ Bảy 28/2 sẽ có truyền hình trực tiếp Chương trình ca nhạc kỷ niệm 50 năm thành lập lực lượng biên phòng (VTV1). Chắc chắn chúng ta sẽ có dịp nghe lại các bài hát về biên cương, các bác nhớ đón xem nhé.
|
Trích:
Cả một đồn biên phòng hơn ba mươi người, chỉ còn sót lại đồn trưởng. Anh sống sót chỉ vì dậy sớm, đi vệ sinh, xong tập thể dục, tua một vòng quanh trụ sở, khi quay trở lại sân đồn thì sờ phải một đống sắt, sờ thấy nóng, dụi mắt nhìn kỹ thì là một chiếc xe tăng với hai chữ Bát Nhất trên tháp pháo. Và không phải chỉ có một chiếc trong sân đồn. Chiều tối hôm ấy, đồn trưởng đã một mình một súng về đến Hà Nội, tìm đến chỗ chúng tôi, và kể lại trong hốt hoảng và nước mắt.... Những người lính biên phòng buổi tối hôm trước cùng vui vẻ ăn cơm, uống chút rượu cho vui với hai thằng sinh viên là chúng tôi từ Hà Nội lên chơi sau Tết - đều đã hy sinh. Có những chuyện của một thời chiến tranh mà không ai muốn kể, bởi vì cùng với mỗi lời kể là những giọt buồn cứ lăn ra trên má, không thể kìm được! |
Hồi cuối năm ngoái, báo Hà Nội mới đăng bài "Thu phục tướng tài" ca ngợi Hứa Thế Hữu - (theo một số bloger) là người chỉ huy trận đánh Việt Nam hôm 17/2/1979, tham khảo ở link sau:
- http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P...7qC3PG4?p=7868 - http://360.yahoo.com/profile-I2fNXX8...rf6kfnQ--?cq=1 Cũng chẳng ai để ý, rồi đến đợt 17/2 vừa rồi cư dân mạng mới..biết. Bây giờ thì link bài báo trên đã bị rút xuống, một người tên là Trần Hữu Dũng đã lưu lại ở đây: http://www.viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm (Các bác chịu khó di chuột xuống bên dưới, phần cuộc xâm lăng 1979 ấy, có điều bản lưu này bé quá, cháu chẳng đọc được gì cả) |
Hải quân Trung Quốc và dự tính "chia đôi Thái Bình Dương"
http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieu...249/index.aspx |
Hứa Thế Hữu
Trích:
http://i45.photobucket.com/albums/f5...NoiMoi_P_1.jpg http://i45.photobucket.com/albums/f5...NoiMoi_P_2.jpg Hứa Thế Hữu – tư lệnh quân khu Quảng Tây, người chỉ huy quân Bát Nhất đánh vào ba tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam tháng 2 năm 1979. Dương Đắc Chí, tư lệnh quân khu Vân Nam, chỉ huy quân Bát Nhất đánh vào ba tỉnh biên giới Tây Bắc Việt Nam. Cái cô Khánh Linh này chỉ đơn thuần dịch một bài trên mạng, chắc từ tiếng Anh của báo Trung Quốc. Xin nói cho rõ rằng loại bài như thế này bây giờ Trung Quốc họ có đầy, chúng được khuyến khích để tăng cường tinh thần dân tộc, Đại Hán. Chưa ai biết được rằng tính xác thực của chúng ra sao, nhưng đọc bản dịch của Khánh Linh thì thấy sặc mùi quân tử Tàu, kiếm hiệp rẻ tiền. Cần phải đặt câu hỏi là liệu cô ta có biết gì về Trung Quốc, về nền văn minh lâu đời ấy, về cái đất nước có lịch sử đẫm máu ấy không? Hay lại giống cái cô Thu Thuỷ Bích Thuỷ hồi năm kia, làm trang web cho bộ văn hoá, phụ trách văn hoá Nga mà chẳng biết gì về Nga cả??? Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc hai lần chiến đấu chống ngoại xâm thì hai lần mất nước: lần thứ nhất mất nước vào tay quân Mông Cổ (lập ra nhà Nguyên), lần thứ hai, vào tay Rợ Kim ở vùng Đông Bắc (Mãn Châu Lý) lập ra nhà Thanh – nhưng cả hai lần hai Rợ này, do yếu kém hơn hẳn về văn hoá đã bị Hán hoá, thành hai triều đại của Trung Quốc. Ngoài ra thì lịch sử Trung Quốc là những cuộc nội chiến đẫm máu. Việt Nam ta tự hào vì có truyền thống chống giặc ngoại xâm, gì thì gì về lịch sử chúng ta oai hùng hơn đứt. Do đó, “ông tướng tài” Hứa Thế Hữu đã quên trong lịch sử, “người đồng tộc” Đề đốc Hứa Thế Hanh trong đội ngũ 20 vạn quân Mãn Thanh đã bị quân Tây Sơn nện cho một trận như thế nào. Trung Quốc cũng đã từng có nhiều tướng tài trong cuộc nội chiến Quốc - Cộng nhưng rồi chính cái ông Mao được ca ngợi trong bài viết trên đây, đã để cho bè lũ bốn tên xử lý. Cũng chính ông ta là người đã sáng tác ra cái chủ nghĩa mang tên mình – Maoist khét tiếng với những vụ Diệt chim sẻ, Đại cách mạng văn hoá… Gần đây, Việt Nam ta rộ lên trào lưu dịch và xuất bản nhiều sách của Trung Quốc, trong đó có nhiều quyển ca ngợi những “thiên tài quân sự” của họ, rồi là những sách rẻ tiền như “Đọc Tam quốc luận bàn kinh doanh", phong thuỷ, bói toán… trên thực tế ngay cả ở Trung Quốc chưa chắc người ta đã đọc. Nhưng ngay cả ở Trung Quốc vẫn còn có rất rất nhiều người, yêu quý Việt Nam, yêu quý Liên Xô, yêu nước Nga, yêu lý tưởng XHCN và lý tưởng Cộng sản cao đẹp, và do đó không phải ai cũng đồng tình với những nhà cầm quyền. Mọi âm mưu chính trị là đen tối, chỉ có tình người là mãi mãi xanh tươi. |
Vâng, hôm nay tôi thấy bài này trên VNN, nói về cuốn sách của Mạc Ngôn. Nhưng theo tôi bài viết này nói vậy vẫn chưa đủ:
http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexe...248/index.aspx Hồi bảo tàng Nga đem sang VN triển lãm một số tư liệu về nước Nga thế kỷ 20 ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam, tôi có nhớ bà trưởng đoàn tham gia triển lãm nói về quan điểm của các nhà làm bảo tàng Nga như sau: chúng tôi chỉ trưng bày các hiện vật chân thực của lịch sử, và cố gắng làm sao để thu thập tư liệu một cách đầy đủ nhất, bởi vì đã phản ánh lịch sử thì không bao giờ nên để có các khoảng trắng (пробел). |
Trích:
|
“SÁCH ĐEN”: VẤN NẠN VÀ GIẢI PHÁP
Nguồn: Website Đảng Cộng Sản Việt Nam Làm gì để không lọt “sách đen”- sách có nội dung xấu ra thị trường? Đây là bài toán khó mà từ lâu các cấp, các ngành đã quan tâm, đầu tư đi tìm lời giải, nhưng hình như mọi nỗ lực đều chưa có hiệu quả khi vài năm gần đây những sách có nội dung xấu, trái với thuần phong mỹ tục, xuyên tạc lịch sử… lại ồ ạt “xuất xưởng”, công khai chiếm lĩnh thị trường. “sách đen”- “nạn dịch” huỷ hoại tâm hồn và tác động xấu tới nhận thức của người dân Khoa học công nghệ càng phát triển, người dân được tiếp cận với nhiều loại hình giải trí, người ta lại càng lo ngại về sự mai một của văn hoá đọc. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là chất lượng tác phẩm. Đã lâu người ta chưa thấy những tác phẩm xuất hiện gây “địa chấn” đối với người đọc và tạo ra “cơn sốt” trên thị trường. Ngược lại, người ta lại thấy xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm gây tranh cãi, đặc biệt là những tác phẩm có nội dung kích động bạo lực, gợi dục, bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử… Sự phát triển ồ ạt những tác phẩm này giống như một “nạn dịch” đang huỷ hoại tâm hồn và làm lệch lạc nhận thức của con người. Nghiêm trọng hơn, chúng đang xuất hiện ngày càng nhiều và công khai trên mạng Internet, trên các trang thông tin cá nhân bolg mà chỉ cần vài giây nhấn chuột là cùng lúc triệu triệu độc giả trên thế giới có thể tiếp cận. Chỉ tính riêng năm 2008, Cục xuất bản đã quyết định đình chỉ, thu hồi và xử phạt hàng loạt tác phẩm, ấn phẩm và truyện tranh như: “Thời của Thánh thần”, “Rồng Đá”, “Video Girl - Chuyện phim em gái” 3 tập, “Change 123 - Tam nữ hiệp”, “Chàng trai trong truyện tranh”, “Ichigo - kỷ niệm xanh”, “Hội học sinh”, “Girl Comics - lần đầu trải nghiệm”, “Crazy kiss”, “Good kiss - Nụ hôn đầu”, “Lilim kiss”, “Mặt trời bé con” …Ngoài ra, còn nhiều sách dịch, sách đăng tải trên mạng, bolg vì chưa đủ hành lang pháp lý nên các cơ quan chưa thể “tuýt còi”. Còn nhớ những năm trước đây, để một ấn phẩm hay một cuốn sách được xuất bản đến với bạn đọc phải công phu lắm, qua bao nhiêu khâu kiểm duyệt, thẩm định. Vì thế, mỗi năm các đầu sách mới ra đời không nhiều chỉ khoảng vài trăm, vài ngàn là cùng và hiếm lắm mới có trường hợp cấp phép xuất bản rồi lại thu hồi. Nhưng những năm gần đây chuyện đó đã trở nên hết sức bình thường. Có một nghịch lý là người ta kêu ca nhiều về sự xuống cấp trầm trọng của văn hóa đọc, vậy mà hàng năm các đầu sách xuất bản vẫn tăng, lên tới hàng chục ngàn cuốn, trong đó những cuốn thật sự có giá trị “gối đầu giường” không nhiều. Ngược lại những cuốn gây chú ý, trở thành “hiện tượng” trong làng xuất bản lại chủ yếu là “sách đen”- độc hại, đi ngược với tiêu chí bồi dưỡng tâm hồn và hướng con người tới các giá trị chân- thiện- mỹ. Hơn một năm trước đây khi tác phẩm “Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu xuất hiện đã khiến không ít người phải “sốc” vì thứ văn chương dung tục, ma mị truyền tải quan điểm về quá khứ rất không bình thường. Vậy mà một thời “Bóng đè” đã trở thành hiện tượng, gây xôn xao làng văn, khiến giới phê bình tốn không ít giấy mực và công sức. Kẻ khen, người chê nhưng cuối cùng thứ văn chương ngược với thuần phong mỹ tục của dân tộc cũng không thể tồn tại như một món ăn tinh thần thường xuyên của mọi người. “Bóng đè”- Đỗ Hoàng Diệu, cũng giống như “Thời của thánh thần”- Hoàng Minh Tường, “Đỉnh cao chói lọi”- Dương Thu Hương, “Rồng đá” - Ngọc Tiến- Ngọc Mai …không thể tồn tại trong một xã hội phát triển, giàu tính nhân văn, nhân bản. Bên cạnh những tác phẩm văn học mang tính định hướng lớn lao, xuất bản năm 2008 đã để lọt nhiều “sạn” nhất là mảng truyện tranh dành cho thiếu nhi. Vào những tháng giữa năm 2008, nhiều bậc phụ huynh, nhiều đơn vị tổ chức xã hội đã mất ăn mất ngủ vì lo bảo vệ con em mình tránh khỏi những “cơn gió độc”. Vì lợi nhuận, chạy đua theo nhu cầu thị hiếu, bất chấp những quy định, một số nhà xuất bản cùng với các cơ sở in, đối tác liên kết tung ra thị trường những truyện tranh chứa nhiều yếu tố gợi dục, phản cảm, đầu độc tâm hồn trong trẻo và những suy nghĩ ngây thơ, trong sáng của các em. Thử nghĩ xem sẽ ra sao khi các em thiếu nhi, học sinh lại suốt ngày luẩn quẩn trong đầu những câu chuyện sex ? Những bài học khô cứng về đạo đức, luân lý, khoa học… làm sao có thể ăn sâu, bám rễ vào đầu các em khi mà càng ngày các truyện tranh không lành mạnh được nguỵ trang bằng những hình ảnh và lời giới thiệu hấp dẫn chiếm phần lớn các gian hàng sách, tấn công tâm hồn vốn hiếu kỳ của các em? “Sách đen”, truyện tranh sex, nếu không ngăn chặn sớm sẽ giống như một loại virút lây lan, huỷ hoại cả thế hệ tương lai của đất nước. Nhưng… vẫn chưa có “thuốc đặc trị” Chưa có năm nào “sách đen” lại rầm rộ “xuất xưởng” nhiều như năm nay và cũng chưa năm nào các cơ quan quản lý lại ráo riết vào cuộc truy quét “sách đen” mạnh mẽ và quyết liệt như năm 2008. Dù sức người có hạn, nhưng năm qua, Cục Xuất bản cũng đã phối hợp với các cơ quan liên ngành bổ sung, soạn thảo nhằm hoàn thiện luật xuất bản, ra quy chế quản lý bolg, tiến hành tổng kiểm tra, rà soát tất cả các nhà xuất bản trong cả nước….Bằng những việc làm thiết thực này đã phần nào thắt chặt hơn đầu ra các loại sách và cũng đã phát hiện, xử lý nhiều vi phạm nhưng hình như mọi chế tài vẫn chưa đủ sức răn đe, bởi đã có hiện tượng một nhà xuất bản tái phạm đi tái phạm lại việc xuất bản những ấn phẩm gây hại mà chỉ bị đình chỉ có 3 tháng. “Sách đen” được ví như những cơn gió độc nguy hại tới cuộc sống lành mạnh của con người. Vậy mà mặc dù đã phát hiện và có quyết định thu hồi, cấm lưu hành nhưng dạo quanh một số cửa hàng sách trên địa bàn Hà Nội vẫn thấy tràn lan những sách này, đặc biệt là ở các cửa hàng sách lậu. Khi được hỏi, nhiều chủ hàng đã chẳng ngần ngại trả lời “nhiều người mua thì chúng tôi bán”. Có cung thì mới có cầu, nhiều độc giả vì trình độ có hạn nhưng cũng có người vì hiếu kỳ muốn coi thử “sách đen” vô tình đã tiếp tay và kích thích bọn in lậu sản xuất. Nhưng nguyên nhân cơ bản để sách đen vẫn còn trôi nổi trên thị trường chính là sự hời hợt trong công tác kiểm duyệt, sự lỏng lẻo, thiếu sát sao trong công tác quản lý. Để tìm lời giải cho bài toán này, phóng viên cũng đã tìm hỏi đại diện nhiều đơn vị, nhà quản lý nhưng hầu hết họ đều trả lời qua quýt: Để ngăn chặn sách lậu, sách đen trôi nổi trên thị trường chúng tôi đã thường xuyên đi kiếm tra, thu hồi, xử phạt và cấm hoạt động ở các cửa hàng sách lậu nhưng nay cấm mai họ lại bán, lại in chúng tôi biết làm sao? Thử hỏi những nhà quản lý còn lúng túng như vậy thì những “tín đồ” của “sách đen” còn biết làm sao để tự giải thoát mình? Trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Cục trưởng Nguyễn Kiểm cũng đã khẳng định: Nguyên nhân để lọt “sách đen” hầu hết là do đối tác liên kết không in theo bản thảo đã biên tập, còn công tác lưu chiểu thì quá tải trầm trọng. Theo quy định, các nhà xuất bản trước khi phát hành các ấn phẩm ra thị trường đều nộp lưu chiểu về Cục Xuất bản, và chỉ tính riêng mảng truyện tranh, mỗi ngày Cục phải nhận không dưới 50 bộ trong khi đó nhân viên biên chế đọc lưu chiểu truyện tranh chỉ có vỏn vẹn 1 người. Thiết nghĩ, những bất cập trong ngành xuất bản không thể đổ lỗi hay quy hết trách nhiệm cho đối tác liên kết mà cần xem xét lại trách nhiệm quản lý của các nhà xuất bản, các cơ quan chức năng. Để cuộc chiến chống vấn nạn sách đen thu được kết quả tốt, trước hết chúng ta phải có hành lang pháp lý, chế tài xử phạt nghiêm minh; đồng thời có biện pháp tăng cường quản lý, lập lại trật tự trong hoạt động xuất bản theo đúng quy định hiện hành. Cần nhất là sự phối kết hợp đồng bộ và chặt chẽ của các cơ quan, ban ngành chức năng, cũng như sự quan tâm thống nhất về nhận thức và hành động, quyết tâm bài trừ “sách đen” của cả cộng đồng, xã hội. Kim Thoa |
Trích:
Ma chiến hữu - bản tụng ca hay khúc tưởng niệm? 02/03/2009 09:46 (GMT + 7) (TuanVietNam) -"Một cách nghĩ khác về chiến tranh. Một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng. Cuộc đối thoại giữa hai cõi âm dương, sự vướng lụy giữa con người và ma quỷ". Đó là lời giới thiệu nằm ở bìa 4 tiểu thuyết Ma chiến hữu của nhà văn Mạc Ngôn, tác phẩm kể về số phận những người lính Trung Quốc sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Cuốn sách này nằm trong bộ sách 7 cuốn của nhà văn Trung Quốc nổi tiếng Mạc Ngôn do dịch giả Trần Trung Hỷ chuyển ngữ. Mạc Ngôn hẳn là một cái tên không còn xa lạ với độc giả Việt Nam. Các tiểu thuyết nổi tiếng của ông như Báu vật của đời, Đàn hương hình… từng gây xôn xao trên văn đàn Việt Nam, và nằm trong những cuốn sách bán chạy nhất trên thị trường. Chúng cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới cách viết và đề tài viết của các nhà văn Việt Nam. Không có độ dày đồ sộ như Báu vật của đời và Đàn hương hình, Ma chiến hữu là một cuốn sách mỏng, chưa đầy 200 trang. Tiểu thuyết Ma chiến hữu (dịch từ tên tiếng Trung “Chiến hữu trùng phùng”, Nhà xuất bản Dân tộc xuất bản năm 2004) kể về số phận những người lính Trung Quốc sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Mở đầu tiểu thuyết là cuộc hội ngộ giữa hai cựu chiến binh Quân Giải phóng Trung Quốc nhiều năm sau chiến tranh: Triệu Kim - cũng là nhân vật kể chuyện, giữ chức Tiểu đội phó trong chiến tranh và nay là sĩ quan Quân Giải phóng, và Tiền Anh Hào - thượng sĩ trong chiến tranh, nay là một hồn ma. Triệu Kim và Tiền Anh Hào là hai người bạn thân từ thuở nhỏ, cùng lớn lên ở một làng quê nghèo tại một tỉnh miền nam Trung Quốc, từng cùng nhập ngũ và ở chung đơn vị, từng cùng mê say một cô gái, nhưng lúc này, họ thuộc hai thế giới vừa cách biệt lại vừa hòa quyện vào nhau. Cuốn tiểu thuyết phảng phất chất u linh như trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh: Các nhân vật người và ma gặp gỡ nhau trên cành cây, cùng uống rượu, câu cá, tán chuyện với nhau, hồi tưởng lại các kỷ niệm hồi nhỏ, và nhất là các kỷ niệm trong quân ngũ. Thân phận người lính Quân Giải phóng Trung Quốc đi qua chiến tranh được Mạc Ngôn mô tả bi thảm, ngậm ngùi. Đó là người lính “đại anh hùng” Tiền Anh Hào sau khi thành ma: “Bộ quân phục của anh ta đã mục nát, tôi vừa chộp tay vào là nó đã rách toác trông như một loại giấy bồi bị thấm nước… Gương mặt đầy mụn sần sùi màu đỏ bầm đã kề sát mặt tôi: té ra là người cùng làng, là đồng đội của tôi, là Tiền Anh Hào, người đã hy sinh vào tháng hai năm một ngàn chin trăm bảy mươi chín trong một trận phản kích”. Đó là Quách Kim Khố, cựu chiến binh, trở về quê cùng quẫn, cay đắng, chỉ biết đánh vợ, chửi bới, uống rượu và đập phá. Đó là Triệu Kim, cô độc sau chiến tranh, bạn bè thì kẻ chết, người như hóa dại. “Chẳng cần người chết phải bận tâm” Sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh này (từ phía Trung Quốc) được Mạc Ngôn mô tả rất tài tình. Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết là Tiền Anh Hào, người làm gì cũng dễ dàng, từ ném lựu đạn, đánh giáp lá cà cho tới “cưa gái”. Tiền Anh Hào được bạn bè dự đoán sẽ nổi bật trong chiến tranh, sẽ thành tư lệnh trong tương lai, sẽ lập nên sự nghiệp hiển hách, hùng tráng… Nhưng kết cục của vị tráng sĩ này lại hết sức lãng xẹt. Anh ta tử trận trong trận đánh đầu tiên của mình, khi chưa lập được “chiến công” nào cho Giải phóng quân Trung Quốc. Nguyên nhân chỉ tại cái mông nhô lên quá cao của viên Tiểu đội trưởng nhát gan khiến cả tiểu đội lính Trung Quốc trở thành mồi cho pháo kích của đối phương. Ở đây như thể có một tiếng cười mỉa mai của tác giả, hay một lời than tiếc cho một cuộc chiến tranh “đầu voi đuôi chuột”, danh bất xứng nên ngôn cũng bất thuận. Cái nhìn phê phán của Mạc Ngôn với cuộc chiến tranh tháng Hai năm 1979 còn được thể hiện qua tâm trạng đau xót của một ngàn hai trăm linh bảy hồn ma lính Trung Quốc tử trận. Đó là nỗi đau về thể xác, như lời bài thơ của một thi sĩ - tử sĩ trong quân đội Trung Quốc: “Ai da! Đau quá! Đau quá, mẹ ơi! Đau quá, Thân hình con đã bị đạn xuyên qua. Viên đạn xuyên qua đập vào thân cây con đang tựa, Nó cũng bị thương rồi kêu lên thê thảm: Mẹ ơi!” Nhưng còn nữa là nỗi đau tinh thần, là tâm trạng bàng hoàng, cay đắng của hàng ngàn hồn ma quân sĩ từng hăm hở xông trận khi nhận ra họ chết vô nghĩa. Dẫu cho những lời huấn thị của viên chính trị viên sư đoàn có hăm hở thế nào cũng không làm khuây khỏa được tâm sự của họ. Thêm một chi tiết đáng chú ý: Khi những người lính này chết trận, họ vẫn sinh hoạt quân ngũ như khi còn sống, và vẫn được chính trị viên chỉ đạo tư tưởng: “Không hiểu cũng chẳng sao, chuyện quốc gia đại sự không cần dân đen lo lắng, cũng chẳng cần người chết phải bận tâm”. Có thật là “chủ nghĩa anh hùng”? Trên lời quảng cáo ở bìa 4 bản dịch tiếng Việt của cuốn sách có nhắc tới “chủ nghĩa anh hùng”. Tôi không rõ đó là lời đề tựa của tác giả, của dịch giả, của nhà xuất bản phía Trung Quốc, hay nhà xuất bản Việt Nam. Cũng không rõ dụng ý của Nhà Xuất bản Văn học và Công ty Văn hóa Phương Nam là gì khi giới thiệu cho bạn đọc về “chủ nghĩa anh hùng” của những người lính nước ngoài từng tham chiến ở Việt Nam. Dù sao đi nữa, tôi cũng không tìm thấy lời ca ngợi chủ nghĩa anh hùng trong Ma chiến hữu, chỉ tìm thấy trong đó tâm trạng rã rời, xót xa của những người lính Trung Quốc. Điều Mạc Ngôn muốn nói hẳn không phải là chủ nghĩa anh hùng mà là tình đồng đội của những người lính cùng đi qua chiến tranh, ngay cả khi cuộc chiến đó bị lột trần, trở nên vô nghĩa trong mắt họ. Có thể nói, Ma chiến hữu là “cố gắng” hiếm thấy của Nhà xuất bản Văn học khi giới thiệu cho độc giả Việt Nam tác phẩm của một nhà văn Trung Quốc nổi tiếng viết về chiến tranh biên giới 1979. Từ đó, độc giả có thể biết thêm cách nhìn của người Trung Quốc, nước láng giềng gần gũi với Việt Nam trong hơn 1000 năm qua. Cuốn sách cũng như một lời gợi nhớ tới những sự kiện tháng Hai năm 1979, những sự kiện mà người Việt Nam chúng ta không bao giờ được lãng quên, khi có nhiều chiến sĩ và đồng bào đã nằm lại nơi biên cương Tổ quốc vì bom đạn chiến tranh. Chỉ tiếc rằng lời gợi nhớ ấy lại đến từ một tác phẩm của nước bạn, và cho đến nay, vì nhiều lý do, người đọc Việt Nam khó lòng tìm thấy trong rừng sách xuất bản hàng năm những cuốn sách của các tác giả Việt Nam viết về cuộc chiến tranh này. Trong khi ở Trung Quốc, các nhà văn như Mạc Ngôn có thể viết về chiến tranh 1979, các cựu chiến binh có thể viết hồi ức về nó thì ở nước ta, hình như nó lại là một đề tài “nhạy cảm” nên tránh? Gần đây, tập truyện ngắn Rồng đá của hai nhà văn Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành bị thu hồi vì một số truyện bị coi là “có vấn đề”, trong đó có truyện ngắn Chú Mìn Phủ và tôi lấy bối cảnh chiến tranh biên giới 1979. Trong khi đó, tiểu thuyết Ma chiến hữu đề cập tới cùng cuộc chiến tranh đó của một tác giả Trung Quốc lại được phát hành. Ở khía cạnh nào đó, việc không in Chú Mìn Phủ và tôi cũng có những lý do nhất định: Truyện khai thác sự ghê rợn và tàn bạo trong chiến tranh với những tình huống giật gân. Thế nhưng sự có mặt của Ma chiến hữu và sự vắng mặt của Rồng đá, hay những tiểu thuyết, hồi ký khác của Việt Nam về chiến tranh biên giới, trên các kệ sách cũng cho thấy sự bất hợp lý trong công tác xuất bản tại Việt Nam. Nên chăng có một sự đánh giá cởi mở và khách quan hơn cho các nhà văn của chúng ta? Như lời nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã nói trong một bài trả lời phỏng vấn: “Sự thực phải được nói ra. Mình chỉ nói sự thực thôi. Sự thực không được nói là cắt xén lịch sử. Như vậy sẽ nguy hiểm, bất lợi cho thế hệ mai sau”. Đừng trách nếu các thế hệ tương lai của Việt Nam thờ ơ với lịch sử dân tộc, biết về Càn Long nhiều hơn về Quang Trung, về Đặng Tiểu Bình nhiều hơn về các nhà lãnh đạo xuất sắc của Việt Nam trong thế kỷ 20. Có gì lạ đâu khi họ biết về “tài đức” của Càn Long qua các bộ phim truyền hình được “nhập khẩu” rộng rãi, chứ không biết rằng vị vua nhà Thanh này từng gửi hơn 20 vạn quân đưa Lê Chiêu Thống về nước năm 1789. Có gì lạ đâu khi những cuốn sách ca ngợi “nhà cải cách vĩ đại Đặng Tiểu Bình” được bày bán rộng rãi nhưng các phê phán về chuyện “đối nội, đối ngoại” của nhân vật lịch sử này lại hầu như vắng bóng. Vũ Hoàng Linh |
Bác TLV nhanh tay thật,giờ mới có cái mà đọc!
Báo nào có bài về ngày 17/2 , lách không khéo, cũng phải tự xử vậy thôi . Máu xương của những người lính trong chiến tranh BG Tây Nam cũng 30 năm sau, mới được tôn vinh, chân lý đang lộ sáng. Từ điều này có liên đới điều kia. Mong cho những nghĩa trang trên BG phía Bắc bớt sự lạnh lùng..... Còn một vùng đất nữa, có nhiều nhà văn, nhà báo viết trên đó : Vnweblogs, hay blog osin....vẫn có thể giúp ta xả xì trét được các bác ạ! |
Trích:
Xét xử trùm đao phủ Khmer Đỏ: Nhân chứng Việt Nam tố cáo http://www.phapluattp.vn/tools/print...thumuc=quoc-te Xét xử trùm đao phủ Khmer Đỏ: Nhân chứng Việt Nam tố cáo 20-02-2009 23:44:58 GMT +7QUỲNH TRANG Nhà báo Đinh Phong, nhân chứng sống Norng Chan Phal và hai con, nhà quay phim Hồ Văn Tây (từ trái sang) trở lại nhà tù Tuol Sleng. (Ảnh do nhân vật cung cấp)Nhiều phóng viên phương Tây yêu cầu chúng tôi khẳng định. Những thước phim sống. Vô tình cứu được nhân chứng. Trong hai ngày 17 và 18-2, Tòa án đặc biệt xét xử Khmer Đỏ đã mở phiên tòa đầu tiên tại Phnom Penh (Campuchia). Bị cáo Kaing Guek Eav (bí danh Duch) nguyên giám đốc trại giam Tuol Sleng, trung tâm giam giữ và tra tấn của chế độ Khmer Đỏ ra trước tòa. Trước ngày diễn ra phiên tòa, Trung tâm Tư liệu Campuchia phối hợp cùng Câu lạc bộ Nhà báo Campuchia đã tổ chức họp báo tại Phnom Penh. Ngoài anh Norng Chan Phal người Campuchia là nạn nhân chế độ Pol Pot, hai nhân chứng còn lại của buổi họp báo là nhà báo Đinh Phong và nhà quay phim Hồ Văn Tây. Báo Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc phỏng vấn độc quyền nhà báo Đinh Phong ngay sau khi ông vừa từ Campuchia trở về. Vô tình cứu được nhân chứng . Thưa ông, tại sao Trung tâm Tư liệu Campuchia lại chọn ông và nhà quay phim Hồ Văn Tây làm nhân chứng trong buổi họp báo? + 30 năm nay, Trung tâm Tư liệu làm nhiệm vụ sưu tầm hình ảnh, tư liệu về tội ác của chế độ Pol Pot. Họ sang Việt Nam sưu tầm tư liệu nhân vụ xử Duch và họ cần chúng tôi cung cấp thêm chứng cứ và làm chứng về nội dung chúng tôi quay được trong bộ phim tài liệu Nhà tù Tuol Sleng. Phía trung tâm mời chúng tôi đến với hai mục đích. Thứ nhất, củng cố thêm nhận thức của Norng Chan Phal để anh này làm nhân chứng, bởi Phal chỉ nhớ mang máng ngày và địa điểm chứ không nhớ đã được chúng tôi tìm thấy, thả ra và cứu trong hoàn cảnh nào. Thứ hai, họp báo nhằm yêu cầu chúng tôi xác định những thước phim công bố ở tòa là xác thực. . Tại buổi họp báo, ông đã nói gì trước hơn 100 phóng viên từ khắp thế giới về sự việc diễn ra tại nhà tù Tuol Sleng? + Nhiều phóng viên hỏi chúng tôi về nội dung đoạn phim tài liệu, chúng tôi đã kể lại cho họ... Lúc đó, các anh bộ đội Việt Nam nói với chúng tôi trong nhà trường (nhà tù Tuol Sleng nguyên là trường trung học) có mùi hôi bốc ra. Chúng tôi đi vào và nghe tiếng trẻ khóc. Chúng tôi thấy có năm đứa trẻ, trong đó một em đã chết, hai em nằm lả, chỉ còn hai em khoảng tám, chín tuổi ngồi khóc. Sau đó, người trong đoàn đưa các em đi bệnh viện. Đoàn tiếp tục theo hướng có mùi bốc lên. Càng vào sâu chúng tôi mới biết đây là trại tù. Rất nhiều xác bị giết bốc mùi hôi thối và nổi dòi bọ. Vào sâu hơn lại thấy khu này phân ra nhiều phòng, mỗi phòng có một giường dùng để xích tay chân. Các nạn nhân bị đập đầu chết trong tư thế bị xiềng xích. Dụng cụ dùng để đập đầu là búa, cuốc... Sâu hơn bên trong là nhà xưởng làm tượng bằng thạch cao và đồng với hình ảnh Pol Pot. Bên cạnh đó có rất nhiều máy ảnh chụp các tư thế giết người cũng như từng phần cơ thể người trước và sau khi chết. Các phòng giam được ngăn cách bằng tường rào kẽm gai, lưới B40. Bên ngoài nhà tù cỏ mọc xanh um. Sau này chúng tôi mới biết bên dưới là hố chôn người tập thể. Đoạn phim là sự thật . Vậy từ lúc cứu bốn em nhỏ trong nhà tù đến giờ ông có lần nào gặp lại những người đó chưa? + Từ nhiều năm nay chúng tôi có nhờ bạn bè ở Campuchia lẫn Trung tâm Tư liệu tìm kiếm giúp nhưng bặt vô âm tín. Ngày 4-2 vừa rồi, trung tâm tiếp nhận một thanh niên đến xin làm nhân chứng tố cáo tội ác Pol Pot trong phiên tòa xét xử Duch. Trung tâm hỏi ra mới biết đó là một trong bốn đứa bé ngày xưa chúng tôi cứu. Giờ chúng tôi mới biết trong bốn đứa bé còn sống sót thì có hai cháu là anh em. Norng Chan Phal còn một em trai nữa. . Ông và nhà quay phim Hồ Văn Tây gặp lại anh Norng Chan Phal ngay trong buổi họp báo? + Không, chúng tôi vừa đến Phnom Penh thì đã thấy một thanh niên 38 tuổi đứng chờ. Khi được nghe giới thiệu đây là những người đã cứu mình, Phal khóc và đề nghị chúng tôi đưa đến Tuol Sleng ngay. Chúng tôi đến Tuol Sleng để chỉ cho anh thấy nơi đã tìm ra anh. . Ông có gặp khó khăn gì với các phóng viên trong buổi họp báo? + Buổi họp báo kéo dài hai giờ. Trong buổi họp, chúng tôi công bố nhiều tư liệu khác chúng tôi chứng kiến về tội ác Pol Pot: Đám cưới tập thể, hành hạ khi đi làm, cắt cổ mổ bụng... Nhiều phóng viên phương Tây yêu cầu chúng tôi khẳng định phim công bố ở tòa do chúng tôi làm. Thậm chí có phóng viên hỏi tôi có dám ra làm nhân chứng trước tòa không. Tôi trả lời nhân chứng là người phải trực tiếp thấy sự kiện, tôi chỉ là người ghi lại lời kể thì làm sao làm nhân chứng. Những thước phim và những người trong phim chúng tôi quay được sẽ thay mặt chúng tôi làm nhân chứng. . Thưa ông, luật sư biện hộ cho Duch đã bác đề nghị của bên công tố trong việc sử dụng thước phim tư liệu của đoàn quay. Họ cho rằng đây là bộ phim được dựng lại... + Trong họp báo cũng có phóng viên nói theo hướng như luật sư của Duch. Tôi đã trả lời họ rằng khoa học có thể xác thực xấp phim số hiệu bao nhiêu, hãng nào sản xuất năm nào, thuốc in tráng phim gì... Đó là những thước phim chúng tôi mua từ năm 1978, nếu các anh có thiện chí, các anh có thể giám định. Chúng tôi cũng đã kể lại hoàn cảnh vào Tuol Sleng, quay trong hoàn cảnh nào, gặp các cháu nhỏ ở đâu, mắt thấy tai nghe gì ở nhà tù này. Thời gian xử quá lâu . Chi tiết nào tại phiên tòa ông tâm đắc? + Tại phiên tòa, phía luật sư của Duch bác bỏ không cho Phal làm nhân chứng. Luật sư của Phal đưa ra hai lý do: Thứ nhất, tư liệu Việt Nam đã công bố 30 năm nay và đã có hai nhân chứng (tôi và anh Hồ Văn Tây) khẳng định là thật chứ không phải tạo dựng. Thứ hai, phải chiếu cố và xem Phal là nhân chứng hợp lý để bác bỏ luận điệu cho rằng đăng ký làm nhân chứng khi đã hết thời hạn (thời hạn đăng ký là ngày 2-2, đến ngày 4-2 Phal mới biết thông tin và đến đăng ký) bởi Phal chỉ là người lái xe ủi đất nên không nắm rõ thông tin. Sau đó, Phal đã khóc giữa tòa và nói mọi người rằng tòa phải làm rõ, đền bù cho những người bị Pol Pot hãm hại. . Nếu phiên xử tiếp theo đòi ông làm nhân chứng, ông sẽ tiếp tục? + Sau hai ngày xử vẫn chưa kết luận được tội ác của Duch. Tôi không thể ra trước mặt Duch đối chất vì tôi không thấy việc họ làm, chỉ là phim tư liệu quay được vào tháng 1-1979. Nhưng tôi có thể khẳng định không phải tư liệu giả. Nhiều nhà báo quốc tế quay được Tuol Sleng nhưng không phải là người đầu tiên như chúng tôi. Vì vậy, có thể khẳng định đây không phải tài liệu mới dựng lên. Chúng tôi sẵn sàng phối hợp cùng Trung tâm Tư liệu Campuchia để cung cấp thêm nhiều tư liệu vạch mặt bọn Pol Pot. Những người dân có mặt tại phiên tòa cũng khá bất bình. Thời gian xử quá lâu, đã 30 năm nay nhưng tòa xử vẫn chậm. Nếu cứ kéo dài vậy thì e rằng những tên này chết mất... Tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ngày 19-2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng cho biết: Việt Nam hoan nghênh Tòa án xét xử tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ. Việt Nam lên án những tội ác tàn bạo của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và cho rằng những kẻ chịu trách nhiệm và gây ra tội ác này phải bị trừng trị nghiêm khắc. Những thước phim sống Tháng 1-1979, đoàn làm phim tài liệu của Đài truyền hình TP.HCM sang Campuchia quay tài liệu về giải phóng Campuchia. Đoàn gồm trưởng đoàn - đạo diễn, cố NSND Phạm Khắc, phó đoàn - nhà báo Đinh Phong và các nhà quay phim Hồ Văn Tây, Lê Trí, Đồng Anh Quốc, Lê Hồng Tuyết. Phần lớn hành trình đoàn tự đi, không có người dẫn đường. Các anh trang bị AK, súng ngắn, lựu đạn đi từ biên giới Việt Nam, qua phà Niếc Lương vào thẳng Phnom Penh. Không chỉ thực hiện phim tư liệu về nhà tù Tuol Sleng, đoàn còn làm rất nhiều phim về chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, quay các hố chôn người tập thể Pray Veng, Siem Riep, Kong Pong Cham... Nhà quay phim Hồ Văn Tây cho biết thời điểm năm 1979, đoàn cứ đi quay liên tục trên đất Campuchia. Cứ xong đoạn phim nào lại gửi về đài làm hậu kỳ và phát sóng. Sau phiên tòa ngày 18-2, Trung tâm Tư liệu Campuchia đề nghị đoàn cung cấp thêm hồ sơ để bổ sung tiếp cho các phiên xử tới." Vâng, ngay việc chứng minh những thước phim tư liệu các nhà quay phim VN quay được vào năm 79 ở nhà tù Tuol Sleng của Khơ-me Đỏ là thật cũng gặp không ít khó khăn... |
BBC: Sách về bộ đội Trung Quốc 1979 bị phản đối
Sách về bộ đội Trung Quốc 1979 bị phản đối
Nhạc sĩ Tuấn Khanh từ TP HCM gửi thư ngỏ cho các nhà làm sách Việt Nam phản đối việc phát hành cuốn ‘Ma Chiến Hữu’ ca ngợi bộ đội Trung Quốc trong trận chiến 1979. Dù ra mắt đã lâu, tác phẩm của nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn đã gây ra tranh luận dữ dội trên nhiều trang không chính thức ở Việt Nam trong thời điểm kỷ niệm 30 năm cuộc chiến 1979. Cách nhìn nhận cuộc Xung đột Biên giới mở màn từ cuộc tấn công 17/02 và kết thúc ngày 5/03/1979 vẫn còn khác biệt ở hai nước. Được biết tác phẩm của Mạc Ngôn nằm trong dòng sách ‘Vệ quốc’ của Trung Quốc. Nhạc sĩ Tuấn Khanh trong thư ngỏ viết rằng: “Mạc Ngôn có quyền ca ngợi dân tộc mình, có quyền phủ nhận chủ quyền của các quốc gia khác. Đó là sứ mệnh của một nhà văn quốc tịch Trung Quốc,” “Nhưng chắc chắn, một người Việt Nam phải có chủ kiến của mình và biết phân định lẽ phải theo lịch sử và lòng kiêu hãnh của dân tộc mình.” Qua cuốn sách này chúng ta thấy có một sự dàn xếp để thấy được đây là cuộc chiến chính nghĩa của người Trung Quốc Ttrả lời BBC hôm 2/03/09, ông Tuấn Khanh đồng ý rằng sau nhiều năm kể từ biến cố 1979 người Việt Nam cần nói chuyện hòa bình với Trung Quốc nhưng “hòa bình không có nghĩa là mọi thứ được dàn xếp”. “Qua cuốn sách này chúng ta thấy có một sự dàn xếp để thấy được đây là cuộc chiến chính nghĩa của người Trung Quốc.” Ông tin rằng từ nhiều tháng qua, tại Việt Nam như có việc bố trí, dàn xếp để đưa ra các tác phẩm văn và báo ca ngợi Trung Quốc, kể cả tướng Hứa Thế Hữu, người cầm quân tấn công Việt Nam năm 1979. Việc ca tụng quá mức cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình trên truyền thông Việt Nam cũng gây ra ít nhiều phản cảm trong một số giới. Thiếu một cái nhìn? Trong khi đó, theo ông Tuấn Khanh, không thấy các kênh thông tin chính thức cổ vũ cho các tác phẩm của Việt Nam về chính những người lính Việt Nam trong trận Biên giới ba mươi năm về trước. Trong thư ngỏ, ông Tuấn Khanh cho rằng: “Đâu đó, có những kẻ bệnh hoạn học đòi tính nguyên tắc yêu nước theo chỉ đạo, hùa nhau dồn đuổi việc dựng tượng nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản ở Bến Tre,” “Họ phỉ nhổ vào tổ tiên của mình, còn ở nơi khác thì rước những thần tượng xâm lược Trung Quốc vào để bái lạy qua văn chương, chữ nghĩa.” BBC chưa liên lạc được với dịch giả và những người chịu trách nhiệm xuất bản cuốn ‘Ma Chiến Hữu’. |
Nói đi thì cũng phải nói lại...
Nói đi thì cũng phải nói lại...
Mẹ em có một người bạn học cùng sư phạm, nhà cô ấy ở Hàng Buồm, người Việt gốc Hoa. Em hay được mẹ đưa lên đó chơi, và thấy rất ấn tượng với những ngôi nhà của người Hoa, nhà ở xung quanh 2 tầng, ở giữa có cái sân với hòn non bộ. Hành lang có lan can nhìn xuống sân chạy vòng quanh, trẻ con như bọn em chạy vòng quanh, rất thích. Một ngày, khi đó em 6 tuổi, vào lúc tối khuya, cô bạn mẹ em xuống nhà chơi, ngồi rất lâu, nói chuyện với mẹ em rồi hai người khóc với nhau. Cô kể những chuyện không thể tin được, nào là bị o ép, hành hạ lên xuống, nào là suốt ngày bị quấy nhiễu, đuổi đi... chỉ sau này em mới biết những hành động đó được gọi theo một từ chuyên môn của ngành là "đẩy đuổi". Nghe câu chuyện, với một trí tuệ non nớt như em lúc đó, thì cô ấy rất yêu Việt Nam, Việt Nam là quê hương của cô ấy chứ không phải bất cứ nơi nào khác. Rồi em không được gặp lại cô ấy nữa. Chỉ vài tháng sau thì xảy ra sự kiện bi thảm tháng 2 năm '79 ở biên giới phía Bắc. Mãi về sau, em mới biết cô ấy đi vượt biên nhưng không thoát, định cư tại Sài Gòn. Gia đình thì ly tán, như rất nhiều gia đình khác hồi đó. Cách đây 13 năm, em có quen và đến nay vẫn chơi thân với một anh bán kính ở Lương Văn Can, Hà Nội. Anh ấy họ Đổng, trong CMTND đánh máy: Dân tộc: Hoa; Nguyên quán: Quảng Đông, Trung Quốc. Ông cụ nhà anh ấy đã đưa được cả nhà về năm 1978, riêng ông anh này vì đã có vợ con nên ở lại theo nhà vợ. Tất cả những người Hoa về Trung Quốc đều không được định cư ở sâu trong nội địa, chỉ ở những thành phố, thị trấn vùng ven biên giới. Bác ruột anh hàng kính về sau còn trở thành Chủ tịch thị trấn Bằng Tường (nay đã là thành phố Bằng Tường, thuộc tỉnh Quảng Tây). |
Trích:
Thật chẳng thể tin. @phuongnn: thời đó thì tớ đã đi làm rồi và chẳng có ai ở cơ quan o ép đâu. Chỉ có: Lí lịch phải khai rõ ( khai lại ) và rất nhiều lời thì thầm, rỉ tai rằng Chính quyền sẽ bắt đi tập trung...Tớ còn biết 1 gia đình người Hoa làm cháo quẩy rất ngon đã truỳên lại cho 1 gia đình VN khác trước lúc đi Quảng ninh theo phong trào "Nạn kiều". |
Хоасяу и китайцы
*
Hồi bé, chưa đi học, tôi hay ra Hải Phòng ở với bố tôi. Thỉnh thoảng bố tôi đưa tôi xuống phố Lê Đại Hành thăm ông chú em nhận của bố tôi. Nhà ông chú lọt thỏm trong một ngõ nhỏ, hàng xóm xung quanh tất tần tật là Hoa kiều. Trong ngõ, trong sân ngổn ngang xe ba gác càng dài, những cái sọt to đùng... là phương tiện hành nghề của họ. Không khí ở đó luôn có cái mùi vị, màu sắc riêng của người Hoa, nói chung khó tả. Tuy nhiên, hồi đó thỉnh thoảng tôi được ông chú, bà thím cho thưởng thức các món ăn của những người hàng xóm Hoa kiều mang sang biếu. Phải nói là rất ngon. Tôi chỉ nhớ họ là những người dân cực kỳ tốt bụng. Họ nói chủ yếu bằng tiếng Hoa, còn tiếng Việt thì hơi ngọng. ** Hồi tôi còn nhỏ, học cấp II, có lần Trường tổ chức cho mấy khối lớp 6, lớp 7 đi cắm trại trong rừng ba ngày. Rừng hồi đó còn rậm rạp, hoang vu, còn có muông thú. Để đến rừng đi bộ, leo qua đèo Vàng (tên gọi như thế, chẳng phải ở đó có mỏ vàng gì đâu, chỉ là leo đến đỉnh đèo thì... vàng mắt vì mệt, vì phải thở dốc!). Vượt qua đèo đi xuống thì có một con suối nhỏ, trong suốt đến tận đáy. Một mạch nước ngầm từ trong núi tạo nên dòng suối đó, nước rất ngọt, dân quê tôi gọi là suối Mắt Rồng. Lều trại được cắm rải rác men theo khe suối, rất thuận tiện cho ăn uống, sinh hoạt. Một trong các mục đích của các cuộc cắm trại trong rừng của Trường là gây quỹ, bằng cách trên đường về mỗi người phải mang về một bó dóc để rào vườn trường, hoặc mang về một bó củi để bán cho các lò gạch. Tôi bị lạc đường trong một lần rời trại cùng bạn bè vào rừng lấy củi. Củi đã lấy xong, tôi đi hái sim. Mải mê thế nào, mà khi ngẩng đẩu lên trời đã sẩm tối. Trong rừng, trời tối rất nhanh. Hú gọi nhau như đã quy ước, thì chẳng thấy có tiếng ai đó hú trả lời. Tôi không dám mò mẫm quay trở về trại nữa, mà chọn đại một cây cao có mấy nhánh chạc ba, leo lên đó ngồi, vì sợ thú. Các cụ nói là thỉnh thoảng vẫn thấy dấu chân hổ ở một khe núi gần đó, có tên gọi là khe Hổ Vồ. Tôi ngồi trên cây không biết bao nhiêu thời gian. Mệt mỏi vì đói - số sim hái được đã ăn hết, nước thì không có. Muộn lắm rồi, tôi đang mơ màng thì giật mình vì thấy ánh đuốc của một nhóm người đi tới. (Hơi sợ, vì khu vực này hồi năm 1965 có một nhóm biệt kích Mỹ nhảy dù xuống, có một người là dân địa phương trong nhóm dẫn đường. May mà chính tên này bị thương nặng khi rơi xuống hố khoan địa chất, dù của hắn bị mắc vào cành cây, và hắn chết vì bị mất máu. Nhóm biệt kích không còn người dẫn đường, đã bị công an vũ trang và du kích tóm gọn sau mấy ngày. Vụ này đã được ghi công trong truyền thống của lực lượng vũ trang, quân dân Quảng Ninh). Đoàn người đi gần tới cây to có tôi ngồi. Tôi nhìn thấy gần chục người, họ mang đuốc, súng kíp, súng săn. Họ vừa đi vừa nói rất to, bằng tiếng Hoa (tiếc là tôi không biết tiếng Hoa!). Thế là tôi cất tiếng gọi. Họ bảo tôi xuống. Hỏi chuyện, biết rõ sự tình là tôi bị lạc đường, họ trao đổi với nhau một lát bằng tiếng Hoa, rồi một người dùng tiếng Việt lơ lớ bảo tôi đi cùng họ về trại của họ, sáng mai sẽ có người dẫn về. Dân vùng chúng tôi gọi làng của Hoa kiều là trại khách. Ở vùng quê tôi hồi ấy có khá nhiều trại khách như vậy, chủ yếu trại của họ ở tách biệt trong rừng. Vậy là đêm hôm đó, khi về đến trại khách, tôi được những người Hoa kiều tốt bụng cho ăn bát cháo nóng hổi với củ cải khô muối mặn, rồi cho ngủ trên một cái giường tre. Sáng hôm sau, một người dẫn tôi trở ra đến khe suối Mắt Rồng. Cô chủ nhiệm đã mắng tôi té tát vì tội mải chơi trong rừng (Tuy nhiên, đêm hôm trước chẳng ai phát hiện tôi vắng mặt vào bữa tối và trong buổi đốt lửa trại đến gần sáng của trường!) *** Lên học cấp III, tôi thường đi bộ cùng một anh bạn là lớp trưởng của tôi. Sau khi đi tắt qua cánh đồng, chúng tôi men dọc theo đường sắt (tuyến Yên Viên - Uông Bí, hồi đó tuyến đường sắt này chỉ đến Uông Bí, mãi sau này mới về đến Hạ Long). Chúng tôi thường xuyên gặp các chuyên gia Trung Quốc là những người làm việc ở mỏ than Mạo Khê đi dạo sau giờ làm việc. Hồi đó ở cấp III chúng tôi được học tiếng Trung Quốc. Tôi cũng khá thích thú với môn ngoại ngữ này (một phần từ hồi còn bé tôi đã được ông nội tôi dạy chữ Hán), nên cũng có thành tích cao trong môn Trung văn, từng được giải nhì của Tỉnh. Như vậy là tôi có dịp được thực hành giao tiếp với các chuyên gia Trung Quốc từ hồi đó. Họ dạy tôi nói tiếng TQ, mời tôi về khu ở của họ chơi, mời ăn cơm, và dạy đánh bóng bàn. Một bạn học cùng lớp có bố làm phiên dịch cho chuyên gia Trung Quốc, nên một vài lần trong tuần tôi lui tới chơi với họ. Tuy nhiên, mãi sau này tôi mới biết, công việc của chuyên gia Trung Quốc chỉ là một phần. Họ còn có mục đích đi tìm các hầm mộ có từ rất nhiều đời xa xưa theo gia phả của tổ tiên nhà họ. Trong các hầm mộ có chứa của cải là vàng bạc. Những năm 1965-1981, các cơ quan của VN đã khai quật được rất nhiều hầm mộ như vậy. Tôi cũng đã nhìn thấy khá nhiều hầm mộ gần trường cấp III của chúng tôi. **** |
Хоасяу и китайцы...
****
Tốt nghiệp đại học, đi làm được hơn tháng thì tôi kết bạn với một anh bạn kỹ sư xây dựng, về cùng cơ quan sau tôi, là dân Cẩm Phả bản địa. Anh bạn này dẫn tôi đi khắp nơi trong vùng, kể cả đi tán gái. Trong số bạn bè của cậu ta, có một chàng người Hoa chính hiệu, tốt nghiệp loại ưu trường Bách Khoa, nhưng mãi không được bố trí việc làm vì lý do là Hoa kiều. Đầu năm 1978, khi bị quyết liệt ép hồi hương, bà cụ của anh bạn này đã tuyên bố cả gia đình cụ gồm rất đông con cháu thà tự sát, chết hết ở Cẩm Phả, chứ nhất định không đi đâu cả. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp gia đình cụ có nhiều công đối với cách mạng Việt Nam, và thế là gia đình cụ được ở lại. Sau này thi thoảng tôi cùng anh bạn đến thăm gia đình cụ, cho đến khi cụ mất. Hồi đó, tỉnh QN được tiếng là rất có thành tích trong việc ép dân Hoa kiều về nước. Rất nhiều người Hoa đã hồi hương, để lại ruộng vườn, nhà cửa. Và cũng rất nhiều công nhân, cán bộ của các cơ quan, xí nghiệp trong vùng được cấp nhà, vườn của người Hoa để lại. Nhưng rồi lại có rất nhiều người trong số họ nói về những sự việc quái dị, khó giải thích được khi họ sống trên đất của người Hoa để lại, vừa thần bí, vừa có ý tâm linh. Và ở các chợ của Cẩm Phả, cùng với việc chẳng còn nhiều người Hoa trụ lại, ít đi rất nhiều các loại hải sản quý hiếm. Như nguời ta nói, người Hoa ở Cẩm Phả trước đây rất giỏi nghề đi biển, các công việc khác nặng nhọc thì luôn là họ đảm đương . ***** Vào giữa những năm 1990, công ty tôi có nhập khẩu một dây chuyền sản xuất khí ôxy-nitơ từ Trung Quốc. Một nhóm chuyên gia TQ gồm 5 người, kể cả phiên dịch là một người Hoa từng sống nhiều năm ở Hà Nội, sang làm việc trong vòng gần 4 tháng, trực tiếp lắp ráp dây chuyền. Hồi đó tôi đã làm việc ở bộ phận đối ngoại của Văn phòng Công ty, được sếp giao thường xuyên có mặt cùng chuyên gia TQ khi ăn uống tại nhà ăn, và sinh hoạt ở nhà khách của Công ty. Trong suốt thời gian đó, tôi đã có dịp ôn luyện lại tiếng TQ, và nhớ lại được khá nhiều. Nhiều buổi tối, tôi cùng các đồng chí TQ uống rượu, rồi chơi tá lả kiểu VN do mấy anh em VN dạy. Họ cũng dạy xoa mạt chược, nhưng tôi không tiếp thu được luật chơi. Trong suốt thời gian ấy, cứ hai lần một tuần, họ phân công một đồng chí TQ xuống bếp nhà ăn công ty, tự làm món sủi cảo, hoặc vài món ăn kiểu TQ, và mời cả chị em nhà bếp cùng ăn, rồi dạy chị em cách làm. Đến nay, chị em nhà ăn vẫn còn khen các món ăn TQ, và các đồng chí TQ nhiệt tình, chịu khó. Hiện nay, công ty chúng tôi vẫn có nhiều đối tác là các công ty TQ đến làm việc, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, công nghệ; hoặc là các đối tác TQ đang thực hiện các dự án tại VN - các nhà máy nhiệt điện. Quan hệ hai bên thân thiện, hữu hảo, vì công việc, không bao giờ lồng chính trị vào các cuộc hội đàm hay tiệc chiêu đãi. Và tất nhiên, từ cả hai phía, chẳng ai muốn nhắc lại sự việc của 30 năm trước. |
Trích:
Cám ơn bác thaond_vmc, Em cũng làm việc với các đối tác, các chuyên gia Trung Quốc nhiều. Nhìn chung, thương gia thì họ rất giữ chữ “tín”, chỉ có người Việt Nam ta mới hay lừa lọc. Về sau làm ăn với người Việt Nam nhiều, người Trung Quốc cũng có thích nghi hơn và lừa còn giỏi hơn. Với các chuyên gia, công nhân kỹ thuật, em chỉ có thể nói một câu là thán phục đức chịu khó hay lam hay làm của họ (mà lương không hề cao chứ). Đất nước nghèo nên con người chịu khó hơn chăng? Ở Trung Quốc sẽ thấy dân Trung Quốc lam lũ, hay lam hay làm, nhặt nhạnh quét tước khắp nơi… bây giờ thì chính sách mỗi nhà một đứa con làm nảy sinh thế hệ “con một” được chiều chuộng, lười biếng và hư hỏng nhiều rồi… |
Непобедимый Вьетнам...
Из источника:
http://www.pravda.ru/world/asia/303788-0/ Непобедимый Вьетнам, или китайские черепа из джунглей 30 лет назад Вьетнам разгромил напавший на него Китай. До того китайско-вьетнамская дружба насчитывала всего несколько десятилетий. Враждовали гораздо дольше, более двух тысячелетий, а 2500 лет назад территория Вьетнама почти доходила до реки Янцзы. 30 лет назад вьетнамцы доказали китайцам, что воевать они не разучились. Главной причиной войны 1979 г. стало обострение отношений между СССР и Китаем. Тогда между ними шло острое соперничество за влияние в соцлагере. Успехами Пекин похвастаться не мог: в орбите его влияния находились лишь Албания и Кампучия. Пол Пот в 1978 по указке из Пекина напал на приграничные вьетнамские земли. В декабре 1978 г. Ханой ответил вводом войск в Кампучию. У Китая появился повод вмешаться на стороне Пол Пота и оккупировать Вьетнам, ослабив советское влияние в мире. Столкновение провоцировали США. И не только для того, чтобы отомстить за свой крах в Индокитае, но и ради борьбы против коммунистического влияния. США науськивали Пекин на союзников СССР, обещая ему содействие. 17 февраля 600-тысячная (по другим данным, 250-тысячная) китайская армия атаковала Вьетнам на всем протяжении 1460-километровой границы. 44 китайским дивизиям противостояли лишь 2 вьетнамские. Ситуация для жертвы агрессии сложилась тяжелая: 85 процентов вьетнамских войск находились в Камбодже, за тысячи километров. Быстро перекинуть их на север было невозможно. Но «блицкрига» у китайцев не получилось: вьетнамцы обошлись и без основной части своих регулярных войск. Главную роль сыграли пограничники и местные ополченцы. Они оказали противнику яростное сопротивление. За первые 3 дня китайцам удалось продвинуться максимум на 15 км. Китайскую армаду фактически сдерживали лишь несколько тысяч пограничников. Она шла через джунгли напролом, не считая потерь. Толпой бежала на пулеметы. Вьетнамцы отступили, лишь расстреляв патроны и завалив свои заставы трупами противника. На 3-й день в бой вступила основная часть ополченцев. Китайцы оказались в уязвимом положении: дороги представляли собою узкие тропы в джунглях, с обилием мостов. Местность была очень удобная для засад, и перемещение по ней военной техники оказалось затруднительным. Вьетнамцы, отлично знавшие родные места и имевшие многолетний боевой опыт, успешно били врага: они расчленили китайскую армию на части, и она, оставшись без снабжения, забуксовала. Хронология событий была такой. 19 февраля китайцы захватили Лаокай, 2 марта – Каобанг, 4 марта – Лангшон. Кое-где они продвинулись до 50 километров… и все. До Ханоя оставалось не менее 140 км по все той же удобной для засад дороге. Важную роль в отражении агрессии сыграл СССР: 19 февраля во Вьетнам прибыла группа советников во главе с генералом армии Г. Обатуровым. Москва привела свои войска на «восточном» направлении в полную боевую готовность, угрожая Китаю вторжением. К берегам КНР вышла эскадра Тихоокеанского флота. Советскими самолетами к китайской границе был переброшен корпус вьетнамской армии из Кампучии, а также полк советских «градов». В общей сложности удалось собрать 100-тысячную вьетнамскую группировку. 5 марта Китай начал отвод своих войск, заявив о своей победе, но не объяснив, почему ему не удалось защитить своего кровавого союзника Пол Пота: вьетнамцы ушли из Кампучии лишь 10 лет спустя, разгромив «красных кхмеров». Вьетнамцы «провожали» китайцев ударами вплоть до 18 марта, истребив 62,5 тысячи врагов. Кроме того, они уничтожили свыше половины бронетехники, участвовавшей в агрессии (280 из 550 единиц), а также 118 орудий и минометов. Следы той войны напоминают о себе до сих пор. Еще недавно каждому вьетнамскому студенту-медику, живущему в тех краях, рекомендовали «принести из джунглей для практических занятий пару китайских черепов». И вторжение 1979 г. лишний раз доказало, что вьетнамцы – одни из лучших солдат в мире, воевать против которых чревато. Сергей Балмасов |
Cũng có cái lạ là thời mình học ( 70-76), CCCP cũng chẳng buồn nhắc lại chuỵên xung đột biên giới - Sông Áp lục - với TQ. Được biết, khi đó TQ cũng tràn qua lãnh thổ CCCP.
|
Trích:
Sông Áp Lục (tiếng Trung: 鴨綠江 Yālǜjiāng; tiếng Triều Tiên: 압록강 hoặc 鴨綠江 Amnokkang) là con sông hình thành biên giới tự nhiên giữa hai quốc gia Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Tên của con sông bắt nguồn từ tiếng Mãn Châu có nghĩa là "ranh giới giữa hai cánh đồng". Tên con sông theo tiếng Triều Tiên đọc theo cách phát âm ký tự chữ Hán. Bắt nguồn từ độ cao 2.500 m của ngọn Bạch Đầu trên dãy Trường Bạch, sông Áp Lục chảy 130 km về phía Nam qua thành phố Hyesan trước khi đổi hướng Tây Bắc tới Linjiang. Tại đây, con sông chảy theo hướng Nam dài 300 km rồi đổ vào Vịnh Triều Tiên. Hai thành phố hai bên cửa sông là Đan Đông (Dandong), Trung Quốc và Tân Nghĩa Châu (Sinŭiju) của Bắc Triều Tiên. Hai tỉnh biên giới Trung Quốc giáp sông Áp Lục gồm Cát Lâm và Liêu Ninh. Sông Áp Lục có chiều dài tổng số 790 km, lưu vực rộng 30.000 km². Các sông góp nước chính là sông Changjin, Herchun và Tokro. Mặc dù nơi rộng nhất đến 5 km, việc đi lại trên sông không thuận tiện vì chỗ sâu nhất không quá 3 m và phần lớn chiều dài bị đọng bùn. Lưu vực sông Áp Lục là nơi phát tích của vương quốc Cao Cấu Ly. Nhiều pháo đài dọc theo con sông và kinh đô của vương quốc nằm tại địa điểm ngày nay là thị xã Tập An (集安), Trung Quốc. Địa danh này có các di vật từ thời vương quốc Cao Cấu Ly khá phong phú. Bởi vị trí chiến lược giữa Trung Quốc và Triều Tiên, con sông là nơi diễn ra một số trận đánh: Trận sông Áp Lục (1894) trong Chiến tranh Trung-Nhật (1894-1895) Trận sông Áp Lục (1904) trong Chiến tranh Nga-Nhật Trong thời gian Nhật Bản chiếm Triều Tiên từ 1910 đến 1945, phần đất phía Triều Tiên được đầu tư công nghiệp hóa rất tập trung. Cho tới năm 1945 gần 20% sản lượng công nghiệp của Đế quốc Nhật Bản là từ Triều Tiên. Trong Chiến tranh Triều Tiên, các lực lượng quân sự của Liên hiệp quốc đã tiến tới bờ sông Áp Lục. Tuy không tiến qua sông nhưng đã ném bom phần đất phía Trung Quốc, khiêu khích quốc gia này tham chiến. Trong cuộc xung đột này, mọi cây cầu qua sông đều bị phá hủy. Cây cầu duy nhất không bị tàn phá là Cầu Hữu nghị Trung – Triều nối liền hai thành phố Tân Nghĩa Châu và Đan Đông. Thung lũng cuối sông còn được gọi là "Thung lũng MIG" bởi nơi đây đã diễn ra những trận không chiến giành quyền làm chủ bầu trời trong Chiến tranh Triều Tiên. Những chiếc tiêm kích MiG-15 của cả Liên Xô, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đã chiến đấu bên nhau trong những trận không chiến với quân đội liên minh đứng đầu là Hoa Kỳ. Đầu thập niên 1990, những người vượt biên từ Bắc Triều Tiên thường vượt qua sông để sang bờ phía Trung Quốc. Sông Áp Lục cung cấp năng lượng thủy điện có hiệu quả. Đập thủy điện trên sông có độ cao đến 100 m và dài 850 m, là một trong những đập thủy điện lớn nhất ở Châu Á. Đối tượng vận chuyển chủ yếu trên sông là gỗ súc lấy từ các cánh rừng hai bờ. Con sông cũng cung cấp nguồn cá cho dân cư địa phương. Nguồn: Wikipedia Xung đột biên giới Trung-Xô năm 1969 Cuộc xung đột biên giới Trung-Xô năm 1969 là một loạt các vụ đụng độ vũ trang giữa Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, xảy ra vào lúc cao điểm của sự chia rẽ giữa Trung Quốc và Liên Xô trong thập niên 1960. Một hòn đảo trên sông Ussuri mà người Trung Hoa gọi là Trân Bảo đảo (珍宝岛) và Liên Xô gọi là Đảo Damansky (Остров Даманский) gần như đưa Liên Xô và Trung Quốc vào chiến tranh năm 1969. Xung đột biên giới năm 1969 Căng thẳng gia tăng trong cuối thập niên 1960 dọc theo biên giới dài 4.380 km (2.738 dặm Anh) nơi mà 658.000 quân Xô Viết đối đầu 814.000 quân Trung Quốc. Vào ngày 2 tháng 3 năm 1969 một đơn vị biên phòng Xô Viết và các lực lượng Trung Quốc bất ngờ rơi vào xung đột. Cả hai đều cho rằng bên kia tấn công trước. Quân Xô Viết bị tổn thương 31 chết và 14 bị thương. Sau đó họ trả đũa bằng cách pháo kích vào các nơi tập trung quân Trung Quốc tại Mãn Châu và tấn công đảo Damansky/Trân Bảo. Lực lượng Xô Viết tuyên bố rằng Trung Quốc thiệt mất 800 người trong khi Xô Viết chỉ có 60 chết hoặc bị thương. Trung Quốc tuyên bố chỉ mất vài mạng người, ít hơn nhiều so với thiệt hại của Liên Xô. Liên Xô tuyên bố rằng Quân đội Trung Quốc dùng chiến thuật tiến công trong khi xung quanh đầy thường dân, nông dân, và súc vật. Sau một vài lần đụng độ liên tiếp trong khu vực này và trong Trung Á, mỗi bên chuẩn bị cho cuộc đối đầu hạt nhân. Chỉ khi Thủ tướng Liên Xô Aleksey Kosygin viếng thăm Bắc Kinh trên đường trở về sau tang lễ Hồ Chí Minh tại Hà Nội thì một giải pháp chính trị đã làm nguội dần tình hình. Tranh chấp biên giới tạm ngưng, nhưng chưa thật sự được giàn xếp, và cả hai phía tiếp tục tăng cường lực lượng quân sự của họ dọc theo biên giới. Thương thuyết biên giới trong thập niên 1990 Một số cuộc thảo luận phân định biên giới nghiêm túc đã xảy ra cho đến ngay trước lúc chấm dứt Liên Xô năm 1991. Đặc biệt, cả hai phía đồng ý rằng đảo Damansky/Trân Bảo là của Trung Quốc (cả hai đều tuyên bố là hòn đảo này nằm dưới quyền kiểm soát của họ vào lúc thỏa thuận). Ngày 17 tháng 10 năm 1995, thỏa thuận về một đoạn biên giới dài 54 km cuối cùng đã đạt được, nhưng câu hỏi về việc kiểm soát ba hòn đảo trên sông Amur và sông Argun bị bỏ ra ngoài vòng giải quyết. Trong một thỏa thuận giữa Nga và Trung Quốc, được ký vào ngày 14 tháng 10 năm 2004, có nói rằng cuộc tranh chấp cuối cùng đã được giải quyết. Theo thỏa thuận, Trung Quốc được giao quyền kiểm soát Đảo Tarabarov (Ẩn Long Đảo) và khoảng 50% Đảo Bolshoy Ussuriysky (Hắc Hạt Tử Đảo) gần Khabarovsk. Ủy ban Chấp hành của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc ký thông qua thỏa thuận này vào ngày 27 tháng 4 năm 2005 và Viện Duma của Nga thông qua sau đó vào ngày 20 tháng 5 năm 2005. Việc chuyển giao hoàn thành xong vào ngày 2 tháng 6 năm 2005 khi thỏa ước được Bộ trưởng Ngoại giao Trung Hoa Lý Triệu Tinh và Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov ký. Ở đây cũng có một bài tổng hợp khá tốt của thành viên TAUPAYPAY về cuộc xung đột này: Biên giới Trung - Xô dài 6540km, gồm hai phần: - Trung Á (Giữa Tân Cương và Kazakhstan) dài 2960km. - Viễn Đông (Giữa Mãn Châu và Siberia) dài 3580 km. Giữa hai phần này là biên giới TQ và Mongolia dài 4000km. Trong lịch sử có nhiều vụ xung đột giữa hai nước đã xảy ra. Đến TK19 Nga Hoàng và nhà Thanh đã ký các hiệp ước về biên giới như sau: - Hiệp ước Kia-Khta năm 1727. - Hiệp ước Ai-Gun năm 1858. - Hiệp ước Bắc Kinh năm 1860. - Hiệp ước I-Li (Saint Peterburg) năm 1881. Các hiệp ước này đã nhượng cho Nga (LX sau này) hoặc xác nhận chủ quyền của Nga với nhiều vùng đất đai có tổng diện tích là 1.557.600km vuông. Năm 1923 khi nói về lãnh thổ TQ, Tôn Trung Sơn tuyên bố: "Ngoài việc mất Việt Nam, Miến Điện, Triều Tiên, TQ còn mất cả vùng lưu vực các sông Hắc Long Giang, Ot-xu-ri và những vùng phía bắc các sông Hi, sông Kho-Kand và Hắc Long Giang." Năm 1954, Bắc Kinh cho phổ biến 1 bản đồ TQ ở các trường học, bao gồm các nước: Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Bu-Tan, Nê-Pan (ở phía Nam), một phần các xứ Tajikistan, Kyrgyzstan và Kazakhstan của LX (ở phía Tây bắc) và một vùng rộng lớn ở phía bắc sông Hắc Long Giang, khu vực cảng Vladivostok và đảo Sakhalinsk của LX (ở phía Đông). Suốt 12 năm từ sau khi nắm chính quyền, TQ không đả động gì đến vấn đề biên giới. Năm 1959, Bắc Kinh còn ký với LX một hiệp ước về khai thác lưu vực sông Hắc Long Giang, sông Amur (các đoàn chuyên viên Xô - trung còn làm việc với nhau đến năm 1961). Năm 1962, vụ rắc rối đầu tiên xảy ra ở vùng Tân Cương: 60.000 người Ca-dắc và Mi-ghi-ơ mưu toan vượt biên giới sang vùng Kazakhstan cuả LX và yêu cầu LX cung cấp vũ khí, trang bị. TQ lập tức đóng cửa biên giới, đóng cửa Lãnh sự quán LX ở U-rum-si (Tân Cương). Đồng thời, nhiều cuộc nổi loạn của dân theo đạo Hồi cũng xảy ra, Bắc Kinh cho rằng Lx đã xúi giục hàng vạn người TQ chạy sang Lx. Năm 1963, ngày 8/3 tờ "Nhân dân nhật báo" lên tiếng chỉ trích các hiệp ước "bất bình đẳng" do Nga Hoàng bắt TQ ký vào TK19 và nói TQ sẽ giành chính quyền vào lúc thích hợp, đòi lại những đất đai đã mất trong đó có các thành phố Vladivostok, Kamchatka, Khabarovsk và nhiều nơi khác ở Viễn Đông. Cũng ngày 8/3/1963 TQ công khai tuyên bố không thừa nhận các hiệp ước bất bình đẳng nói trên, liên quan đến 1.557.600km vuông đất đai mà nhà Thanh đã ký nhượng cho Nga Hoàng. Đòi LX phải trả 600 trong số 700 đảo trên các sông Amur và Ot-xu-ri gồm 1036km vuông và một phần rặng núi Pamia giáp Tân Cương gồm 31.080km vuông mà TQ nói LX đã cướp ngoài các hiệp ước bất bình đẳng thời Nga Hoàng. Ngày 6/9/1963 "Nhân dân nhật báo" nhắc lại vụ Tân Cương và lên án LX xúi giục "những phong trào nổi loạn". Ngày 20/9/1963, LX trả lời gián tiếp là trong năm 1962 TQ đã xâm phạm lãnh thổ LX 5.000 vụ. Từ tháng 3 đến tháng 10/1964 hai nước đã mở các cuộc thương lượng về biên giới theo đề nghị của LX. Ngày 10/7/1964 trong buổi tiếp các sứ giả Nhật, Mao Trạch Đông đã tố cáo LX rằng: Từ 100 năm nay, LX đã xâm lấn của TQ tất cả dải đất từ hồ Baikal đến Vladivostok. 10/1966 Bắc Kinh cho quân bắn vào tàu LX đi trên sông Amur và tổ chức mít tinh dọc bờ sông để đòi lại "đất đai đã bị mất". Trong buổi mít tinh 11/1966 đón sinh viên TQ bị LX trục xuất, Trần Lô Phu - Thứ trưởng Bộ Giáo dục TQ tuyên bố: " Người TQ chúng tôi có truyền thống chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, chúng tôi quyết tâm bằng mọi nỗ lực của bản thân thu hồi những lãnh thổ đã bị chiếm". Cuối năm 1966, LX đã huy động khoảng 13 sư đoàn chiến đấu và 50 sư đoàn dự bị đến vùng biên giới phía Đông. Phía TQ có 50 sư đoàn ở vùng Đông Bắc và nửa triệu quân ở vùng Tân Cương. Cuối 1967, cuộc Cách mạng Văn hóa TQ bùng nổ mãnh liệt, cuộc tranh chống LX cũng tăng lên. Ngày 15/1/1967 sinh viên TQ gây rối ở Moskov bị LX dập tắt. Để trả đũa, sinh viên và Hồng vệ binh TQ đã vây hãm và đạp phá sứ quán LX ở Bắc Kinh từ 26/1 đến 12/2/1967. Ngày 2/2/1967 đài Bắc Kinh tố cáo LX âm mưu chống TQ ở hai vùng Hắc Long Giang và Đông Tam tỉnh (Mãn Châu). Ngày 11/2/1967 quân đội TQ đặt trong tình trạng báo động. Hồng Vệ binh TQ phao tin 1 tiểu đoàn LX tấn công vùng Vladivostok bị TQ đẩy lùi. Đồng thời ở thị trấn Hai-Ho của TQ trên bờ sông Amur xuất hiện những biểu ngữ và loa truyền thanh thóa mạ LX. Ngày 24/2/1967 LX tố cáo TQ đã nã súng từ bờ Bắc và cho quân (bộ binh và xe cơ giới) vượt sông Ot-xu-ri đóng băng ở nhiều khu vực (vùng Khabarovsk). Tháng 1/1968 TQ cho quân khiêu khích ở đảo Kơ-kin-skơ trên sông Ot-xu-ri. Trong suốt thời gian 1967, 1968 tình hình rất căng thẳng nhưng hai bên cố kiềm chế nên không xảy ra xung đột. II, Vụ xung đột ở đảo Damanski ngày 2/3/1969 và biên giới Trung - Xô căng thẳng trên toàn tuyến: Mãi đến năm 1969 những cuộc đụng độ thực sự mới xảy ra. Mở đầu là cuộc đụng độ ở đảo Damanski trên sông Ot-xu-ri đầu tháng 3/1969 và sau đó xảy ra vào khoảng tháng 6, tháng 8/1969 ở biên giới Tân Cương và trên sông Amur. 1, Vụ xung đột ngày 2/3/1969 ở đảo Damanski trên sông Ot-xu-ri: Lực lượng mỗi bên khoảng 1 tiểu đoàn bộ binh. Đêm 1 rạng 2 tháng 3, TQ cho khoảng 300 quân ngụy trang bò qua sông đóng băng, đổ bộ chiếm đảo Damanski rồi phân tán phục kích, một bộ phận khác triển khai trên bờ sông (đất TQ). Tảng sáng, TQ cho 30 lính công khai từ bờ sông đi ra đảo. Phía LX tưởng đây cũng là vụ vi phạm bình thường như mọi lần nên cho 1 sĩ quan và 7 lính ra gặp và yêu cầu bọn xâm nhập quay trở lại, nhưng khi phía LX đến gần, TQ bất ngờ nổ súng (phía LX đang đeo súng trên vai), 8 người của LX đều hy sinh. Ngay sao đó, LX điều 1 tiểu đoàn có 4 xe thiết giáp chở quân đến tiếp ứng. Sau 4 giờ chiến đấu, quân TQ bị đánh bật về phía bờ sông của họ. LX có 31 hy sinh, 14 bị thương, không rõ số lượng thương vong của TQ. Vụ thứ hai xảy ra ngày 15/3/1969 cũng ở Damanski. Một đơn vị quân TQ cỡ trung đoàn được pháo cối yểm trợ đã tấn công lực lượng biên phòng LX đang bảo vệ đảo Damanski. LX sử dụng lực lượng cỡ sư đoàn có xe tăng, thiết giáp yểm trợ chia nhiều tốp liên tục vượt qua lạch chính của sông Ot-xu-ri đóng băng, đột nhập vào phần giữa và đầu phía Nam của đảo thuộc đường tàu chạy trên sông của TQ. Đồng thời từ 8 giờ sáng 15/3 LX cũng tấn công 150 vị trí của quân TQ nằm trong đất TQ. Theo tin phương Tây, TQ thương vong 800 quân, LX mất 60 (có một đại tá). 2, Các vụ xung đột trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước từ tháng 4 đến tháng 8/1969. - Vùng biên giới Tân Cương - Kazakhstan, TQ đã gây ra các vụ ngày 16, 17, 25/4/1969 ở Chu-ga-chắc, ngày 20/5 ở sông I-ơ-tuyếc, ngày 2 và 10/6 ở I-u-min. Trong đó đáng chú ý là vụ ngày 10/6: Đêm 10 rạng 11/6 TQ bí mật đột nhập vào lãnh thổ LX sâu 400m bằng cách tiến quân sau 1 đàn cừu do người TQ chăn và bất ngờ nổ súng vào một đơn vị biên phòng LX. Vào 13/8 lại xảy ra một vụ khác cũng ở khu vực I-u-min. TQ cho 150 quân tấn công sang đất LX nhựng bị rơi vào ổ phục kích của LX. Sau đó, LX cho thiết giáp và máy bay lên thẳng truy kích sâu vào đất TQ 2km. Trận đánh diễn ra một giờ, kết quả TQ thương vong nặng nề, 1 số sĩ quan bị bắt. LX thương vong 10 người. - Vùng biên giới sông Amur cũng xảy ra hàng loạt vụ trong tháng 7. Ngày 8/7 xung đột nhỏ trên đảo Gondinsky (TQ gọi là đảo Fa-sa) trên sông Amur, phía LX 1 chết, 3 bị thương đều là dân sự thuộc đoàn tàu vận tải của địa phương đang đi trên sông. III, Nhận xét: 1, Âm mưu của TQ: Gây căng thẳng xung đột, lấn chiếm đất đai, bành trướng lãnh thổ là nội dung chính sách biên giới của TQ (với LX cũng như tất cả các nước láng giềng). Ngoài mục đích chung trên đây, gây xung đột biên giới với LX, TQ nhằm: - Về đối nội: Tạo cớ để tập trung lực lượng quanh Mao, phục hồi trật tự xã hội trong tình trạng rối loạn do Cách mạng văn hóa gây ra, đồng thời tạo một không khí thuận lợi cho Đại hội thứ 9 của ĐCSTQ sắp họp. - Đối ngoại: Vu cáo hòng làm giảm uy tín LX trước cuộc họp cấp cao của các ĐCS và công nhân vào 6/1969 tại Moskov, phá hoại kế hoạch hợp tác kinh tế Xô - Nhật về việc phát triển vùng Siberia, kích các nước có chung biên giới với LX như Nhật, Đức, Ba Lan, Rumani và Phần Lan hòng lập mặt trận thống nhất chống LX. 2, Đặc điểm các cuộc xung đột: Do tương quan lực lượng, TQ ở thế yếu về quân số và vũ khí trang bị nên những hoạt động quân sự của TQ ở biên giới nổi lên mấy đặc điểm: - Ngoài mục tiêu, ý đồ chiến lược chung những vụ gây căng thẳng và xung đột vũ trang, TQ nhằm đạt một số mục đích giới hạn: Tạo không khí căng thẳng, tình hình bất ổn định ở biên giới. Lợi dụng sơ hở để đánh chớp nhóang tiêu hao tổn thất cho LX. Buộc LX phải phân tán lực lượng, đối phó liên tục và lâu dài, nếu có điều kiện sẽ lấn chiếm đất đai của LX. - Thường sử dụng lực lượng với qui mô nhỏ cấp đại đội, tiểu đoàn, cao nhất là cấp trung đoàn. Trang bị vũ khí gọn nhẹ, cơ động nhanh, đánh nhanh, rút nhanh. Lực lượng phía sau được triển khai đông nhưng chỉ để đè phòng bị phản kích. - Các hoạt động gây xung đột của TQ thường xảy ra đồng loạt trên nhiều khu vực nhưng có trọng điểm , thường kết thúc nhanh, TQ cố tránh sa lầy vào cuộc chiến kéo dài và lan rộng với LX. 3, Thủ đoạn: - Phối hợp quân sự với ngoại giao, tuyên truyền, tung tin vu cáo đối phương trước và sau khi hoạt động để lừa bịp dư luận trong và ngoài nước lẩn tránh trách nhiệm, tranh thủ sự ủng hộ về chính trị. - Về chiến thuật: + Triệt để lợi dụng sơ hở của đối phương, dùng lực lượng nhỏ luồn lách thọc sâu, phục kích, tập kích đánh bất ngờ gây tổn thất cho đối phương. + Chú trọng nghi binh về mục tiêu, hướng đánh, tận dụng yếu tố bất ngờ về thời gian. Các trận đánh thương nổ súng vào sáng sớm. |
Cám ơn Phương nhé, già rồi nên nhầm lẫn là chuỵên thường tình.
Nhưng hình như căng thẳng nhất là khu vực sông Amur ( có phải TQ gọi là Hắc long giang? ). Tớ cùng học với chiến sĩ từ đó trở về nên nghe lỏm các chuỵên thực - hư thôi. |
Sông Amua
Trích:
Trích:
Sông Amua (Amur) (река Аму́p) tiếng Hoa là Heilong Jiang (黑龙江) phát âm là Hêy Lúng Cheng - âm Hán Việt là Hắc Long Giang, là con sông dài thứ 9 trên thế giới, tạo thành đường biên giới thiên nhiên giữa phía đông bắc Trung Quốc và vùng viễn đông của Liên Xô trước đây, nay là LB Nga. Con sông phân chia hai miền đối diện: phía Nga là vùng Amua có thủ phủ là thành phố Khabarốpxcơ (Amur Oblast), còn bên kia là Tỉnh Hắc Long Giang có thủ phủ là thành phố Harbin (Hán Việt: Cáp Nhĩ Tân) - thành phố được mệnh danh là "Matxcơva của phương Đông". Xung đột giữa hai nước trên vùng biên giới đông bắc Trung Quốc chỉ là những xung đột cục bộ, nhưng lại có gốc rễ sâu xa từ những uất ức của Trung Quốc từ những hành động chèn ép của các nước phương Tây đối với Trung Quốc trong thế kỷ 19. Đế quốc Nga cũng là một nước tham gia "oánh hội đồng" đế chế Mãn Thanh già nua, hèn kém thời đó. Cuộc chiến tranh Nga - Nhật 1905 kết thúc đem lại những thiệt thòi cho cả Nga lẫn Trung Quốc tại vùng này, mà người hưởng lợi là đế quốc Nhật Bản cho đến khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Việc xử lý hậu quả cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng đã đem lại cho Trung Quốc nhiều ấm ức. Cùng với tham vọng trở thành một cực mới của những trật tự, trước hết là trong hệ thống các nước XHCN, sau đó là các cường quốc trên thế giới, làm cho Trung Quốc trở nên tham vọng và tiến hành những hành động gây hấn, mặc dù chỉ là những "trò mèo" vớ vẩn thôi, nhưng cũng đủ gây khó chịu và bất an cho nước láng giềng. Trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc chơi trò này. Năm ngày 20 tháng Mười năm 1962, Trung Quốc đã gây xung đột biên giới với Ấn Độ, mà đến nay cả hai bên đều cho rằng họ là người chiến thắng. Đến ngày nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn cái trò đó: quấy nhiễu, gây khó chịu, cố đấm ăn xôi, vừa quấy, vừa xây dựng, đặt láng giềng vào sự đã rồi, rồi lại đàm phán trên tinh thần "gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác". (mà tranh chấp là do họ gây ra). Khác với Liên Xô (hiền lành, chống cự nhẹ nhàng); Ấn Độ (nhường nhịn rút đánh lúc rút); Việt Nam ta không để Trung Quốc yên ổn. Họ xây sân bay, giết lính thủy của ta bằng cách dùng đinh ba xiên táo vài chiến sỹ một lúc rồi vứt xuống biển mất xác, ta cực lực phản đối bằng cách cho người phát ngôn BNG - đồng chí Lê Dũng lên TV nói hẳn một bài dài 5 phút; ta cho cán bộ chiến sỹ tới bảo vệ thanh niên sinh viên đến đóng góp ý kiến cho Sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội... Ngày hôm nay, phù hợp với học thuyết "Biên giới mềm", họ đang xâm lược đất nước chúng ta bằng hàng hóa rẻ tiền, bằng hoa quả độc hại, bằng sữa melamine, bằng phim ca ngợi tay hiếu sắc mà hiếu chiến Càn Long... mà ta chưa biết bảo vệ ta bằng cách nào. Với nước Nga, hiện nay cũng đang phải chống đỡ một cách yếu ớt trước làn sóng nhập cư cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp từ Trung Quốc sang. Đối diện với Hắc Long Giang chật chội với 30 triệu dân là Khabarốp 3 triệu dân... Hỡi nhân loại, hãy cảnh giác! |
Theo báo điện tử Đảng Cộng sản:
http://222.255.31.179/tiengviet/bien...id=BT430956346 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Quân chủng Hải quân đẩy mạnh phối hợp tuyên truyền về biển, đảo Ngày 4/3/2009. Cập nhật lúc 15h 42' (ĐCSVN)- Ngày 4/3, tại Hà Nội, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Quân chủng Hải quân đã họp thống nhất các biện pháp phối hợp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lớp nhân dân. Đồng chí Vũ Trọng Kim, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Thiếu tướng Nguyễn Cộng Hoà, Chuẩn Đô đốc, Phó Chính uỷ Quân chủng Hải quân chủ trì cuộc họp. Tại cuộc họp, đại diện lãnh đạo các tổ chức thành viên đã nghe về tình hình các vùng biển nước ta, kết quả thực hiện nhiệm vụ của của Quân chủng Hải quân trong năm 2007-2008; một số vấn đề đặt ra trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa hiện nay; nhiệm vụ trọng tâm của Quân chủng Hải quân nhằm xây dựng Quần đảo Trường Sa mạnh về phòng thủ, tốt về lối sống, đẹp về cảnh quan môi trường… Theo các đại biểu, cần đề ra các biện pháp phối hợp tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo đối với với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như giai đoạn tiếp theo. Các ý kiến cho rằng cần tuyên truyền thường xuyên và sâu sắc hơn nữa về tiềm năng, công tác bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội các vùng biển - đảo; giáo dục giới trẻ về trách nhiệm và tình cảm trong việc bảo vệ và xây dựng biển - đảo quê hương; tổ chức các hoạt động giữa các đơn vị hải quân với địa phương; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao; tổ chức các đợt về nguồn; các đoàn đại biểu đi thăm để động viên các đơn vị, chiến sĩ ở các đảo trên quần đảo Trường Sa… Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, trước những thời cơ, thách thức, những thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của việc thực hiện chiến lược biển đối với sự phát triển, ổn định của đất nước trong năm 2009. Các đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, đảo kết hợp giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc; phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, các đoàn thể trong công tác tuyên truyền biển, đảo, giúp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn, ý thức trách nhiệm hơn đối với việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Chiến lược Biển Việt Nam, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, các ngành chức năng, đoàn thể ở Trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch công tác tuyên truyền về biển, đảo; kịp thời cổ vũ, động viên các lực lượng làm công tác giữ gìn an ninh và bảo vệ chủ quyền biển, đảo…/. Theo một bình luận, cuộc vận động chính thức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kết hợp với Quân chủng Hải quân nói lên được nhiều điều. Ít nhất từ đây, người dân có quyền học tập, sáng tác và chứng tỏ lòng yêu nước của mình thông qua sự thật lịch sử mà không còn sợ hai tiếng nhạy cảm treo trên đầu như từ trước đến nay. |
Trích:
Theo cháu được biết, vụ này êm ả được là nhờ tài ngoại giao của Bác Hồ phải không ạ ? |
Hãy biết nói 'không'
Cô con gái mới lớn lần đầu tiên đi chơi với người yêu. Mẹ cô dặn: "Đời con gái khôn ba năm dại một giờ, phải biết giữ thân con ạ! Nó có gạ gẫm bất cứ điều gì cũng phải trả lời dứt khoát: 'Không!', con nhé!". Cô gái gật đầu vâng dạ. Tối đó, cứ mỗi lần chàng trai định "thân mật" với cô gái một chút thì bị cô cương quyết đẩy ra. Ngạc nhiên, chàng bèn hỏi sự tình và nàng thật thà trả lời: - Mẹ em bắt em phải hứa sẽ nói "không" trước mọi đề nghị của anh! - Thế à... Vậy em có phản đối nếu anh hôn em không? - Không! - Và em có thấy phiền không nếu anh cởi áo giúp em? - Không... |
([QUOTE=hungmgmi;25766]Hờ hờ, nhận thức là cả quá trình mà lão Râu. Ngày trước ta còn Liên xô và phe ta đứng phía sau, thì ta còn có thể tuyên bố này nọ được cho đúng với lập trường phe ta thôi mà. Chứ sau này, ta uyển chuyển hơn, quyết định 'làm bạn với tất cả các nước". Lão không thấy sau này các tuyên bố của МИД СРВ lúc nào cũng rất "nhẹ nhàng", "dịu dàng" à, đến mức"dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi":emoticon-0136-giggl
Còn vụ oánh bọn Pôn Pốt, oánh xong còn phải giúp em nó ổn định đất nước đã chứ. Chứ bỏ về ngay thì loạn xà ngầu lên ngay....) Đúng như anh hungmgmi nói, ta nay đã khôn hơn, vì cái chính là lợi ích dân tộc chứ không phải là "Chủ nghĩa" nọ kia. "Chủ nghĩa" nọ kia chỉ là phương tiện để đạt mục đích thôi. Tôi rất ngạc nhiên khi năm 1977 sang LX thấy trong ảnh SVNN học bên đó có SV của chế độ Lon Non mà VN coi là kẻ thù và VN đã giúp Khmer đỏ lật đổ chúng. Sau mới rõ CS Kmer đỏ còn man rợ hơn Lon Non. Vậy LX đã nhìn xa hơn ta lúc đó về bản chất của Kmer đỏ, không phụ thuộc vào "Chủ nghĩa" mà Kmer đỏ theo. Và nếu khôn ngoan, có lẽ ta nên cho LHQ vào giữ hòa bình sau khi ta đã giải phóng CPC thì đỡ tốn xương máu và đảm bảo không cho TQ quay lại. |
Phán xét lịch sử không đơn giản nhìn trên sự sự kiện của 1 giai đoạn nào đó. Lịch sử là một quá trình.
Lịch sử Campuchia là một lịch sử phức tạp, gồm các nhân vật phức tạp, gồm các giai đoạn phức tạp, bị chi phối bởi vô số các lực lượng bên ngoài, bắt đầu ta phải xét từ khi Mỹ can thiệp lật đổ chính quyền "trung lập" của Campuchia. Mới đây tôi có đọc được một forum post câu này của Lenin: Trích:
Nếu ai đó muốn tìm hiểu kỹ hơn lịch sử Việt Nam cũng như đường lối của Việt Nam đặc biệt là sau chiến tranh nên đọc cuốn "Red brotherhood at war" bản tiếng Việt là "Chân lý thuộc về ai" thì sẽ có đánh giá chính xác ít cảm tính hơn. |
Trích:
Bác ạ! Ông Dương Danh Dy, cựu Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, có nói 1 câu mà tôi cho rằng là chí lý : Chúng ta không nhắc lại vì việc lớn, chứ không phải chúng ta lãng quên! Tới đây, tôi mới chợt nhớ đến truyện ngụ ngôn của La Fontain: Cây Sồi và Cây Sậy. Bác và các bác có nghĩ thế không? |
Các bác có thể thấy được "mộng", "ước mơ" của Trung Quốc. Họ dạy cho học sinh của họ trên sách giáo khoa như thế này đây:
link :http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=3651 |
Trích:
Hãy sống và nhớ mãi! |
Báo Thanh Niên hôm nay có bài này, nhắc lại sự kiện mấy chục năm trước một cách...tế nhị!
http://www.thanhnien.com.vn/News/Pag...216235653.aspx Lê Đình Chinh trong ký ức người mẹ http://www.thanhnien.com.vn/News/Pic...Me-liet-si.jpg Ước nguyện của bà Khương Thị Chu là được đưa hài cốt Lê Đình Chinh về an táng tại quê hương - Ảnh: Ngọc Minh 15 tuổi, Lê Đình Chinh xung phong nhập ngũ và anh đã hy sinh anh dũng ở biên giới phía Bắc khi mới tròn 18 tuổi. Tên anh đã trở thành biểu tượng anh hùng cho cả một thế hệ thanh niên Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Ngày 16.2.2011, tôi đến thăm bà Khương Thị Chu, mẹ của anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh. Năm nay đã 78 tuổi nhưng bà Chu vẫn còn rất minh mẫn và những kỷ niệm về người con anh dũng vẫn vẹn nguyên trong ký ức người mẹ. Bà Chu quê ở Thạch Thất, Hà Tây cũ; người chồng quê gốc ở xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Bà sinh anh Chinh năm 1960, khi vợ chồng đang làm việc tại Nông trường Ba Vì. Mấy năm sau ông bà chuyển vào công tác ở Nông trường Sông Âm, huyện Ngọc Lặc (Thanh Hóa). Hiện liệt sĩ Lê Đình Chinh đang yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc, Lạng Sơn. Tâm sự với phóng viên Thanh Niên, bà Khương Thị Chu cho biết tâm nguyện cuối đời là được đưa hài cốt của Lê Đình Chinh về an táng tại quê hương Thanh Hóa, để bà được thường xuyên chăm sóc phần mộ, thắp hương cho người con anh dũng. Ngày ấy, cuộc sống ở nông trường khó khăn vất vả lắm, Lê Đình Chinh là con cả trong nhà, nên ngoài việc đi học, Chinh còn phải giúp bố mẹ chăm sóc các em. Trước Tết Nguyên đán 1975, khi mới tròn 15 tuổi và đang là một học sinh giỏi toàn diện của Trường cấp 2 xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc (Thanh Hóa), Lê Đình Chinh đã xin phép bố mẹ, xung phong đi bộ đội. Thương con còn nhỏ, nhưng trước nguyện vọng được phụng sự cho Tổ quốc của Chinh, bà Chu đã chấp nhận để con vào bộ đội. “Ngày ấy cả nước thế cả, thanh niên trai tráng đều muốn tòng quân vào Nam chiến đấu. Tuy 15 tuổi, nhưng thằng Chinh cao to, khỏe mạnh lắm. Đúng ngày 16.2.1975, Chinh lên đường nhập ngũ, vợ chồng tôi thì bận đi họp ở nông trường bộ, các em lại quá nhỏ, nên chả có ai tiễn chân nó. Chắc nó tủi thân lắm. Lúc nó huấn luyện ở Triệu Sơn, ông nhà tôi có xuống đơn vị thăm nó một lần, về nhà bảo thằng Chinh bây giờ ăn cơm nhà nước, trông người lớn lắm. Tôi cũng mừng…”, bà Chu kể. http://www.thanhnien.com.vn/News/Pic...11/Liet-si.jpg Anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh Sau thời gian huấn luyện, Lê Đình Chinh được biên chế vào đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12, Bộ tư lệnh Công an vũ trang nhân dân (nay là Bộ đội biên phòng). Đơn vị của Lê Đình Chinh được điều động vào chiến trường Tây Nam chiến đấu chống quân Pol Pot xâm phạm biên giới. Tại đây, anh cùng với đồng đội đã tham gia nhiều trận chiến đánh, lập nhiều chiến công xuất sắc. Trong một trận đánh, anh đã bị thương và được đưa ra Bắc điều trị. Lành vết thương, Lê Đình Chinh xin trở lại đơn vị cũ tiếp tục tham gia chiến đấu. Năm 1978, đơn vị của Lê Đình Chinh đã được bí mật điều động lên Lạng Sơn, bảo vệ biên giới phía Bắc. “Ngày ấy, tình hình ở biên giới phía Bắc phức tạp lắm, ngày nào tôi cũng nghe Đài tiếng nói Việt Nam. Lúc 6 giờ chiều ngày 25.8.1978, tôi mở đài, thì biết tin thằng Chinh hy sinh ở Lạng Sơn khi bảo vệ đồng bào. Anh em công nhân trong nông trường động viên, bảo rằng, chắc không phải thằng Chinh nhà bà đâu, thiếu gì người trùng họ trùng tên. Nhưng bằng linh cảm, tôi biết mình đã vĩnh viễn mất con. Ông nhà tôi đánh điện ra đơn vị nó, nhắn rằng “Bố ốm nặng, con về ngay”, nhưng nó về làm sao được. Ngày 30.8, đơn vị của nó về gia đình gửi giấy báo tử và làm lễ truy điệu cho nó. Tôi tưởng mình không sống nổi. Nó còn trẻ quá anh ạ…”, bà Chu ngậm ngùi kể về những thời khắc đau đớn nhất của đời mình. Ngày 25.8.1978 định mệnh đó, Lê Đình Chinh đang cùng đồng đội đi thăm hỏi đồng bào tại khu vực biên giới thì bắt gặp một toán “côn đồ” từ bên kia biên giới kéo sang đánh giết cán bộ và nhân dân địa phương. Trước hành động bạo ngược đó, anh cùng đồng đội đã anh dũng chống trả, bảo vệ đồng bào mình. Mặc dù đã chiến đấu ngoan cường, đánh gục hàng chục kẻ địch, nhưng do lực lượng mỏng, trong khi kẻ địch lại quá đông, nên Lê Đình Chinh đã bị kẻ thù sát hại. Máu của Lê Đình Chinh cùng với đồng đội đã thấm đẫm trên từng tấc đất của ông cha nơi địa đầu Tổ quốc. Anh là người lính đầu tiên hy sinh ở biên giới phía Bắc trong cuộc chiến chống quân xâm lược giai đoạn đó. Ngày 30.8.1978, Chủ tịch nước đã truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho liệt sĩ Lê Đình Chinh. Không chỉ Thanh Hóa, nhiều địa phương đã lấy tên Lê Đình Chinh để đặt tên đường, trường học, nông trường. Sự hy sinh anh dũng của Lê Đình Chinh đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ của tuổi trẻ Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Ngọc Minh |
Nhân ngày này nhớ mãi một bài hát mà hiện nay tôi vẫn có thể nhớ và hát: "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới...".
Có một bài thơ được một nhạc sỹ nổi tiếng phổ thành bài hát rất hay và rất nhiều người cùng trang lưa tôi đã hát và nhớ. Xin chép tặng các bác: Gửi em ở cuối sông Hồng TG: Dương Soái Anh ở Lào Cai Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt Tháng Hai, mùa này con nước Lắng phù sa in bóng đôi bờ Biết em năm ngóng, tháng chờ Cứ chiều chiều ra sông gánh nước Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không? Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng... Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy Em ra sông chắc em sẽ thấy Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông. Nhưng thơ ngây đâu còn ở chúng mình Khi Tổ quốc trao anh lên tuyến đầu chặn giặc Khi biên cương trong anh đã trở thành máu thịt Đạn lên nòng anh giữ trọn nguồn sông Nỗi nhớ cho em chưa viết được đôi dòng Đạn quân thù bỗng cuồng điên vào thị xã Xe tăng thù nghiến mặt sông êm ả Nhịp cầu thù chặt đứt chờ mong Bão lửa này mang sức mạnh hờn căm Phá cầu thù, xé vụn xe tăng giặc Giữa dòng sông nghìn xác thù ngã gục Máu giặc loang ố cả một vùng Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ Là niềm thương anh gửi về em đó Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh |
Bác ạ, bài thơ này đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc, nhưng lời thì biến đổi tương đối, thành ra thiên về tính chất trữ tình hơn:
GỬI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG Nhạc: Thuận Yến Thơ: Dương Soái Anh ở biên cương nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Ở nơi anh mùa này con nước lắng phù sa in bóng đôi bờ. Anh ở biên cương biết rằng em năm ngóng tháng chờ, cứ chiều chiều ra sông mà gánh nước, nên ngày ngày cùng bạn bè trên chốt anh lại xuống sông Hồng cho thỏa lòng em mong. Em ở phương xa, nghe đài báo gió mùa đông bắc, em thương anh nơi chiến hào gặp rét. Mà em thương anh chiều nay đang đứng gác, lo canh giữ đất trời, áo ấm có lành không, hỡi anh yêu người chiến sĩ biên thùy? Có gì đâu tấm lòng người chiến sĩ, có tình yêu bốn mùa sưởi ấm. Dù gió mưa, dù mùa đông. Vì rằng em luôn ở bên anh. Em ở phương xa nơi con sông Hồng chảy về với biển, ở trên anh đầu nguồn biên giới, cuối dòng sông nơi ấy quê nhà. Em ở phương xa, cách mười sông ba núi bốn đèo, đem lòng mình gửi về miền biên giới. Sao chẳng nói nên lời nhưng nặng tình yêu thương. Anh ở biên cương sương lạnh giá buốt mùa đông tới. Nơi quê hương em bước vào vụ mới. Rằng anh thương em đồng quê chưa cấy hết, tay em ngập dưới bùn, lúa cấy thẳng hàng không, hỡi em yêu ở cuối sông Hồng? Thầy dòng sông sóng ngầu lên sắc đỏ biết là anh nhớ về em đó nhớ về anh đó. Là chiến công, là niềm tin, là tình yêu anh gửi cho em là tình yêu em gửi cho anh. Anh gửi cho em Em gửi cho anh Là tình yêu ta gửi cho nhau. Nghe bài hát, hay thật là hay, nhưng cũng khiến người ta thở dài 1 cái khi biết được bài thơ gốc mà bác LysaD88 vừa post lên. |
Mời các bạn nghe:
|
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 23:11. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.