![]() |
Có thể là thái độ mỉa mai của Anna Akhmatova đối với cả MAT lẫn Chekhov, vốn đã làm tôi rất sốc khi chúng tôi gặp nhau năm 1965, là xuất phát từ Mandelstam. “Chekhov không tương hợp với thi ca”, Akhmatova nói. Quan điểm đối lập với Chekhov của bà có vẻ như ngược đời, nhưng nó phản ánh ác cảm của Akhmatova với xu hướng văn hoá của giới trí thức thời thanh niên của bà, mà bà cảm thấy đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi MAT và Chekhov.
|
Bản thân giới trí thức (intelligentsia) là một khái niệm đặc Nga. Nó ngụ ý không chỉ là một người có học – nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, luật sư, bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo hay sinh viên đại học – mà là cả một cách nhìn tự do rõ ràng. Về tâm lý, một người trí thức intelligent (với chữ G viết hoa), không giống như một công chức bàn giấy, có lương tâm với trách nhiệm công dân, tôn trọng tự do, và theo đuổi sự nghiệp giải phóng cho các giai cấp thấp kém hơn.
Nhận thức truyền thống ở Nga là người trí thức intelligent đầu tiên và trước nhất phải là một người theo chủ nghĩa vị tha phục vụ cho lý tưởng chân thiện và công bằng. Điều này phù hợp với chương trình của MAT, vốn lần đầu tiên ở nước Nga đã kết hợp thẩm mỹ và đạo đức ở một mức độ nghệ thuật cao đến như vậy đem lên trên sân khấu. MAT trở thành một thứ câu lạc bộ dành cho giới trí thức. |
Mỉa mai thay, Stanislavsky và Nemirovich-Danchenko, giống như Chekhov, đều ghê tởm chính trị. Nhưng chính trị đã tóm lấy họ, ép cái cách của nó lên nhà kính vươm trồng nghệ thuật đỉnh cao của họ. Khán giả sau buổi công diễn đã ở lại để nghe bài thuyết trình của một nhà bình luận về vở kịch. Sau bài thuyết trình, các thảo luận với đề tài sống động được tiếp diễn bên ngoài nhà hát. Đám thanh niên tranh luận với niềm say mê đặc biệt.
“Mọi người mang các vết thương tinh thần sâu kín đi tới nhà hát”, một nhà phê bình đã viết năm 1905, chủ yếu là nói về MAT. “Nhà hát là nơi duy nhất mà một công dân Nga cảm thấy mình thực sự là một công dân, nơi anh ta gặp gỡ những người khác giống mình và dấn thân mình vào việc hình thành nên dư luận xã hội”. * Andreyev đã tả cảnh mọi người rời khỏi MAT sau một buổi diễn vở Ba Chị em của Chekhov với cảm xúc như họ đang tìm kiếm một lối thoát khỏi “đám sương mù đen tối” của cuộc đời đang vây quanh họ. Họ nhận thức vở kịch mà vốn dường như không có quan điểm hay tư tưởng nào như một văn bia của cả thời đại. Chekhov thực sự đã tạo ra một lớp khán giả mới. Sau Chim Hải âu, tất cả các buổi công diễn những vở kịch mới của ông tại MAT – Chú Vania (1899), Ba Chị em (1901), và Vườn Anh đào (1904) – đều trở thành mốc lịch sử không chỉ trong đời sống công luận của đất nước mà cả trong lời sống cá nhân của nhiều người xem. Điều này được phản ánh trong con số khổng lồ các bức thư gửi tới MAT, chứa đựng lòng biết ơn, những lời thú tội cá nhân, và các đề nghị được khuyên nhủ. Trả lời cho một trong những lá thư chân thành như vậy, Stanislavsky đã thuyết giảng vào năm 1901 như sau, “Anh có biết tại sao tôi từ bỏ tất cả công chuyện riêng của mình và nắm lấy nhà hát không? Bởi vì nhà hát là đứa học trò có sức mạnh nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả sách vở hay báo chí. Đứa học trò này đã rơi vào tay của một đám người thấp hèn, và họ đã biến nó thành một chốn suy đồi... Nhiệm vụ của tôi là giải thích cho thế hệ hiện đại, với khả năng tối đa của mình, rằng người diễn viên là nhà tiên tri của cái đẹp và sự thật”. ** * Teatral’naia gazeta, 28/5/1905 ** Trích trong: I. Vinogradskaia, Zhin’ i tvorchestvo K. S. Stanislavskogo. Letopis’ [Cuộc đời và tác phẩm của K. S. Stanislavsky: ghi chép theo năm tháng], bốn tập, tập 1 (Moscow, 1971), tr. 341 |
Chekhov không quá để ý tới những tuyên bố tự thổi phồng đó của Stanislavsky. Mặc dù có nhiều người (gồm cả Bunin, người rất khâm phục và ghen tỵ với ông) tin rằng ông có được danh tiếng là nhờ MAT, Chekhov thực ra xem thường các diễn viên, bảo họ là dương dương tự đắc và tụt hậu bảy mươi lăm năm đối với phần còn lại của xã hội Nga. Ông sợ những cảm xúc kiêu căng, và đã mỉa mai nói với Bunin, người so sánh tác phẩm của ông với thơ ca, rằng đám nhà thơ là những kẻ sử dụng một cách thiếu suy xét các từ như “bàng bạc bóng tà” hay “dây đàn” và những khẩu hiệu như “tiến lên, hỡi nhân dân, hãy chống lại bóng tối!” Một người nên ngồi xuống viết, Chekhov nói, chỉ khi nào anh ta cảm thấy tâm hồn đang lạnh tựa băng.
|
Sự lạnh lẽo bên ngoài này, rất khác thường đối với văn học Nga, đã khiến tất cả các phe phái chính trị tức tối. Người thầy của phái tự do nắm đầy ảnh hưởng Nikolai Mikhailovsky đã ban ra lời tuyên án nổi tiếng của mình như sau: “Quý ngài Chekhov viết lách một cách lạnh lùng và độc giả cũng đọc theo một cách lạnh lùng”, theo sau câu nói của Chekhov “tất cả đều như sau – bất kể là một con người hay cái bóng của chính anh ta, bất kể là gióng một hồi chuông hay một vụ tự vẫn”. Chekhov cáu kỉnh đáp lại, so sánh các nhà phê bình với đám muỗi mòng quấy rầy con ngựa đang kéo cày: “Tôi đã đọc những bài phê bình các truyện ngắn của mình suốt hai lăm năm qua, và tôi không thể tìm thấy trong đó một đề nghị nào có giá trị, chưa từng nghe được lời khuyên nào có ích. Tuy nhiên, có một lần nhà phê bình Skabichevsky đã gây được ấn tượng với tôi, tiên đoán rằng tôi sẽ chết lúc đang say sỉn dưới chân hàng rào”. *
Những người Mácxít Nga, lúc đó đang gồng cơ gồng bắp, là có nhiều bất đồng nhất với Chekhov. Cần lưu ý rằng lãnh tụ của họ, Lenin, người không mê say gì đối với văn học đương đại, lại có những ngoại lệ với Chekhov và Tolstoi. (Chekhov cũng là nhà văn được chàng thanh niên Stalin ưa thích). Nhưng bạn của Lenin, Vaslav Vorovsky, một nhà phê bình Mácxít hàng đầu, đã mô tả thế giới trong các vở kịch của Chekhov là “cái đầm lầy xứ Philistine, nơi ếch nhái ộp oạp tự mãn và bầy vịt ục ạch bơi lội lăng xăng”, một thế giới của “mấy ‘chị em’ bất hạnh, đám ‘hải âu’ khốn khổ tội nghiệp, bầy địa chủ khổ sở của ‘vườn anh đào’ và ở đấy có quá nhiều kẻ bọn họ, và tất cả bọn họ đều quá u sầu, kiệt sức vì những đau khổ vặt vãnh”. ** * Trích trong: Gorky, Literaturnye portrety, tr. 137-138 ** V. V. Vorovskii, Estetika. Literatura. Iskusstvo [Thẩm mỹ, Văn học, Nghệ thuật] (Moscow, 1975), tr. 406-407 |
Với nhà Mácxít Vorovsky, Chekhov là một “kẻ yếm thế và khách quan chủ nghĩa”. Ông bênh vực cho một nhà văn khác – chàng thanh niên Alexei Peshkov, người đột ngột nổi lên trên văn đàn Nga năm 1892 dưới bút danh Maxim Gorky. Theo Vorovsky, “trong khi con thiên nga, héo tàn theo kiểu Chekhov, đang bơi ì ạch trên bề nổi của cuộc đời... giữa những ngày buồn bã đó, Gorky đã lên tiếng như một vị tín sứ táo bạo của những kẻ dũng cảm”. *
Mới hai lăm tuổi đầu, Gorky đã trải qua một cuộc đời đầy sóng gió. Nếu tin theo những ghi chép của chính ông, ông đã làm qua nhiều nghề lẻ, lao động chân tay, phu khuân vác, thợ nướng bánh, và đã đi bộ ngao du quanh nước Nga. Ông là người đầu tiên đưa ra một hình ảnh mới của người hùng trong văn học Nga – kẻ lang thang được mô tả đầy sức sống, một “thành phần bị trục xuất” – và điều này đem đến cho ông danh tiếng to lớn. Cuốn sách đầu tiên của ông trở thành sách bán chạy nhất, tên của ông được người người nhắc đến, ảnh chụp ông xuất hiện trên mọi mặt báo, và ông không thể đi đâu ngoài đường mà không bị người hâm mộ vây quanh. Giới bình luận trí thức sửng sốt: “Cả Turgenev, cả bá tước Tolstoi thời kỳ Chiến tranh và Hòa bình, lẫn Dostoevsky cũng chưa bao giờ được phổ biến đến thế”. Ảnh hưởng của Gorky ở Châu Âu và Châu Mỹ cũng tương tự; Stefan Zweig công nhận là các tác phẩm của Gorky đã thực sự làm sửng sốt độc giả phương Tây hồi đầu thế kỷ. Tất nhiên, sự khích động là mang tính chính trị. Trong khi Dostoevsky và Tolstoi nói về cuộc Cách mạng Nga dữ dội sắp tới như một cơn bệnh nguy hiểm, Gorky là tiếng nói người Nga đầu tiên quả quyết đón chào nó mà không hề “có nỗi khiếp hãi bí ẩn nào trước tương lai”, như lời của Zweig. Mối quan hệ giữa Gorky với Chekhov, hơn ông tám tuổi, tiến triển theo hướng khá kỳ lạ. Họ gặp nhau lần đầu tháng Ba năm 1899, cả hai đều cao và nói giọng trầm, nhưng mặt khác lại khá khác nhau: Chekhov mảnh khảnh, hàm râu xén tỉa gọn gàng, cử động thoải mái, luôn ăn mặc rất trang nhã, ánh mắt mỉa mai sau cặp kính kẹp mũi; Gorky hơi khòng, tóc đỏ với bộ râu mép màu vàng, cái mũi như mỏ vịt (Tolstoi từng bảo Chekhov rằng “chỉ có kẻ khốn khổ và kẻ hay cáu giận mới có mũi như thế”), luôn cố ý ăn mặc theo lối “một gã giản dị”, tay khua khoắng như chiếc cối xay gió. Thoạt đầu Gorky chẳng buồn giấu giếm sự ngây ngất trước Chekhov, ông này đáp lại đầy thông cảm; trong lá thư gửi một người bạn nữ ông đã viết, “Tôi tin Gorky là một tài năng thực sự, cọ và sơn của anh ấy là thực, nhưng là một tài năng không rèn luyện, hay tỏ vẻ hung hăng”. Ông cũng viết tiếp cho bà, “Bề ngoài, anh ta là kẻ lang thang, nhưng bên trong thì anh ta là người khá tao nhã”. ** Chekhov công khai bảo vệ Gorky trong một vụ tai tiếng mà ngày nay được gọi là Sự kiện Viện Hàn lâm. * V. V. Vorovskii, Estetika. Literatura. Iskusstvo [Thẩm mỹ, Văn học, Nghệ thuật] (Moscow, 1975), tr. 277 ** Chekhov, Sobranie sochinenii, tập 12, tr. 318, 308 |
Việc này xảy ra năm 1902, khi Gorky ở tuổi ba tư được bầu làm viện sĩ danh dự lĩnh vực văn chương của Viện Hàn lâm Khoa học Đế chế (chủ tịch là Đại Công tước Konstantin Romanov, một nhà thơ tài hoa). Khi Nikolai II biết về kết quả bầu chọn, ông đã tức điên lên. Thậm chí các sử gia có thiện cảm cũng phải chỉ ra sự nóng nảy đầy định mệnh do thiếu ý chí và sự bướng bỉnh trong tính cách vị sa hoàng. Thị hiếu văn hoá của ông cũng khiêm tốn và chiết trung tầm tầm như một vị thày giáo trung học trường tỉnh: ông vừa là người hâm mộ Chekhov, vừa thích tờ Novoye Vremya khổ nhỏ, vừa thích tạp chí hài bình dân Satirikon, vừa chuộng nghệ thuật phỏng dân gian của ca sĩ nổi tiếng Nadezhda Plevitskaya, người sẽ chết vào năm 1940 trong một nhà tù Pháp, bị bắt do là điệp viên Bolshevik. Về phần Gorky, Nikolai báo cho vị bộ trưởng giáo dục: “Cả tuổi tác lẫn vốn tác phẩm nghèo nàn của Gorky đều không đủ để anh ta được bầu vào một danh hiệu cao quý như thế… Ta tức giận sâu sắc vì tất cả chuyện này và ra lệnh cho anh phải tuyên bố rằng theo lệnh ta kết quả bầu chọn Gorky đã bị huỷ bỏ”. *
* Trích trong: Russkaia literatura kontsa XIX-nachala XX v., 1901-1907 [Văn học Nga cuối thế kỷ mười chín đầu thế kỷ hai mươi: 1901-1907] (Moscow, 1971), tr. 360 Đại Công tước Konstantin Romanov http://en.wikipedia.org/wiki/Grand_D...vich_of_Russia |
Viện Hàn lâm nhắm mắt tuân lệnh, khiến báo giới phẫn nộ. Chekhov, người cũng từng được phong làm viện sĩ danh dự hai năm trước, đã từ chức để phản đối, bằng cách ấy khiến vụ việc càng bùng lên. Nhưng trong lúc ấy, sau sân khấu, mối quan hệ giữa Chekhov và Gorky lại bị xấu đi. Một sự đối đầu đang được ấp ủ, cuối cùng nó chấm dứt nhờ ủy nhiệm thông qua các bà vợ của họ.
Người Pháp cho rằng cherchez la femme (tìm kiếm phái đẹp) là nguồn cội của mọi xung đột. Tìm kiếm chính trị cũng vậy. Chính trị, nghệ thuật và những mối quan hệ cá nhân thường xoắn lại với nhau nên ta không thể tìm ra đâu là đầu đâu là cuối. Năm 1900, MAT đem sản phẩm Chú Vanya của mình tới Yalta, vùng nghỉ dưỡng bên Biển Đen nơi Chekhov đang dưỡng bệnh. Gorky cũng có mặt ở đó để chạy trốn vợ mình. Chekhov tiếp tục dạy Gorky cách tán gái, và tự xem mình, không phải là không có lý do, như là một chuyên gia. Có lẽ để kích thích Gorky, người đang còn ngập ngừng, Chekhov bắt tay vào tán tỉnh hai nữ diễn viên hàng đầu của MAT cùng một lúc – Maria Andreyeva và Olga Knipper. Cả hai đều là những người đẹp nổi bật đầy quyến rũ và có học thức, mặc dù Andreyeva đã có gia đình với hai con còn Knipper thì còn độc thân. Có lẽ điều này là quan trọng đối với Chekhov: một năm sau ông cưới Knipper. Gorky lấy Andreyeva, và bà trở thành vợ chính thức của ông năm 1903. |
Lúc này Gorky đã trở thành một nhà soạn kịch nổi tiếng. Ông bắt đầu viết kịch từ năm 1901, bị thúc giục bởi Stanislavsky cũng như bởi Chekhov, người tuy nhiên lại không thấy ấn tượng với cố gắng đầu tay của Gorky, vở Những công dân bảnh chọe, quở trách tác giả vì óc thẩm mỹ nệ cổ – “một sai lầm không thể sửa chữa được, giống như sợi tóc đỏ giữa mớ tóc đỏ vậy”. Gorky, trong một bức thư gửi bạn, lại có một quan điểm khá khác về buổi công diễn đầu tiên: “Tớ, Alyosha của cậu, đã vẻ vang vượt qua bài thi vỡ lòng về kịch. (Cẩn thận đấy, William Shakespeare!)”. *
Những công dân bảnh chọe, do Nhà hát Nghệ thuật Moscow trình diễn năm 1902, đã không thành công, bất kể đã được góp sức từ tăm tiếng của Sự kiện Viện Hàn lâm. (Sau này vở kịch được phổ biến hơn nhiều, khi vị giám đốc Xôviết Georgy Tovstonogov giới thiệu nó tại nhà hát Leningrad của mình năm 1966 với biên đạo của Yevgeny Lebedev xuất chúng; tôi đã may mắn được xem tác phẩm huyền thoại này). Không nao núng, Gorky cũng trao vở kịch thứ hai của mình cho MAT, lần này thì ông thắng lớn. Nguyên gốc có tựa đề là Tận dưới đáy cuộc đời trong tiếng Nga và được rút gọn theo đề nghị của Nemirovich-Danchenko thành Tận dưới đáy, vở kịch đã lần đầu tiên đưa lên sân khấu Nga xã hội những kẻ hư hỏng bỏ đi – trộm cướp, gái điếm và bụi đời. Giờ đã rõ đây là vở kịch hay nhất của Gorky (có lẽ là tác phẩm hay nhất của ông) và là một kiệt tác của kịch nghệ thế giới thế kỷ hai mươi. Nhưng giới phê bình lại tỏ vẻ phẫn nộ sau buổi diễn đầu: “Ta cảm thấy như đã bị ép buộc phải nhúng mình vào một hố phân!... Gorky đã giật tới những sợi dây thấp kém và xấu xa nhất của tâm can con người”; ** “Quá nhiều tàn ác, vô nhân, rên rỉ và chửi bậy… Chẳng lẽ cuộc sống lại trông như thế này?” *** Tuy nhiên, công chúng lại thích Tận dưới đáy, tán thưởng những câu như “Dối trá là tín ngưỡng của nô lệ và ông chủ!” và “Sự thật là Chúa của người tự do!”. Nhân vật do Ivan Moskvin vĩ đại thủ vai, gã lang thang ranh mãnh Luka, được xem là gây nhiều tranh luận: một triết gia đi giải thích và chấp nhận tất cả. (Nhà thơ Vladislav Khodasevich, người biết rõ về Gorky, sau này cho rằng triết lý của Luka phản ánh niềm tin cá nhân của Gorky ở nhiều khía cạnh). Vở kịch được diễn đến năm mươi lần với khán giả đi xem đông như nêm chỉ trong vòng có vài tháng (từ 12/1902 tới 4/1903). Chekhov, người tự xem mình là tác giả đương đại hàng đầu của Nhà hát Nghệ thuật và chân thành mà nói đã không chờ đợi sự khéo léo đến như vậy từ Gorky, đã hoá lo lắng và viết cho Knipper: “Anh rất bi quan về Tận dưới đáy trong mùa hè này, vậy mà xem nó đã thành công đến thế nào!” Bà khích lệ chồng mình bằng cách kể cho ông rằng Stanislavsky đang “mơ đến Vườn Anh đào và mới hôm qua đã nói rằng mặc dù Dưới đáy có thành công, tâm tưởng của anh ấy không nằm ở đấy. Nó là dối trá, anh ấy bảo”. **** Stanislavsky, người luôn cảm thấy chính trị dính dáng đến nghệ thuật là “không thích hợp, cái này sẽ loại trừ cái kia”, có lẽ đã khó chịu bởi giọng điệu chính trị công khai trong thắng lợi vang dội của Gorky. Một nhà hát cách mạng, trong thời Stanislavsky là tuyệt đối bảo thủ và cẩn trọng, đã hoá có lợi trong những rắc rối trong tương lai, đặc biệt trong quan hệ của ông với Stalin thời Xô viết. * Trích trong: Perepiska A. P. Chekhova [Thư từ của A. P. Chekhov] hai tập, tập 2 (Moscow, 1984), tr. 356 ** Sankt-Peterburgskie vedomosti, số 9/4/1903 *** Birzhevye vedomosti, số 6/4/1903 **** Perepiska Chekhova, tập 2, tr. 274 |
Một vết rạn – mang tính chính trị, văn hoá và cá nhân – bắt đầu xuất hiện giữa hai kịch tác gia, đe doạ sẽ làm đổ vỡ MAT. Chekhov và Gorky là những người thủ vai chính, nhưng vẫn ẩn sau bóng tối, trong khi các bà vợ của họ, Knipper và Andreyeva, là những ngôi sao của MAT, thì bày tỏ thái độ, mỗi người đều tìm cách kéo nhà hát theo hướng của chồng mình. Trong một lá thư gửi Chekhov ngày 16/2/1903, Nemirovich-Danchenko thông báo cho ông rằng một “vết nứt ghê tởm, giống như kiểu vết nứt trên tường, rất cần được hàn gắn”, đã xuất hiện tại MAT, và nó, trời ạ, “đang từ từ toác ra”. * Nemirovich-Danchenko khôn ngoan nói với Chekhov (như thể nhà văn đã không hề được vợ mình cho biết) rằng hai phe phái chống đối đang hình thành tại MAT: một phe là Stanislavsky, Nemirovich-Danchenko và Knipper, phe kia là Andeyreva và Savva Morozov, vị thương nhân Moscow và là nhà bảo trợ nghệ thuật yêu đơn phương bà vợ Gorky.
* V. I. Nemirovich-Danchenko, Izbrannye pis’ma [Tuyển tập thư từ], hai tập, tập 1 (Moscow, 1979), tr. 318-319 |
Lev Tolstoi nổi tiếng khắp thế giới. Người dịch có đến Đại học Nữ Showa, Tokyo. Ngay giữa không gian trang trọng nhất của sân trường là bức tượng Lev Tolstoi trong dáng đứng trầm tư quen thuộc. Được biết rằng người sáng lập ra trường này say mê tư tưởng Lev Tôlstôi, nên trường được tổ chức theo phương pháp Tôlstôi với châm ngôn “Thắp sáng cho thế giới” nhằm trau dồi “Tình yêu thương, sự hiểu biết và hòa hợp”. Trên tường các dãy hành lang có treo chân dung các cụ Lev Tôlstôi, Đôstôievski, Lermontôv v.v. (tuy vậy không thấy chân dung của A. Pushkin). Hàng năm các thầy cô và sinh viên về miền quê để thu họach mùa màng và sống chung với nông dân (các thầy không không thích việc này lắm, bảo rằng vị sáng lập là kẻ khùng- tôi nghĩ chắc cũng đúng). Năm 2004, chắt của Lev Tolstoi đang sống ở Nga có ghé thăm trường, được tòan trường đón tiếp rất long trọng.
http://i8.photobucket.com/albums/a8/...791_resize.jpg Hai vợ chồng ông Enkichi Hitomi và Midori Hitomi, vốn rất ngưỡng mộ triết lý phổ cập giáo dục của Lev Nhikolaiêvich Tôlstôi, đã đứng ra thành lập và điều hành một trường học miễn phí trên lãnh địa của mình. Các khuôn phép nghi lễ được duy trì ở mức độ tối thiểu, những kiến thức thực hành đời thường được nhấn mạnh giảng dạy cùng với những nỗ lực tột bực nhằm kích thích lòng ham hiểu biết của học viên. Việc giúp đỡ học viên tự khám phá bản thân và đưa họ tới mối quan hệ hài hòa gần gũi với thiên nhiên cũng là một phương châm cơ bản của trường. Những điều này có thể xem là một cuộc cách mạng vào thời kỳ đó. Bà Midori Hitomi là người đã nghĩ ra ý tưởng thành lập nên một ngôi trường theo kiểu này, dựa trên triết lý của Tôlstôi và đã cống hiến cả cuộc đời mình để phát triển nó. Còn ông Enkichi Hitomi, ngòai trách nhiệm làm hiệu trưởng trường, ông còn là một giáo sư dạy Văn học Nhật Bản trong suốt nửa thế kỷ. Ông cũng đóng vai trò rất quan trọng trọng lĩnh vực phê bình văn học và thơ ca Nhật Bản. Ông đã viết và biên sọan nhiều tác phẩm, bao gồm cả bộ sách “Nghiên cứu về Văn học Hiện đại” mà nhờ đó ông được trao tặng Giải thưởng Kikuchi Kan về văn học. http://i8.photobucket.com/albums/a8/...792_resize.jpg http://i8.photobucket.com/albums/a8/...95_resize2.jpg http://i8.photobucket.com/albums/a8/...796_resize.jpg http://i982.photobucket.com/albums/a...toy_seated.jpg Chưa biết cặp mắt kia có phải "cặp mắt cáo già" không, nhưng rất sắc sảo và thấu thị. |
|
http://i982.photobucket.com/albums/a...s/Sklovsky.jpg
Viktor Borisovich Shklovsky (1893-1984) |
http://i982.photobucket.com/albums/a...edonostsev.jpg
Konstantin Petrovich Pobyedonostsyev (1827 – 1907) http://i982.photobucket.com/albums/a...v_by_repin.jpg Konstantin Pobyedonostsyev trong tranh của Ilya Repin. |
http://i982.photobucket.com/albums/a..._s_suvorin.jpg
Aleksei Sergeevich Suvorin (1834 — 1912, tại Hoàng Thôn) http://i982.photobucket.com/albums/a...px-Suvorin.jpg Suvorin trong tranh của Ivan Kramskoy |
http://i982.photobucket.com/albums/a...s_II_-1898.jpg
Sa hoàng Nikolai II |
http://i982.photobucket.com/albums/a..._Osip_Braz.jpg
Anton Pavlovich Chekhov (1860 – 1904) http://i982.photobucket.com/albums/a...ipper_1901.jpg Anton Chekhov và vợ Olga Knipper, một người gốc Đức. |
http://i982.photobucket.com/albums/a...ored_edit1.jpg
Maxim Gorky (1868 – 1936) với cái mũi như mỏ vịt (Tolstoi từng bảo Chekhov rằng “chỉ có kẻ khốn khổ và kẻ hay cáu giận mới có mũi như thế”) |
http://i982.photobucket.com/albums/a...nstantin-1.jpg
Konstantin Sergeyevich Stanislavsky (1863 – 1938). Nạn nhân của Stalin |
http://i982.photobucket.com/albums/a..._Danchenko.jpg
Vladimir Ivanovich Nemirovich-Danchenko (1858 - 1943) |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:54. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.