![]() |
Đại sứ I.S. Tsherbakov thông báo, sau khi Trung ương Đảng nhận được báo cáo của ông về tình huống mới, lãnh đạo đất nước chỉ thị cho ngành công nghiệp quốc phòng áp dụng các biện pháp khẩn cấp nhằm lấy lại sức chiến đấu của các tổ hợp tên lửa phòng không ở Việt Nam. Ông cho biết, đồng thời, Matscơva cũng giao cho ông nhiệm vụ tập trung các chuyên gia quân sự đang công tác tại VN DCCH đề nghị thực hiện (trong khả năng của mình) những công việc cần thiết và các hoạt động nhằm ngăn chặn các hoạt động chống tên lửa Liên Xô của không quân Mỹ. Sau một cuộc họp dài và nhiều tranh cãi nóng bỏng chúng tôi đi đến kết luận, trong điều kiện hiện nay chỉ có một lối thoát duy nhất - tự mình thực hiện các thử nghiệm nhằm thay đổi tần số làm việc của Trạm điều khiển và bộ hồi đáp của tên lửa, đồng thời tăng công suất của máy phát tín hiệu trả lời của tên lửa. Đại diện nhà thiết kế Trạm điều khiển tên lửa A.M. Eliseev cho biết việc thay đổi dải tần của Trạm điều khiển có thể thực hiện được một cách nhanh chóng và không gặp nhiều khó khăn, chỉ mất một vài ngày.
Để thử nghiệm xác định các thông số định tính và định lượng, và khả năng thay đổi khối điều khiển tên lửa, tôi đề nghị mở riêng các khối ФР-15 và ghi chép cụ thể các kết quả thực nghiệm. Đại sứ đặt câu hỏi: «Vì sao phải làm thế, và để làm việc đó mất bao nhiêu thời gian?» Tôi báo cáo, để thu được các dữ liệu thí nghiệm cần có từ 15 đến 20 khối ФР-15 lấy từ kho dự trữ các bộ phận thay thế, một Trạm thử nghiệm - kiểm tra di động vẫn dùng để kiểm tra toàn diện các tên lửa và các khối riêng biệt, một trạm phát điện, và cần ba ngày làm việc. (Còn tiếp) |
Dù đại diện nhà thiết kế cực lực phản đối việc mở các khối ФР-15 với lý do giữ bí mật tuyệt đối về chúng, nhưng Đại sứ I.S. Tsherbakov đã nhận toàn bộ trách nhiệm về cuộc thực nghiệm sắp tới về mình. Ông nói: «Còn có thể nói về giữ bí mật nào ở đây nữa cơ chứ? Khi phía Mỹ đã khám phá được «bí mật» đó rồi, đã thành công trong việc tạo nhiễu và dùng nhiễu để phá tần số điều kiển tên lửa của chúng ta. Tôi cho phép thực hiện thí nghiệm».
Thoả thuận cuối cùng của cuộc họp là quyết định cần tiến hành công việc thử nghiệm ngay lập tức, và làm hết khả năng để đưa tần số đã xác lập lại tới 3 MHZ về phía cao hơn. Ngay sau cuộc họp nhóm của chúng tôi, gồm Đại tá I. Shertobitov, đại uý V.Goncharenko, các thượng uý B. Aslamov, V. Berlog, A. Kopeikin, N. Chirkov và một số người khác đã bắt tay vào việc. Chúng tôi làm việc liên tục giữa rừng suốt 3 ngày đêm không nghỉ. Thật may mắn, các giá trị điện cảm và điện dung của блок ФР-15 vẫn còn khả năng hiệu chỉnh được, cho phép thực hiện việc thay đổi dải tần và tăng công suất máy phát, thế nhưng dải tần đặt lại của các khối lại khác nhau. Vì thế, khi việc thử nghiệm kết thúc chúng tôi đưa ra quyết định: Một phần các tổ hợp tên lửa sẽ được đặt lại dải tần đến 3 MHZ, một phần ở dải tần 1,5 MHZ và số còn lại sẽ không cần thay đổi. (Còn tiếp) |
Quyết định này dựa trên dự đoán rằng sự tồn tại đồng thời của ba dải tần khác nhau sẽ khiến phía Mỹ lúng túng, và cho phép chúng ta trong thời gian ngắn nhất có thể sửa lại và cung cấp cho phòng tuyến Hà Nội mỗi điểm một trạm đã được đặt lại dải tần với một tổ hợp tên lửa. Và nhiệm vụ đó đã được hoàn tất trước năm mới. Tuy nhiên, do thời tiết xấu không quân Mỹ tạm thời dừng bay. Vào đầu tháng giêng năm 1968 điều kiện thời tiết được cải thiện, và Mỹ quyết định tiếp tục thực hiện các phi vụ đánh phá thủ đô Bắc Việt Nam, có sử dụng chính các loại nhiễu các kênh quan trắc như trước. Nhưng lần này chúng đã thất bại cay đắng. Chúng tôi đã sẵn sàng chờ chúng đến. Tất cả các trạm điều khiển tên lửa phòng không đã chuyển sang làm việc trên ba chế độ khác nhau. Việc phóng các tên lửa ở chế độ chuẩn (chưa được đặt lại dải tần) không được tính đến.
Ngay loạt tên lửa đầu tiên, được đặt lại dải tần 3MHz máy bay dẫn đầu tốp của Mỹ đã bị bắn rơi. Các phi công Mỹ hoàn toàn không ngờ tới bước ngoặt này. Đội ngũ của chúng rối loạn, và cả phi đội quay đầu bỏ chạy. Thử nghiệm của chúng tôi đã thành công. Việc đặt lại dải tần của Trạm điều khiển tất cả 10 trung đoàn tên lửa phòng không quân đội nhân dân Việt Nam được thực hiện hết sức khẩn trương. Mỗi ngày số lượng trạm điều khiển được đặt lại dải tần càng nhiều thêm. Đó thật sự là một khối lượng công việc to lớn. Sau khi đặt lại các thông số về dải tần của trên ngàn tên lửa người ta còn phải kiểm tra chúng từng phần và toàn diện, phân loại theo các dải tần mới được đặt, ngụy trang thêm và ghi trên vỏ bọc về sự thay đổi các thông số, và việc phân bổ chúng tương ứng với các thông số này. Tại tất cả các trạm điều khiển có bộ đội tên lửa Việt Nam việc hướng dẫn học tập được các chuyên gia hàng đầu thực hịên. Trong quá trình làm việc người ta đồng thời cũng giải quyết các vấn đề khoa học kỹ thuật liên quan đến yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng tên lửa trong điều kiện nhiễu âm rất mạnh trên kênh phản hồi. Sức chiến đấu của tên lửa phòng không Việt Nam được phục hồi toàn diện. (Còn tiếp) |
Giờ đây, lại giống như trước kia, các phi vụ của quân xâm lược lại phải chịu các tổn thất nặng nề. Chỉ một tháng rưỡi trong năm 1968, kể từ ngày 1 tháng 1, trong 12 trận đánh đầu tiên 20 quả tên lửa được phóng lên, bắn rơi 5 máy bay F-105 của Mỹ. Trong 20 trận tiếp theo 27 tên lửa được sử dụng và tiêu diệt được 9 máy bay đối phương.
Như vậy, nhờ nắm vững kỹ thuật quân sự, sáng kiến, nhanh trí và kiên quyết các chuyên gia quân sự Xô Việt đã có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng các tên lửa С-75, có nghĩa là uy tín của đất nước cũng lên cao, làm phá sản hoàn toàn các kế hoạch quân sự của Mỹ. Các công việc mà các chuyên gia quân sự đã thực hiện được báo cáo lên Tổng Tư lệnh binh chủng Phòng không Liên Xô trong một công văn được gửi từ Hà Nội về Matscơva. Nhân tiện, chỉ trong tháng 4/1968 ngành công nghiệp quốc phòng Liên Xô đã chuyển sang Việt Nam những chi tiết mới dưới dạng dự trữ dùng cho việc hoàn thiện các khối ФР-15. Hiệu quả của chúng không được kiểm chứng, vì phía Mỹ sau khi cân nhắc các điều kiện bất lợi cho không quân của họ, đã tạm ngừng đánh phá miền Bắc Việt Nam cho đến cuối năm. Để kết thúc, với lòng biết ơn, tôi muốn nhắc lại tên các đồng chí đã từng sát cánh bên tôi trong khi thực hiện nhiệm vụ khó khăn và đầy vinh dự ở Việt Nam, những người đã không tiếc sức mình, không tiếc thời gian dành cho việc nâng cao sức chiến đấu của các tổ hợp tên lửa phòng không thuộc quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là V.I. Sherstobitov B.N. Pokrovsky B. Aslamov V.I. Berlog A.G. Kopeikin N.B. Chirkov V.G. Nekrasov A.N. Kovalev V.K. Goncharenko Iu. Shirokov Matscơva, tháng giêng năm 2001 Hết rồi, phù phù, may quá. Trân trọng cảm ơn bạn Fresco đã giúp Tykva dịch bài viết này :D |
@All: Chiều hôm nay Tykva nhận được điện thoại của bác Đăng Nguyên, người phụ trách dịch thuật và bản thảo cuốn sách "Chiến tranh Việt Nam. Điều đó đã xảy ra như thế nào" - hồi ký của các CCB Liên Xô đã từng tham gia chiến đấu ở Việt Nam. Bác Nguyên cho biết sau hai năm chờ đợi cuốn sách đã được xuất bản và hiện đang có bán tại 64 Quang Trung (Hà Nội) là hiệu sách thuộc NXB Chính trị Quốc gia. Xin trân trọng báo để các bạn biết.
|
Cảm ơn các bác về bài dịch trên, tuy đây chưa phải là một bài có tính thời sự nóng bỏng, nhưng lại là một bài viết mang tính chất cực kỳ ý nghĩa.
Qua bài viết, nó đã hé mở cho ta thấy một phần khó khăn của một trong những khí tài quân sự trong chiến tranh Việt Nam. Trong từng cuộc chiến, từng địa hình, từng quốc gia đều có những nét đặc thù riêng, do vậy sự khó khăn gặp phải không những nó cũng có nét riêng mà nó còn thay đổi thường xuyên. Nhất là phe đối địch, họ cũng có những thay đổi chiến thuật, kỹ thuật của trang bị khí tài hàng ngày, do vậy chúng ta cũng cần phải có những ứng phó thật linh hoạt cho từng cuộc chiến cụ thể. Bài viết đã dẫn mọi người sang một bước ngoặt mới. Từ trước đến nay, ở trên nhiều diễn đàn khác, họ có những khẳng định rất hùng hồn là, không hề có bất kỳ một sự cải tiến nào cho tên lửa của Liên Xô khi đã sang đến Việt Nam, họ viết rằng - vốn dĩ tính năng kỹ thuật nguyên bản của nó đã có thể hạ rơi máy bay địch chứ chẳng cần đến một cải tiến, sửa đổi nào dù nhỏ nhất. Họ cũng có đưa ra những hình ảnh nào đó nhưng họ phân tích vấn đề chưa được trọn vẹn, nên sự việc bị lái theo một hướng khác. Tôi rất tự hào rằng, hầu hết những bài viết trong diễn đàn của chúng ta được mọi người dịch lại đều theo những nguồn tin tương đối tin cậy (ví dụ như bài viết trên), do đó chính diễn đàn của chúng ta mới là người "chiến thắng" Quay trở lại chủ đề, đến nay chúng ta có thể khẳng định được rằng: Tên lửa S – 75 (SAM2) đã được cải tiến tại Việt Nam dưới sự trợ giúp của chuyên gia Liên Xô, đây mới là một phần nổi còn lại phía sau thì có lẽ ta chưa được biết hết. Vậy còn các bài báo đã đưa sự việc là cải tiến tên lửa trong chiến tranh Việt Nam, vậy có đúng không? – Chúng ta có thể tin rằng, tên lửa S – 75 đã có những cải tiến nhất định trên các блок ФР-15 để tăng công suất máy phát và thay đổi lại giải tần số… Vậy tại sao các báo lại viết là có cải thiện tầm cao của tên lửa? – Vâng! Các bài báo viết trong chiến tranh (kể cả thời bình đi nữa) thì như chúng ta đã biết rồi, có nên nói cho cả thế giới biết là tôi đã cải tiến mục A và mục B… trong vũ khí của tôi không! Tất nhiên là không rồi (và dĩ nhiên là Mỹ, họ không ngu đến mức tin rằng ta nâng tầm cao của tên lửa từ 9 lên 10km… – vì nếu ai là người có biết chút ít sơ đẳng về tên lửa trên thế giới cũng có thể thừa biết được tầm bay của tên lửa Liên Xô ở thời kỳ đó) , và cũng còn lẽ khác là các nhà báo không thể biết được vấn đề cải tiến là gì – ngay đến cấp sư đoàn của chúng ta cũng chưa chắc được biết vì đây là vấn đề tuyệt mật quốc gia. Cho đến ngày nay, trong những bài viết mới, họ đều dựa trên nguyên tác để mà viết lại mà thôi. Còn về vấn đề cải tiến thì có lẽ chẳng cần phải bí mật, vì phe đối địch họ sẽ nhận ra được ngay sau khi bị thất bại, nên các báo cứ việc "thoải mái" đưa tin (có lẽ lại còn làm cho kẻ địch bị hoang mang vì "chẳng biết đường nào mà lần"). Vậy còn giờ đây tại sao lại không giữ bí mật nữa? – cũng đơn giản là những loại vũ khí đã lỗi thời và không còn được sử dụng nữa, thì chỉ có cách là đưa vào bảo tàng hoặc đem ra làm dụng cụ hướng dẫn mà thôi, nên tính bí mật chẳng còn thích nghi nữa, cái cốt lõi là có thể tìm thấy toàn bộ tài liệu lịch sử về nó hay không mà thôi. Một lần nữa xin cảm ơn các bác về bài viết rất bổ ích này. |
đóng góp cho bác Misa 1 bài của tác giả Ilya V. Gaiduk về chủ đề bác đã nêu.
Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam Lời tác giả Mặc dù trong suốt cuộc chiến tranh, Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được hai đồng minh hùng mạnh Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, nhưng các nước này lại không được các nhà sử học nghiên cứu về cuộc chiến Đông Dương để ý tới. Hiện còn một khối lượng lớn tài liệu viết về chính sách của Mỹ, vô số tài liệu phân tích chính sách của Bắc Việt Nam và còn nhiều bài báo về chính sách của Trung Quốc. Nhưng người ta có thể uổng công vô ích cũng không tìm ra một tài liệu phân tích toàn diện về các hoạt động của Liên Xô trong cuộc chiến tranh này cùng các chính sách của Moskva. Rút cuộc thì Liên Xô không phải là người trực tiếp tham chiến. Moskva đã cung cấp cho Bắc Việt Nam những khoản viện trợ quân sự và kinh tế then chốt cần thiết cho Hà Nối đối phó lại cả Mỹ lẫn chế độ Nguỵ Sài Gòn. Moskva còn hỗ trợ tuyên truyền xuất bản và phát thanh lên án tội ác của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Nhưng nhìn chung Liên Xô luôn cố duy trì một vị thế thấp đối với cuộc chiến, thường đứng sau hậu trường và có nhiều hoạt động gián tiếp, tránh công khai lộ mặt trong các hoạt động ngoại giao. Không những vậy mà hầu hết các tài liệu trong hồ sơ của người Nga có thể cho thấy vai trò của Moskva trong cuộc xung đột này vẫn không hề tìm kiếm được Việc đưa ra công khai các tài liệu mật tương tự như vậy trong kho tài liệu mật của Mỹ chỉ mới được tiến hành gần đây. Việc xuất bản các tuyển tập đàm phán về các tài liệu của Quốc hội Mỹ năm 1983 là khởi điểm của quá trình này, nhưng phải đến sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 các quan chức Mỹ mới sẵn sàng đưa ra các tài liệu đủ để phác hoạ bức tranh ít nhiều có tính toàn diện về quan hệ Xô-Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Và không thể chỉ xuất phát từ các tài liệu này để tìm ra lời giải đáp cho nhiều vấn đề liên quan đến việc Liên Xô dính líu vào cuộc xung đột này như các vấn đề bản chất quan hệ giữa Moskva - Hà Nội, đánh giá của các quan chức Liên Xô về cuộc chiến cùng ảnh hưởng của nó đối với quan hệ quốc tế, và vị trí của Việt Nam, Đông Dương trong việc hoạch đinh chính sách đối ngoại của Liên Xô. Những phân tích đánh giá có tinh lịch sử của Liên Xô và Nga chỉ gây thêm khó khăn cho những người quan tâm đến chính sách của Liên Xô. Các tài liệu viết về Việt Nam ở Liên Xô thường không khách quan. Hầu hết các sách này xuất hiện trong hoặc ngay sau khi xảy ra xung đột ở Đông Dương do các nhà báo viết ra miêu tả sự việc theo quan điểm tư tưởng chính thức. Họ đều không có ý đánh giá toàn diện về cuộc chiến tranh này, bỏ qua đánh giá về chính sách của Liên Xô đối với chiến tranh. Nhiều cuốn sách khác của các quan chức Đảng và Chính phủ biện minh cho sự dính líu của Liên Xô trong cuộc chiến Việt Nam, và đang được nhắc lại trong các bài xã luận đăng trên báo sự thật cũ của Liên Xô. Nhưng điều quan trọng hơn là nhiều việc đã bị bỏ qua. Các nhà học giả Liên Xô cũng đã có đóng góp vào việc nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, nhưng hoạ hoằn lắm mới buộc phải sử dụng đến các nguồn thông tin hỗ trợ khác, và các tài liệu nghiên cứu của họ chỉ hạn chế trong khuôn khổ quy định của hệ tư tưởng chính thống và quyền lợi quốc gia. Hơn nữa, ngay sau thắng lợi của những người cộng sản ở Nam Việt Nam và sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn cũ, sự chú ý của các nhà học giả Liên Xô đối với chiến tranh này ngày càng suy giảm và không bao giờ trở lại như xưa nữa. Việc thiếu tài liệu và ít quan tâm đến cuộc chiến tranh Việt Nam đã tạo ra tình trạng thiếu hiểu biết nghiêm trọng về cuộc xung đột ở Đông Nam Á và vai trò của Liên Xô trong cuộc xung đột đó. Cuộc đảo chính không thành hồi tháng 8-1991 và sự tan rã của Liên Xô đã đưa tới sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Nga. Để chuẩn bị xét xử Đảng cộng sản Liên Xô (CPSU) các nhà lãnh đạo mới của Nga đã mở lại hồ sơ của Đảng tìm kiếm bằng chứng chống lại chế độ cộng sản cùng các đại diện chế độ đó. Kể từ khi Đảng cộng sản kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực chính sách và đời sống ở Liên Xô, đây là lần đầu tiên các tài liệu quan trọng về chính sách đối ngoại của Liên Xô lưu trữ trong hồ sơ đã được đưa ra công khai cho các quan chức của chế độ mới cùng các nhà học giả nghiên cứu. Do đó một số thoả thuận giữa cơ quan lưu trữ hồ sơ của Liên Xô và các tổ chức khoa học Nga và quốc tế, các nhà nghiên cứu được tạo điều kiện thuận lợi tiếp xúc các tài liệu lưu trữ. Một thoả thuận như vậy được ký kết giữa Trung tâm lưu trữ tài liệu hiện hành (tên đặt sau đảo chính của cơ quan lưu trữ hồ sơ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô), Viện lịch sử thế giới của Viện hàn lâm khoa học Nga, và Dự án lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh thuộc Trung tâm các nhà học giả quốc tế Woodrow Wilson ở Washington. Thoả thuận này quy định rằng các học giả Nga và phương Tây tham gia dự án này được tiếp cận với các tài liệu "đã hết bí mật" trong hồ sơ lưu trữ của Đảng cộng sản Liên Xô, và cuối cùng các tài liệu này sẽ có thể công khai cho mọi người có nguyện vọng nghiên cứu lịch sử chế độ cộng sản Liên Xô (Tôi là một trong những người tham gia vào dự án trên). Đây là cơ hội duy nhất đối với các nhà sử học đọc các tài liệu được tiết lộ từ hồ sơ của Đảng cộng sản về chính sách trong Chiến tranh Lạnh của Liên Xô. Như mọi người đã biết, quá trình phân loại các tài liệu hết tính bí mật diễn ra chậm chạp so với đòi hỏi cần nhiều tài liệu mới của các nhà sử học, Ban lãnh đạo Trung tâm lưu trữ tài liệu hiện hành (TKHSD) đã đồng ý tiến hành biện pháp (chưa có từ trước tới nay) mở các tài liệu còn độ mật với ý định sau này sẽ đưa công khai ra trước công luận. Vì tôi là một trong số ít các nhà học giả tập trung nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam (là người Nga duy nhất có mối quan tâm như vậy) đã nhận được rất nhiều tài liệu mật và tối mật về quan hệ Liên Xô và Bắc Việt Nam, các hoạt động của Liên Xô trong quá trình chiến tranh Việt Nam, những đánh giá của Moskva về cuộc chiến và ảnh hưởng của nó đối với vị trí của Liên Xô ở Đông Nam Á trên chính trường quốc tế. Những tài liệu này gồm các báo cáo hàng quý, hàng năm của Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội: báo cáo về các cuộc trao đổi của các quan chức Liên Xô và ngoại quốc; các báo cáo tin tình báo của KGB và GRU (tình báo quân đội), được chuẩn bị tại hai vụ quốc tế của Ban chấp hành Trung ương (Vụ quan hệ với các Đảng cộng sản và công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, Vụ quan hệ với các đảng cầm quyền tại các nước xã hội chủ nghĩa) thực sự đã làm đảo lộn cách nhìn cũ của tôi về chính sách của Liên Xô đối với cuộc chiến Việt Nam cùng quan hệ của Moskva với đồng minh Bắc Việt Nam. Chính sách của lịch sử hoá ra không phải là trung thực và nhất quán như hoạt động tuyên truyền của những người cộng sản cố tạo dựng lên. Thay vào đó là một chính sách phức tạp và đầy tranh cãi, mâu thuẫn. Ý tưởng viết một cuốn sách về chính sách của Liên Xô đối với chiến tranh Việt Nam thoạt đầu do các đồng nghiệp của tôi nêu ra. Sau khi đọc báo cáo của tôi chuẩn bị cho một hội nghị về bằng chứng mới trong lịch sử Chiến tranh Lạnh được tổ chức ở Moskva hồi tháng 1 năm 1993, họ đã động viên tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, và vì mục đích đó tôi sẽ sử dụng sáu tháng sang Mỹ để tìm tài liệu trong hồ sơ của Mỹ. Trên thực tế sự tổng hợp các tài liệu của Liên Xô và của Mỹ như vậy đã làm bức tranh toàn cảnh về chính sách của Liên Xô ở Đông Nam Á trong những năm chiến tranh đó ngày càng hoàn chỉnh và rõ ràng hơn. Tuy nhiên, mùa gặt hái của các học giả tìm tài liệu trong hồ sơ lưu trữ của Nga đã nhanh chóng đi đến màn kết thúc ở Moskva. Một bằng cớ cho việc các quan chức Nga thay đổi hẳn chính sách đã được tìm thấy trong mớ tài liệu về Việt Nam, và việc tờ Thời báo New York đăng tải một báo cáo của Bắc Việt Nam về số lượng các tù binh chiến tranh người Mỹ. Điều này đã gây tranh cãi ngoại giao và hàng loạt lời buộc tội lẫn phản bác trong giới quan chức ở Nga, Mỹ và ở Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Quan trọng hơn là các nhà lãnh đạo Nga thừa nhận một cách muộn màng rằng các tài liệu để trong kho hồ sơ lưu trữ của Đảng có thể được dùng để phục vụ cho các mục đích chính trị của riêng họ và chỉ được đưa ra vào những thời điểm thích hợp, nhưng không đưa ra công khai toàn bộ các tài liệu đó. Kết quả là các quan chức đã quyết định chấm dứt toàn bộ việc thu thập tài liệu ở Trung tâm lưu trữ nói trên, bao gồm cả các tài liệu về Cuộc chiến tranh Việt Nam. Lại một lần nữa các nhà sử học quan tâm đến Cuộc chiến Việt Nam phải đào bới tìm kiếm từng mẩu thông tin trong các ấn phẩm chính thức của Liên Xô, sách vở, các báo cáo của các giới chức thẩm quyền về hồ sơ lưu trữ của Nga trong nhiều hội nghị ở nước ngoài, và một số tài liệu được dành riêng cho các khách du lịch trong Trung tâm lưu trữ trên. Trong bối cảnh như vậy, nhu cầu viết một cuốn sách dựa trên cơ sở chủ yếu là các tài liệu mật của Liên Xô cũng như các tài liệu được đưa ra công khai mới đây của hồ sơ lưu trữ Mỹ ngày càng trở nên cấp bách hơn. Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi kết thúc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, và chúng ta cần phải có sự đánh giá, phân tích khách quan và toàn diện về kết quả, cùng hậu quả của cuộc xung đột này đã ảnh hưởng khủng khiếp đến như thế đối với sinh mệnh của hàng ngàn người Mỹ và Việt Nam, cũng như đối với các quan hệ quốc tế trong Chiến tranh Lạnh. Cuốn sách này không phải là sự liệt kê toàn diện các sự kiện xảy ra trong suốt những năm tháng của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai. Nó càng không phải là sự khái quát chung về chính sách của Liên Xô trong giai đoạn đó. Thay vào đó, để phân tích được chính sách ngoại giao của Liên Xô đối với cuộc xung đột ở Đông Nam Á. Tôi xin tập trung phân tích các nhân tố, xu hướng và động cơ hành động đã ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định chính của Liên Xô trong những năm đó. Một sự phân tích như vậy bao trùm tổng thể quan hệ Liên Xô với một số nước. Hiển nhiên là các mối quan hệ với Bắc Việt Nam và với Mỹ chiếm một vị trí quan trọng trong các kế hoạch của Moskva đối với cuộc chiến tranh. Việc quan hệ với Trung Quốc ngày càng xấu đi, và tình trạng thù địch giữa hai cường quốc cộng sản này càng tăng cũng ảnh hưởng lớn đến phương hướng, chính sách của Liên Xô, và đôi khi quyết định quan điểm về chiến tranh của Ban lãnh đạo Liên Xô cùng các giải pháp ngoại giao của họ. Hơn nữa, trong chính sách Việt Nam của mình, Liên Xô còn phải xem xét đến các nước đồng minh Đông Âu; Anh là nước đồng chủ tịch Hội nghị Geneva; Pháp là nước tham gia Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào những năm 50 và nước chủ nhà tổ chức Hoà đàm Paris về Việt Nam trong giai đoạn 1968-1973. Cuốn sách của tôi bắt đầu từ 1964, một năm quá độ cho cả Mỹ lần Bắc Việt Nam. Lúc đó vẫn có thể tránh một cuộc đối đầu quân sự thông qua việc tiến hành hội đàm đi tới thoả hiệp hoặc ít ra cũng tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước này. Lúc đó thực ra không có một cản trở nào đối với một tiến trình như vậy, trừ những định kiến mạnh của các nhà lãnh đạo Mỹ về Chiến tranh Lạnh và ý chí quyết tấm chặn đứng chủ nghĩa cộng sản. Các cuộc ném bom của Mỹ chống Bắc Việt Nam sau này đã làm tiêu tan các khả năng đi đến một giải pháp hoà bình sớm sủa cho cuộc xung đột này. Năm 1964 cũng là một năm quá độ đối với phía Liên Xô. Thái độ của Liên Xô đối với cuộc xung đột ở Đông Dương chuyển biến dần dần từ một chính sách không can dự vào các sự kiện xảy ra đến chính sách ủng hộ mạnh mẽ những người cộng sản Việt Nam và cuộc đấu tranh của họ. Bước ngoặt trong thay đổi chính sách này chính là cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ hồi tháng 8 năm 1964. Việc nghiên cứu dừng lại ở thời điểm 1973, năm mà các bên ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hoà bình ở Việt Nam. Việc này chấm dứt sự dính líu trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến và mở ra một giai đoạn mới của cuộc xung đột là giai đoạn đối đầu giữa hai thế lực thù địch người Việt mà không có sự can thiệp nước ngoài. Giai đoạn sau năm 1973 cũng được đánh dấu bằng hàng loạt những diễn biến mới trong quan hệ quốc tế và quan hệ tay đôi giữa các nước này-và cần được phân tích trong một cuốn sách khác. Tôi không hề có ý muốn đánh giá có tội hay vô tội đối với mỗi nước tham gia cuộc xung đọt này hoặc để tìm ra kẻ thù ác trong quá trình Chiến tranh Việt Nam. Những nước tham chiến xác định hành động của mình bằng các hệ thống giá trị khác nhau đến nỗi đôi khi khó có thể tìm ra được sự tương đồng nhỏ nhất giữa các giá trị này. Điều mà bên này cho là đúng đắn lại hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với bên kia. Chính phủ Mỹ coi hành động của họ là đúng đắn vì mục đích của họ là nhằm ngăn chặn sự chà đạp của người cộng sản đối với quyền tự do của nhân dân Nam Việt Nam. Còn Hà Nội thì tuyên bố cuộc chiến tranh của mình là chân chính và vì phẩm giá trên cơ sở chủ quyền quốc gia, thống nhất nước Việt Nam, và giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị tư bản. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô lại có các động cơ riêng, tuy gần gũi với các động cơ của Bắc Việt Nam nhưng vẫn không hoàn toàn tương đồng. Mỗi bên tham gia trong cuộc xung đột đều có thể đưa ra hàng ngàn những ví dụ chứng minh cho hành động vô nhận đạo của phía đối phương. Nhưng các nhà lãnh đạo của bất cứ nước nào tham gia cuộc xung đột này đều được hướng theo những xem xét, cân nhắc về đạo lý. Đặc biệt trong trường hợp ngoại giao, đạo lý được coi là cơ sở chủ yếu cho các hoạt động tuyên truyền. Để cố gắng thấu hiểu được động cơ và chính sách của các nhà lãnh đạo chính trị, tôi hoàn toàn chia sẻ kết luận của nhà sử học người Anh F.A. Simpson rằng: "Cách thức dễ dàng nhất để viết sử hay để xây dựng lên những người anh hùng hoàn hảo và những kẻ hung đồ thực sự. Đó không chỉ là sự tìm tòi khám phá ra các đặc điểm nhân vật vô giá về nghệ thuật mà việc phát hiện ra chúng thực sự là quá trình loại bỏ các bằng chứng. Nhiệm vụ thẩm tra các bằng chứng thật tẻ nhạt, và kết quả thu lại là có thể làm mất đi hình tượng người hùng và gần như chắc chắn là mất đi chất hung đồ của con người". Để thấu hiểu được các động cơ trong chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam, toi không thể lẩn tránh nhiều vấn đề quan trọng: mức độ Moskva nghiêng về tăng cường quan hệ với phương Tây, đặc biệt là với Mỹ ảnh hưởng đến các quyết định của Kreml ủng hộ Bắc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ như thế nào? Việc lo củng cố uy tín trong Phong trào cộng sản thế giới và cuộc cạnh tranh với Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định đến thái độ của giới lãnh đạo Liên Xô đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam không? Liệu có sự mâu thuẫn giữa việc Liên Xô viện trợ quân sự cho Hà Nội và Liên Xô khuyến khích một giải pháp thông qua đàm phán đối với cuộc xung đột này không? Tôi không hề ngần ngại để đưa ra các câu trả lời có tính chất khẳng định đối với các câu hỏi này cũng như các câu hỏi khác. Không phải toàn bộ các tài liệu về vấn đề trên đều sẵn có cho tôi nghiên cứu phân tích, ngay cả khi hồ sơ lưu trữ ở Nga đã có lúc được công khai mở cửa cho nghiên cứu hơn hiện nay. Một số tài liệu chứa đựng các bằng chứng trực tiếp về quá trình ra quyết định ở cấp cao nhất hiện được lưu giữ ở Kreml và không thể tiếp cận được. Những người hy vọng tìm kiếm được thêm nhiều chi tiết về nội dung, về việc hợp tác về kinh tế, quân sự giữa Liên Xô và Bắc Việt Nam, cũng như về các chiến dịch tuyên truyền ủng hộ nhân dân Việt Nam, có thể bị thất vọng, vì cuốn sách này chỉ tập trung nghiên cứu phân tích về mặt ngoại giao của cuộc xung đột này và dành lại tất cả các lĩnh vực khác để mọi người nghiên cứu đánh giá thêm. Về mặt nào đó, quyển sách này chỉ là một toan tính để phụ hoạ thêm cho biểu tượng lịch sử đáng chú ý của cuộc chiến tranh Việt Nam hiện vẫn tồn tại sinh động trong thế giới Tây phương, với cái nhìn từ "phía bên kia chiến tuyến". Cách nhìn này có thể là lần đầu tiên, chỉ dựa trên các bằng chứng hồ sơ tài liệu. Nhưng có nhiều vấn đề, mối liên hệ cùng các khoảng cách khác nhau trong nhìn nhận vấn đề cần phải giải quyết. Khi việc mở kho hồ sơ lưu trữ ở Nga, cũng như ở Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp tục, thì sẽ có nhiều cơ hội để nghiên cứu viết thành một lịch sử quốc tế toàn diện về cuộc xung đột này và để đóng góp giúp hiểu biết sâu sắc hơn về Kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh với đầy rẫy những nghịch lý của nó… |
Chào bạn Gấu Misa! Tôi có vài thông tin cho bạn đây.
Từ 1965 đến 1975 đã có tất cả hơn 11.000 chuyên gia quân sự LX sang giúp VN (lần lượt thay phiên nhau, thời hạn ở VN là 1 năm). Phía Nga hiện nay cũng chưa rõ là đã có 11 hay 16 người hy sinh tại VN (chỉ 1 trong 2 con số này thôi), nhưng có 1 điều chắc chắn là chỉ có duy nhất 1 người hy sinh ngay trên vị trí chiến đấu (thượng sĩ Smirnov). LX đã cung cấp cho VN 95 giàn phóng tên lửa Двина СА-75 (ta quen gọi là SAM-2), sau chiến tranh còn 39 giàn nguyên vẹn (số kia đã hư hỏng trong chiến đấu), 7658 quả tên lửa (mỗi quả giá 22.000 rúp - tương đương 4 cái ô-tô Volga). Tổng viện trợ mọi mặt của LX cho VN là 15,1 tỉ USD (theo thời giá bấy giờ). Tạm thời thế đã nhé. |
Chào bác Gấu Misa! Tôi hì hục gõ gần 1 trang, cung cấp cho bác bao nhiêu là số liệu, thế mà post lên thì nó bay mất đâu ý, chán quá! Tại mình kém, ko thành thạo ý mà.
|
Kính gửi chú nthach. Chú đừng băn khoăn làm gì, chú cứ vào nhat-nam.ru/vietnamskaia mà đọc là hết băn khoăn ngay mà. Nhân tiện tải luôn mấy phim tài liệu về, trong ấy ông chuyên gia Shavkun râu xồm nói giọng đặc sệt dân vùng lưu vực sông Volga (okatch) kể rất rõ về những sự cải tiến ấy. Ko phải 9-10 cây số đâu, ngày 1.5.1960 chính tên lửa Dvina S-75 đã bắn rơi U-2 ở độ cao 20 cây số trên bầu trời Sverdlov đấy. Power bị bắt làm tù binh và đưa ra xét xử, còn trong mấy chiếc MiG-19 bay lên thì có 1 chiếc bị tên lửa ta bắn tan xác - vì bắn nhiều quả cho chắc ăn, phi công hy sinh nhưng LX lờ đi chuyện này (phim Aviatory, vypusk 74, cũng trong forum ấy). Còn về việc Mỹ biết các thông số kỹ thuật của Dvina S-75 thì trong chiến tranh Trung Đông 1967 Israel tịch thu được giàn tên lửa còn nguyên vẹn của LX cấp cho Ai Cập, Mỹ "ngâm cứu" thì ra ngay thôi, cho nên hiệu suất bắn của ta từ 1,5 quả/1 máy bay Mỹ giảm xuống chỉ còn 20 quả/1 máy bay, cả 1 đoàn chuyên gia LX phải sang ngay. Trước khi đoàn chuyên gia sang thì có chuyên gia am hiểu đề nghị tháo bộ phận nào ấy ra chỉnh lại, nhưng sợ vi phạm bí mật của nhà máy sx, đại sứ LX tại VN Ilia Sherbakov bảo: "Mỹ nó chả biết hết rồi, bí mật cái gì nữa, tôi cho phép anh tháo ra mà chỉnh, có gì tôi chịu!". Chú vào trang ấy mà đọc, các chuyên gia kể hết, chẳng giấu gì cả vì đã 30 năm trôi qua rồi, có gì bí mật nữa đâu mà phải giữ!
|
Kinh gửi chú nthach. Chú vào nhat-nam.ru/vietnamskaia voina/dokumentalnye filmy sẽ tải được nhiều phim hay: "Война во Вьетнаме - как это было", "Война в джунглях", "Вьетнам: секрет победы", "Танец со смертью", "The other Vietnam" và 12 tập phim tài liệu (mỗi tập 50 phút) của kênh Discovery nói về chiến tranh VN từ năm 1945 đến 1975, phân tích rõ nhiều khía cạnh của cuộc chiến (lịch sử, chính trị, ngoại giao, quân sự). Cách thức dạy bộ đội VN sử dụng tên lửa ra sao, Mỹ thích nghi thế nào...các chuyên gia kể rõ hết. Các số liệu về viện trợ QS của LX cho VN có trong phim "The other Vietnam". Tất cả các phim đều thuyết minh bằng tiếng Nga. Sách thì có "Индокитай: пепел четырёх войн" (М.М. Ильинский), "Война во Вьетнаме" (F. Davidson). Tha hồ cho chú say sưa nghiền ngẫm.
|
Nếu bác nào quan tâm đến cuộc chạy đua giữa máy bay và tên lửa đất đối không thì vào nhat-nam.ru/dokumentalnye filmy mà tải phim "Авиаторы - выпуск 74" về mà xem những điểm mạnh-yếu của cả 2 phía cùng các hệ thống tên lửa phòng không C-75, C-125, C-200, C-300, C-400 của Nga nhé. Bạn nào không biết tiếng Nga mà quan tâm đến chủ đề này thì vào wikipedia.org/gõ "rolling thunder"/operatin rolling thunder rồi chuyển sang tiếng Việt mà đọc, muốn biết về tên lửa thì click vào SA-2 Guideline màu xanh trong bài, sẽ có đầy đủ các thông số kỹ thuật về các đời SAM-2.
|
À, quên mất, bác nào khoái tìm hiểu về chiến tranh giữa bầu trời và mặt đất thì tìm đọc quyển gì (tôi quên mất tên) của hoa tiêu số 1 VN Trung tá Nguyễn Thành Chơn, trong ấy kể nhiều chuyện hay lắm (rằng khi tốp máy bay đầu tiên của ta từ TQ về phải bay thật thấp theo thung lũng sông Hồng để giữ bí mật, bị pháo cao xạ ta bắn, may mà ko sao, rồi đến trận Hàm Rồng 3.4.1965 Mỹ bị bất ngờ nên ta hạ 2 chiếc của Mỹ mà ko thiệt hại, hôm sau đánh nhau trận nữa, Trần Hanh hết xăng phải hạ cánh xuống vùng núi Quỳ Châu - Nghệ An, 3 chiếc của ta bị hạ [trong khi phi công Mỹ chẳng báo cáo là hạ được chiếc nào của ta!] - chứng tỏ là cao xạ ta hạ máy bay ta [vì có biết đâu là ta đã có máy bay!], rồi sau khi tên lửa ta hạ nhầm máy bay ta thì khi máy bay ta xuất kích là tên lửa phải nằm im, khi nào bên không quân thông báo là "về đủ rồi!" thì tên lửa mới được bắn, ấy thế mà có lần ta về gần đến sân bay đủ cả, báo sang bên tên lửa thì phi công bay cuối cùng của ta lại hăng máu quay lại choảng nhau, bắn được một chiếc, hài lòng quay về, đến Thạch Thất thì bị tên lửa ta bắn, phi công giỏi, tắt động cơ cho máy bay rơi tự do [tránh bộ phận tầm nhiệt gắn ở đầu đạn tên lửa], tên lửa vụt qua lại khởi động máy, bay tiếp, nhưng đen đủi là gặp phải sĩ quan tên lửa cự phách, đ/c này phóng 1 quả rồi phóng tiếp quả thứ 2 ở tầm thấp hơn vài trăm mét đón đầu, thế là...dính! Rồi ta kỳ công lừa Mỹ ra sao để phi công Đỗ Văn Rạng hạ được cái B-52 đầu tiên trên bầu trời Quảng Bình, rồi chuyện ta nhồi cát vào bom cho phi công bay sát mặt biển tập quăng bom nhảy thia lia trên mặt nước để MiG-17 ra quăng bom vào tàu chiến Mỹ ngoài khơi Quảng Bình, Mỹ ko sao bắn được vì tàu nó cao, máy bay ta quăng bom xong thì bay là là sát mặt biển chạy về, nó chịu chết, rồi ngày đen tối của không quân ta (2.1.67) ra sao, ta bị nó lừa vào bẫy thế nào, rồi phi công ta ko bay được khi trời mưa mà nó thì cứ vào thả bom vô tư, ta biết sóng liên lạc của máy bay ta nó nghe được hết bèn đánh giặc mồm ra sao, rồi 12 phi công Bắc Triều tiên sang ta học cách đánh Mỹ bằng MiG-17 mà lại anh hùng đến nỗi lên máy bay ko thèm đeo dù, kết quả là cả 12 yên nghỉ trên vùng đồi Yên Thế (Bắc Giang), rằng đại bàng số 1 Nguyễn Văn Cốc cũng bị bắn cháy 2 lần, may là ko sao, kịp nhảy dù, rồi dẫn đường cho Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều đánh B-52 vào tháng 12.1972 thế nào (Phạm Tuân bắn tên lửa ở cự ly 2 km nên thành công, Vũ Xuân Thiều vào gần quá nên tên lửa ko nổ, thế là lao cả MiG-21 vào B-52 quyết tử [dưới 1200 mét thì tên lửa hoặc là ko chịu bay ra, hoặc là bay ra mà bay ko trúng đích, hoặc trúng thì cũng ko nổ] v.v...Nhiều cái hay lắm, chỉ tiếc là tôi quên, ko nhớ quyển ấy tên là gì (nó vẫn ở trong nhà tôi, nhưng chảbieest ở xó nào vì tôi nhiều sách, lại bừa bộn).
|
Cũng trong quyển sách của Trung tá Nguyễn Thành Chơn ấy có kể về chuyện ta lập mưu bắn rơi được một ace (tạm dịch là "đại bàng" - tức là phi công giỏi của Mỹ). Mình không nhớ nó tên là gì. Tên này có kỹ thuật bay điêu luyện, nó đã hạ của mình 4 máy bay rồi và tỏ ra rất kiêu ngạo (nó có thể bay ngửa bụng mà vẫn hạ được máy bay đối phương). Dạo ấy Mỹ thường dùng F-105 Thunderchief (Thần sấm) mang bom đánh phá mục tiêu, còn F-4H Phantom (Con ma) đi bảo vệ lũ Thần sấm (lũ này khỏe, chở nặng, nhưng vụng - xoay sở kém, đánh nhau với MiG thì chắc chết). Cái tên ace này ngông nghênh lắm. Một lần nó dẫn đầu tốp F-4H bảo vệ tốp F-105 đi đánh kho xăng Đức Giang (Gia Lâm). Mình cho 2 chiếc MiG-17 lên gây sự. Tên ace này ngứa mắt, ra lệnh cho lũ F-4H iếp tục đi bảo vệ bọn F-105, còn nó thì tách ra nghênh chiến với 2 chiếc MiG của ta. 2 chiếc MiG cứ như 2 con chèo bẻo nhào lộn xung quanh chiếc F-4H của tên này, nó phóng tên lửa mấy lần đều trượt, mà mình bắn nó cũng trượt vì nó bay rất "siêu" (MiG-17 bé, chỉ có 2 khẩu pháo 30 ly, F-4H có 8 quả tên lửa không đối không [lúc đầu Mỹ lắp cả súng máy 6 nòng, nhưng thấy cản gió làm chậm và rung máy bay nên gỡ ra], F-4H bay nhanh nên vòng lượn rộng, MiG-17 bay chậm nên bán kính lượn nhỏ, dễ xoay sở hơn [bạn cứ tưởng tượng bạn ngồi trên xe máy đuổi bắt 1 người đi xe đạp trên một bãi rộng thì sẽ thấy khó bắt cái thằng chậm nhưng ngoắt ngoéo ấy như thế nào!]. 2 chiếc MiG cứ vờn, vờn mãi, nhưng là có chủ ý - điệu nó về sân bay Đa Phúc. Tên ace của Mỹ mải vờn nên không để ý là cứ đi xa dần chỗ cũ [cùng 1 lúc phải "chiến" với 2 đối thủ không dễ tí nào!]. Về đến sân bay Đa Phúc thì đột nhiên 2 chiếc MiG bỏ cuộc, không vờn nữa mà chúi xuống đất - chạy! Tên kia chưa kịp hiểu gì thì thấy dưới mặt đất cả một vùng đột ngột khói: vài chục họng súng pháo cao xạ đang nhả đạn như mưa vào nó. Tất nhiên là trong làn mưa đạn ấy thì tránh làm sao được! Nó trúng đạn, nhảy dù và bị ta tóm sống. Nó cay, bảo: "VN chơi không quân tử, nếu cứ để tôi "chiến" với 2 cái MiG kia thì thế nào tôi cũng thắng!". Mình bảo nó: "Là tù binh rồi còn cãi à? Giỏi thế sao bị bắn rơi?".
|
Còn chuyện phi công Đỗ Văn Rạng hạ chiếc B-52 đầu tiên thì thế này. Dạo 1966-1967 Mỹ cứ cho B-52 ra rải thảm khu vực Vĩnh Linh. Mình điều 1 trung đoàn tên lửa vào rình bắn nó nhưng bắn mãi không được vì nó gây nhiễu ghê quá, trên màn hình ra-đa cứ có hàng trăm chấm sáng 1 lúc, làm sao biết đâu là mục tiêu thật, đâu là mục tiêu giả! Nếu chọi nhau với MiG thì nó chết ngay vì nó to, bay chậm (tối đa 1100 km/h, MiG-21: tối đa 2250 km/h), nhưng khó cho mình là hễ MiG mình xuất kích là nó biết ngay, nó cho 1 tốp máy bay tiêm kích F-4H từ sân bay Cửa Việt gần sông Bến Hải lên bảo vệ ngay trong khi ssan bay gần khu vực Vĩnh Linh nhất là sân bay Sao Vàng ở mãi ngoài Thanh Hóa. Mình nghĩ ra 1 mẹo: làm 1 đường băng bằng đất nện ở Quảng Bình, dùng trực thăng cẩu 1 chiếc MiG-21 vào để đấy (trực thăng bay thấp thì ra-đa Mỹ trên tàu ngoài vịnh Bắc Bộ mới không phát hiện được). Để nó không phát hiện ra sân bay (ngày nào nó chả cho máy bay ko người lái bay tít trên cao chụp ảnh rồi về phóng to lên, thấy hết) mình cử dân quân hàng ngày chặt cành cây về cắm đầy đường băng, tưới nước cho tươi. Đến hôm ra quân thì thế này: B-52 nó gần đến Vĩnh Linh thì mình cho 1 chiếc MiG-21 twf sân bay Sao Vàng bay vào đối đầu. Nó lập tức điện cho sân bay Cửa Việt, 1 tốp F-4H lên ngay. Mình ra lệnh cho MiG của mình tăng độ cao lên 10 cây số (để cho ra-đa Mỹ thấy rõ) rồi mở hết tốc lực "dông" thẳng ra Hà Nội - chạy! Nó bảo mấy thằng F-4H: "Mig sợ rồi, chạy ra tít HN rồi, chúng mày về nghỉ đi!". Bọn kia quay về. Mình căn đúng lúcbojn kia xuống sân bay mới ra lệnh cho anh Rạng từ dưới phi lên. Tất nhiên là B-52 chả có gì để chống lại MiG cả, anh rạng nắn nót cho nó 2 quả tên lửa vào lưng, nó xì khói rồi bay sang Thái Lan. MiG-21 chỉ có nhõn 2 quả tên lửa nên anh Rạng đành quay về. Tối hôm ấy đài mình loan tin không quân VN bắn rơi B-52. Mỹ bảo: "HN đưa ra được 1 mảnh B-52 làm bằng chứng thì thưởng 15 triệu đô [giá 1 B-52 dạo ấy]". Mình không có bằng chứng nên đành im. Mãi sau mới biết: thằng B-52 kia bò về gần đến nhà thì rơi (bọn phi công B-52 bị tên lửa bắn rơi năm 1972 làm chứng). Chuyện này là ông Nguyễn Thành Chơn kể, diễn đàn không phải chỗ đùa cợt nên mình không bịa đâu!
|
Đài truyền hình Kênh 1 của Nga mới rồi có chiếu bộ phim 2 phần "Вьетнам - секрет победы", nói về sự giúp đỡ của Liên Xô dành cho Việt nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xin hỏi có bác nào xem được không? Phim hay, dựng tốt, theo tôi kể như vậy trong thời lượng như vậy là cân đối, gây ấn tượng tốt đối với người xem. Tôi nhớ câu chuyện của một chuyên gia quân sự LX kể ông đã được các bạn VN lấy thân mình che chở trong chiến tranh như thế nào. Ông kể: "Khi nhóm chúng tôi gặp bị 4 chiếc máy bay Fantom của Mỹ tấn công, mấy bạn cùng đi dúi tôi xuống 1 công sự ven đường. Tôi ở dưới cùng, trên đó là các bạn VN. Tự nhiên tôi thấy có nước gì như máu chảy đầy người, chợt nghĩ hay là mình "dính" đạn rồi - nhưng mà nếu tôi bị "dính " thì sao còn "cảm thấy" được như thế nữa (!). Hóa ra đó là máu của 2 người đồng chí VN nằm trên che cho tôi. Họ bị thương rất nặng và máu đã tràn xuống người tôi". Rất cảm động.
Tôi nhớ nhất 2 câu kết của phim. Câu đầu là "Vũ khí LX đã giúp đem lại hòa bình cho mảnh đất Việt Nam chịu nhiều đau thương. Nhưng đó không phải là bí quyết chính của chiến thắng". Câu kết: "Главный секрет, пожалуй, формулировал один из американских генералов: "Вьетнамца можно убить, но вьетнамца нельзя согнуть!" (Bí quyết chính, lại do một trong những vị tướng Mỹ đúc rút ra: "Người Việt Nam có thể bị giết chết, nhưng người Việt Nam không thể bị khuất phục!") Một câu kết tuyệt vời.:emoticon-0171-star: Tôi có phim này, trong PC:emoticon-0111-blush Có bác nào quan tâm không? |
Kể hầu các bác chuyện máy bay nữa nhá. Từ tháng 4.1965 mình bắt đầu dùng không quân - toàn MiG-17. Anh này tối đa chỉ đến 1150 km/h thôi, lại không có tên lửa, chỉ có 2 khẩu pháo 30 ly - tóm lại là thuộc loại Mỹ và LX cho vào viện bảo tàng. Mỹ coi thường lắm. Thần sấm và Con ma của Mỹ toàn xấp xỉ 2200-2300 km/h cả, lại xài tên lửa, cách 20 cây số là phụt chết rồi. Ai ngờ khi giáp mặt nhau Mỹ mới thấy khó. Ra-đa trên máy bay Mỹ chỉ phát hiện được mục tiêu ở độ cao từ 400 mét trở lên, ta biết thế nên toàn luồn dưới thấp. Thường thì ta chỉ phục kích nện bọn bay từ Thái Lan sang thôi, bọn máy bay của hải quân cất cánh từ tàu sân bay thì thôi (vì đồng bằng trống huếch trống hoác thế, khó nấp). Mỹ gần đến biên giới Việt-Lào thì ta xuất kích. Nó đi trên cao, mình luồn dưới bụng nó - ngược chiều nhau. Để phát hiện MiG chỉ có cách nhìn bằng mắt thường vì ra-đa không có tác dụng. Nhưng đâu có dễ: MiG bé, bụng trắng mà lưng lại sơn xanh, nhìn từ trên xuống lẫn với màu rừng, mà máy bay bay lại nhanh - tóm lại là khó thấy lắm. Đến quãng Hòa Bình thì ta mới đột ngột chui từ dưới đất lên bám đuôi và áp sát, bắn! Rồi chạy. Nó đuổi. Mình cứ lao xuống thấp là yên tâm, nó lao xuống theo thì bị cao xạ mình nện cho vỡ mặt. Rồi cứ men bờ ruộng mà về nhà. Ta toàn "đánh trộm" rồi chạy ngay (các trận không chiến thường kéo dài ko quá 5 phút), Mỹ chẳng làm thế nào được, nhử ra biển thì mình ko dại gì mà ra. Nó cay lắm. Rồi nó nghĩ ra. Nó cho máy bay bay thật cao lởn vởn gần sân bay của mình (Giôn-xơn cấm phi công Mỹ ko được đánh sân bay, sợ làm chết chuyên gia LX thì lại to chuyện, hoặc đánh tan tành máy bay VN trên sân bay thì có khi lại dở hơn: VN hết không quân thì không quân TQ vào như ruồi, lúc ấy còn khó hơn nữa, thế nên Giôn-xơn ra lệnh cho phi công Mỹ: phải nhìn rõ đúng là máy bay của Bắc VN mới được bắn, bắn nhầm máy bay TQ là mệt đấy - phi công Mỹ càng ngán ngẩm: đánh nhau mà tổng thống cứ cấm thế thì còn đánh đấm gì!). Tóm lại là nó cho 1 tốp lởn vởn trên cao gần sân bay mình. Máy bay nó 3 tiếng mới hết xăng, MiG-17 chỉ 45 phút. Nó biết thế nên rình sẵn trước cửa: mày đi đâu mà chả phải về! Y như rằng: mình đánh nhau ở chỗ khác thì thắng, nhưng về đến nhà thì chết! Xuống đường băng phải đúng hướng (phải bay thẳng), phải giảm tốc độ, thế thì ngang làm bia cho Mỹ tập bắn tên lửa. Mà muốn đánh nhau cũng không còn độ cao, không còn tốc độ (đà), không còn xăng! Chết oan ức. Cuối cùng ta phải chuyển sang MiG-21 tốc độ chả kém gì nó, lại còn linh hoạt hơn, chỉ phải cái có mỗi 2 quả tên lửa! Dạo mới chuyển loại thì lứa phi công đầu (Nguyễn Văn Bảy, Trần Hanh, Phạm Ngọc Lan, Lâm Văn Lích v.v...) ko thích MiG-21, cứ chê ko hiệu quả (vì quen đánh lăn xả - túm thắt lưng địch mà đánh, nhưng vào gần quá, không đủ 1200 mét thì tên lửa bay loạng quạng nên ko trúng), chỉ có lứa sau (Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Văn Cốc, Nguyễn Đức Soát v.v..) thì lại học MiG-21 ngay từ đầu nên quen hơn và đánh tốt hơn. Thế là từ giữa năm 1967 không đánh kiểu chộp giật được nữa thì mình mới chuyển sang đánh đàng hoàng bằng MiG-21.
Có anh Hà Văn Chúc rất đặc biệt. Khi còn học ở Trường không quân Krasnodar thì ông thầy LX đã bảo: "Sau này cậu hoặc là anh hùng, hoặc là chết sớm. Cậu liều quá!". Thế mà đúng. Hà Văn Chúc có lần dám 1 mình xông vào đám 24 máy bay Mỹ, nhào lộn bắn rơi 2 chiếc của nó rồi chạy thoát. Nhưng rồi vì tính hăng máu ấy mà 1 mình quay lại đánh nhau nên bị tên lửa ta bắn rơi và hy sinh ở Thạch Thất (mà cũng đen, húc ngay phải sĩ quan trắc thủ hàng đầu VN - tên là Dũng, người Bắc Giang). |
Chuyện Johnson cấm phi công Mỹ làm một số việc là có thật đấy. Johnson cấm máy bay Mỹ bay sát biên giới với TQ (phải chừa ra một dải rộng 10 dặm - tức là 16 cây số), phải nhìn rõ biểu tượng của Không quân Bắc VN mới được bắn (coi như Johnson triệt tiêu ưu thế phóng tên lửa từ xa của máy bay Mỹ!), trong 2 năm 1965-1966 Johnson và McNamara duyệt từng mục tiêu - được phép của Tổng thống và Bộ trưởng quốc phòng mới được oanh tạc. Johnson chủ trương đánh lấn dần từ Vĩnh Linh-Quảng Bình trở ra, tăng dần cường độ đánh phá và nghe ngóng tín hiệu từ HN. Ý của Johnson là đánh cho HN hiểu: "nếu các ông ngừng chi viện cho MTDTGP miền Nam VN thì tôi thôi ngay, còn chi viện là còn đánh!". Thời gian đầu Johnson chủ trương chỉ đánh đường sá, cầu cống (tóm lại là triệt giao thông để ngăn chặn hàng viện trợ của ta đưa vào Nam). Đánh mãi, đánh ra đến tận Thanh Hóa rồi mà thấy HN vẫn chi viện cho miền Nam và chẳng có phản hồi gì thì giới quân sự Mỹ bắt đầu gây sức ép lên Johnson, đại ý: "đánh cái kiểu của ông thì chẳng đạt được gì đâu, mình mạnh thế mà cứ phải đánh cầm chừng thì HN cóc sợ, cứ là phải đánh cho tan hoang hết thì HN mới hiểu!". Nhưng Johnson lại có ý kiến "đánh đây là đánh để mặc cả - các ông ngừng chi viện cho miền Nam thì chúng tôi ngừng oanh tạc miền Bắc, không được đánh tan hoang!". Johnson cấm máy bay Mỹ hông được đánh sân bay, không được đánh trận địa tên lửa (sợ làm chết chuyên gia LX thì LX sẽ tức giận, càng chi viện mạnh cho VN, sợ ném bom tiêu diệt không quân Vn tại sân bay thì không quân TQ sẽ vào thay thế, còn đông hơn, mà lại là đối đầu trực tiếp với TQ). Tóm lại, Johnson chủ trương đánh có mức độ thôi, vừa đánh vừa sợ LX và TQ can thiệp mạnh hơn.
Ở miền Nam cũng thế. Westmoreland đòi tăng quân (vì quân ngụy Sài Gòn chỉ phụ trách đồng bằng sông Cửu Long và chương trình bình định là chính, lực lượng chủ yếu đối đầu với QDDNDVN và quân Giải phóng là lính Mỹ), nhưng Johnson đáp ứng nhỏ giọt, lại còn ra lệnh cho McNamara và Westmoreland: "Các ông làm thế nào thì làm, chỉ có thế thôi, không thể mở rộng hơn nữa quy mô chiến tranh, lơ mơ là thành đại chiến giữ 2 phe! Và quan trọng nhất là làm sao cho dân Mỹ trong nước biết càng ít về cuộc chiến này thì càng tốt!". Các nước Tây Âu cũng không mặn mà ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến VN vì những lý do rất có lý của họ (đôi khi lãnh đạo nước này-nước khác còn lên tiếng phản đối Mỹ để kiếm phiếu bầu - phản đối Mỹ thì được lòng dân nước mình!), nhưng lý do chính là: Mỹ dồn tiền của vào chiến tranh VN thì lượng tiền của Mỹ đầu tư cho Tây Âu và khối NATO sẽ giảm đi, các nước TâY Âu sẽ phải chi thêm nhiều tiền cho quân sự, và: nhỡ Mỹ đánh mạnh quá, VN và TQ gay go thì biết đâu LX tung xe tăng tràn sang Tây Âu (tranh thủ lúc Mỹ đang dồn vào VN) thì chết! Cho nên cũng phải thấy rằng Johnson luôn luôn bị kẹt: đánh vừa vừa thì không thắng được, nhưng đánh to thì không dám, sợ LX và TQ nhảy vào. Sau này, khi tên lửa của ta gây tổn thất lớn cho Không quân Mỹ thì Johnson mới cho phép máy bay Mỹ đánh các trận địa tên lửa. Phải đến thời tên Nixon diều hâu lên làm Tổng thống thì không quân Mỹ mới được bung hết sức mà đánh: Nixon dỡ bỏ tất cả các hạn chế, cấm đoán của Johnson trước đây. Có lần Mỹ bắn rơi 2 MiG-17 ở vùng Lào Cai. Hôm sau đại diện TQ ở Liên Hợp Quốc phản đối Mỹ cho máy bay xâm nhập lãnh thổ TQ bắn rơi máy bay TQ đang bay tập. Mỹ cãi. TQ hứa sẽ đưa ra bằng chứng. Nhưng rồi chẳng có bằng chứng nào được đưa ra. Chuyện tưởng đã chìm xuồng, ngờ đâu một thời gian sau trong khi máy bay Mỹ bay gần đảo Hải Nam để vào oanh tạc Bắc VN thì 1 tốp MiG xồ ra thịt luôn 2 chiếc của Mỹ rồi chạy mất. Mỹ bị bất ngờ, trở tay không kịp (máy bay VN chả bao giờ dám ra tận đây!). Nhưng vì không nhìn rõ mấy cái MiG kia sơn cờ gì (mà nhỡ TQ sơn cờ VN thì Mỹ làm gì được nào?) nên Mỹ đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Chuyện Mỹ bắn rơi Mỹ cũng không hiếm. Có phi công Mỹ bắn rơi 4 máy bay VN đã tuyên bố: "Số máy bay Mỹ do tôi bắn hạ chắc cũng không ít hơn 4 chiếc!". Có gì đâu, mình ít, nó đông, nhào lộn bắn nhau, phụt tên lửa vào nhau, mắt mũi đâu mà bao quát được cả 4 phương 8 hướng! Máy bay Mỹ bắn tên lửa, mình tránh được, tên lửa vụt qua, bay tiếp, tình cờ 1 tên Mỹ nào khác đang đuổi hoặc đang tránh máy bay VN bay ngang qua đúng tầm là nổ - tên lửa có phân biệt được đâu là máy bay mình, đâu là máy bay đối phương đâu! (Linhami ko dám bịa, có hết trong airwar.ru/liudi i aviatsia/lokalnye voiny/vietnam đấy!). |
Trích:
Thật thú vị, khi được nghe bác "khái quát" bộ phim! Vậy bác có thể chia sẻ cho tôi bộ phim ấy được không? Đ/c Email của tôi: tienkenzo@gmail.com Cảm ơn bác nhiều và chúc sức khỏe! :emoticon-0155-flowe |
Xin kể hầu các bạn chưa thạo tiếng Nga lắm một chuyện nữa (các bác đàn anh đàn chú thì các bác ấy vào thẳng trang tiếng Nga đọc sẽ đầy đủ và chính xác hơn, các bác ấy chả đọc những chuyện kể dân dã thế này làm gì). Mỹ có một ace tên là Robin Olds sinh năm 1923, đánh nhau trong Đại chiến II nhiều trận rồi. Những năm 1965-1966 thì Olds đã 43-44 tuổi rồi, đang dạy ở 1 Trường quân sự nào đấy của Mỹ. Nghe lũ đàn em than thở rằng đánh nhau với phi công Bắc VN khó lắm (mà khó thật: kiểu như mình cầm giáo dài, đối thủ cầm kiếm, nó cứ rình mình ở trong ngõ chật hẹp vướng víu mà thách đánh nhau, gọi nó ra chỗ rộng thì nó không ra!) thì Olds có lên tiếng góp ý, nhưng bọn hậu duệ bỏ ngoài tai, chê "cái lão già chỉ quen lái loại chuồn chuồn cánh bằng, biết gì về phản lực mà nói!". Olds tức khí, xung phong sang căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan nghiên cứu cách đánh MiG. Các cấp chỉ huy Mỹ cho lão sang, nhưng không tin tưởng lắm. Olds theo dõi lũ đàn em đánh nhau, ngẫm nghĩ rồi vạch ra kế hoạch "Bolo": cho 1 tốp 24 chiếc F-4H mang toàn tên lửa không đối không bay chậm, đúng theo đường lũ F-105 vẫn chở bom đi thả (vào VN ở Thanh Hóa), cho 1 tốp 24 chiếc F-4H khác bay vòng lên
Lai Châu rồi chia đôi, 1 nửa áp chặt các sân bay, 1 nửa bay về Hòa Bình trợ chiến, đồng thời huy động máy bay tiêm kích của hải quân chặn phía ngoài biển. Tốp máy bay đầu tiên của Mỹ bay ngang qua Lào thì ra-đa ta phát hiện được, ta căn cứ vào vận tốc và độ cao, thấy bọn này bay ì ạch lắm thì cho rằng đây là lũ cường kích F-105 chở đầy bom, mà lại chẳng thấy có tốp nào đi bảo vệ, bèn hài lòng: "Thế thì mày chết!". Cho 8 chiếc Mig-17 xuất kích bay về phía Thanh Hóa, nhưng bay thấp để tránh bị phát hiện, định là chờ nó bay qua trên đầu thì sẽ chui lên cắn đuôi. Nhưng ai ngờ ta vừa rẽ mây chui lên thì mới ngã ngửa: lũ này ngay lập tức tản ra nghênh chiến - toàn là tiêm kích F-4H. Lại thêm 12 thằng F-4H từ hướng Lai Châu vòng xuống nữa, thế là 36 chiếc của nó quần 8 chiếc của mình - mà oái oăm là 12 thằng từ Lai Châu xuống này chiếm ngay tầm thấp 2-4 cây số, không cho ta lao xuống thấp chạy trốn! Nó đông hơn, xăng nó nhiều hơn nên nó đánh kiểu "chậm mà chắc", nó không nhào vào quần nhau với ta, nó cứ vây không cho chạy. Ở nhà biết là gay rồi bèn ra lệnh: "Không đánh nhau, lao xuống thấp rồi nhảy dù cứu lấy người, máy bay thì vứt không tiếc!". Nhưng muốn lao xuống thấp cũng không được vì trót lên cao, mà tầm thấp nó cũng chiếm mất rồi. Thế là đánh nhau. Ta mất 6 MiG, nó chả mất cái nào (4 hy sinh, 2 nhảy dù thoát được). Trận ấy (mùng 2 tháng 1 năm 1967) ta thua. Còn vụ đánh khi trời mưa thì thế này. Phi công mình không bay trong mưa được, nó thì bay vô tư - vì phi công nó được đào tạo bài bản hơn, kỹ hơn, mình thì vội, học bay xong thì về nước vừa chiến đấu vừa thực tập luôn. Mình nghĩ ra một kế: khi nó bay vào thả bom (toàn bọn chở bom thôi, ko có bọn bảo vệ vì nó biết trời mưa thì mình không bay được) thì mình ra lệnh: "Tốp 1 vòng trái, tốp 2 vòng phải, cắt thùng dầu phụ, chuẩn bị công kích!" (đại loại thế). Nó lạ gì tần số liên lạc của mình (đừng ai hỏi: "mình nói tiếng Việt mà nó cũng hiểu à?" nhé), lập tức nó ra lệnh cho lũ kia trút hết bom cho nhẹ và...chạy (F-105D chỉ hơi vụng thôi, chứ khi cần là nó kéo lên đến 2250 km/h đấy!). Kết quả là bom đem vào thả các mục tiêu theo dự định thì trút hết xuống rừng núi hoặc ruộng đồng. Và mình tương kế tựu kế, cho vài phi công giỏi chăm chỉ tập bay khi trời mưa để chờ thời. Sau vài lần bị lừa thì Mỹ chủ quan (có thấy MiG đâu, Bắc VN chỉ dọa thôi!), rồi đến một lần trời mưa, nó vào ném bom như thường lệ, mình cho mấy anh đã bay thạo trong mưa lên, ra lệnh công kích đàng hoàng, chẳng cần tiếng lóng. Mỹ ung dung bay đến mục tiêu, không thèm đề phòng (vì nghĩ: nó lại dọa vớ dọa vẩn!), mình ung dung "thịt" sạch (đang chở nặng bom bay ì ạch, không có ai bảo vệ, cũng chẳng có tên lửa, chết là cái chắc!). |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:45. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.