![]() |
Bạn weekdaysman làm ơn post tiếp nhanh nhanh và ... nhiều hơn được không ?
|
Trích:
XIII Thực ra đó là một nhà văn mà tên tuổi đã nhiều người biết đến. Có trời mới biết được ông đến thành phố này vào mùa đông làm gì, không ủng dạ, chỉ đi bốt. Ngay cả bốt của ông cũng không phải làm bằng da bò, khâu đường gân như bốt của công nhân khai thác vàng, mà làm bằng thứ vải bạt màu xám bình thường, không thể nào sưởi ấm đôi chân được. Đúng ra ông cũng có mặc một chiếc áo măng tô dài và ấm, đội một chiếc mũ lông cáo hung hung. Người ta đã gặp ông mặc chiếc áo và đội chiếc mũ này ở câu lạc bộ bộ đội biên phòng. Người ta nói, hình như ông sinh ra ở thành phố này và thậm chí còn học ở chính trường này nữa. Có lẽ ông muốn nhớ lại thời thơ ấu của mình, khi ở đây ông hãy còn là một cậu bé con, và muốn để cho ngọn gió lạnh buốt nhưng vô cùng thân thuộc thổi vào gương mặt ông, để cho bông tuyết thân quen vương trên mí mắt ông. Hay có lẽ ông muốn nhìn rặng cây con mới mọc lào xào trên bờ sông quê ông. Cũng có thể ông đã chán với vinh quang của mình ở Mát-xcơ-va và quyết định nghỉ ngơi, giống như những con chim to lớn và tinh khôn suốt cả ngày bay liệng rất cao trên vũng cửa sông rồi sau đó, dường như đã mệt lử vì độ bay quá cao của mình, bèn đậu xuống những cây thông thấp lè tè ven bờ và nghỉ ngơi ở đó trong yên tĩnh. Nhưng Ta-nhi-a không nghĩ như vậy. Mặc dù đó không phải là Goóc-ki, em nghĩ, mặc dù đó là một nhà văn khác, nhưung dù sao ông cũng đã đến đây, đến nhà em, đến vùng quê xa xôi của em, để em có thể tận mắt nhìn thấy ông, và có lẽ thậm chí còn chạm tay vào áo ông nữa. Ông có những sợi tóc bạc ở thái dương tuy ông chưa già và có giọng nói thanh thanh làm em sửng sốt Em chỉ sợ nhỡ đột nhiên ông hỏi em có thích Pút-skin không và có thích những quyển sách của ông không. Nhưng nhà văn không hỏi gì cả. Ông chỉ nói: - Cám ơn cô bé. Cháu sẽ làm gì với chú chuột con bây giờ? Và như người ta vẫn đồn đại, dẫu nhà văn không nói điều gì đặc biệt, ông vẫn làm mọi người bận tâm không ít. Trước khia thật là thích, cứ mười ngày một lần vào buổi chiều sau giờ học, cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na lại đến sinh hoạt với nhóm văn học. Tất cả học sinh ngồi vào một chiếc bàn dài trong phòng thiếu niên, còn cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na ngồi xuống chiếc ghế bành. Cô trở nên hơi khác so với lúc ở trong lớp, dường như cô vừa từ một chuyến du lịch xa xôi, đáp một con tàu vô hình đến với các em. Cô tì cằm lên những ngón tay đan chéo vào nhau rồi đột nhiên đọc: Khi cánh đồng rực vàng gợn sóngSau đó cô nghĩ ngợi một chút rồi nói: - Không, đó không phải là điều mà cô muốn đọc cho các em hôm nay. Tốt hơn là chúng ta hãy nghe những câu này: Và anh ta ghé sát miệng tôi- Ồ, các em ạ, cô muốn các em hiểu là nhà thơ có những lời thơ kỳ lạ đến thế, biết bao ý tưởng lạ lùng chứa đầy trong đó! Phin-ca chẳng hiểu gì hết. Cậu sẵn sàng kéo ra một cách không thương tiếc cái lưỡi của mình, cái lưỡi chỉ biết làm mỗi một việc là đập vụng về vào hàm răng, giúp răng nhai tất tật những gì rơi vào trong miệng, mà chẳng sáng tác được câu thơ nào hết. Nhưng tuy thế, nó lại nhại rất khéo cách nói của ông Trung Quốc đứng bán li-pút-trơ-ca ở góc phố: “Ít thôi, ít thôi - ông ta thường nói – nhưng mà ghê lắm, tốt lắm!” Và tất cả cười phá lên Sau đó Giê-nhi-a đọc những vần thơ của mình về các chiến sỹ biên phòng, còn Ta-nhi-a thì đọc những truyện ngắn. Cô-li-a bao giờ cũng phê bình một cách lãnh đạm và tàn nhẫn, còn tự mình thì không viết gì cả - cậu ta sợ viết tồi. Nhưng vừa mới đây, vài ngày trước đây, Ta-nhi-a đọc một truyện ngắn của mình về một chú chuột nhắt tí xíu sống trong ống tay một chiếc măng tô bằng lông cũ kỹ. Chú ta đang sống ở đấy đã lâu. Nhưng một lần, người ta mang chiếc măng tô từ trong kho ra ngoài trời lạnh, và lần đầu chú chuột trông thấy tuyết. “Chà, làm sao mà những con người kia lại không xấu hổ vì xéo lên đó nhỉ, đó là đường cơ mà!”- chú chuột nghĩ và nhảy ra khỏi ống tay áo. Chú chuột con tội nghiệp! Giờ thì chú sẽ sống ra sao? Lần đó, Cô-li-a không nói điều gì xấu cả. Ta-nhi-a coi sự im lặng của cậu ta như là một lời khen, và suốt cả ngày, cả đêm, thậm chí trong mơ nữa, em cảm thấy rất hạnh phúc. Nhưng sáng hôm sau, em xé tan truyện ngắn đó và vứt đi. “Chẳng lẽ - em nghĩ - thậm chí không phải là lời khen mà chỉ là một sự im lặng của thằng bé xấc xược đó cũng có thể làm cho mình hạnh phúc hay sao?” Nhưng buổi sinh hoạt hôm nay thì hoàn toàn khác hẳn. Những nỗi lo lắng khác lạ xâm nhập vào các em. Biết kiếm hoa ở đâu để chiều nay đem tặng nhà văn đây? Tìm chúng ở đâu vào mùa đông, dưới lớp tuyết, khi ngay cả những cây mộc tặc bình thường trong đầm lầy, cả ngọn cỏ cuối cùng trong rừng cũng không sao sống nổi? Tất cả đều nghĩ đến việc đó. Cả Ta-nhi-a cũng nghĩ, nhưng không nghĩ ra được gì – bây giờ em không còn hoa nữa. Lúc đó Giê-nhi-a béo bèn nói (cô ta bao giờ cũng nói những điều bổ ích): - Trong các chậu hoa nhà em, những bông Cu-đri lộng lẫy đã nở. - Ở nhà em - bọn trẻ đồng thanh nói – hoa hồng Trung Quốc và hoa Phúc-xi-a đã bắt đầu nở trên cửa sổ. - Ở nhà em… - Phin-ca nói và ngay lập tức im bặt, bởi vì bà chủ nhà cậu ở không trồng hoa trong nhà. Bà ta nuôi một con lợn mà lũ chó của Phin-ca cứ muốn xé tan nó ra từng mảnh. Bằng cách đó, mọi người đã thu thập được nhiều hoa. Nhưng ai sẽ tặng hoa cho nhà văn bây giờ? Trước mặt mọi người, trong hội trường, nơi bốn chục ngọn đèn sẽ chiếu sáng rực rỡ, ai sẽ bước lên bục, bắt tay nhà văn và nói: “Thay mặt tất cả các đội viên thiếu niên tiền phong…” - Để Ta-nhi-a làm việc ấy! – Phin-ca hét to hơn tất cả. - Để Giê-nhi-a làm việc ấy! – bọn con gái nói. – Chính bạn ấy đã nghĩ ra cách thu thập hoa cơ mà. Nhưng mặc dù các cô bé đúng, các cậu bé vẫn cứ cãi lại họ. Chỉ có Cô-li-a là im lặng. Và khi mọi người vẫn chọn Ta-nhi-a chứ không phải là Giê-nhi-a, cậu ta lấy tay che mắt. Không ai biết là cậu muốn gì cả. - Như vậy, cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na nói – Ta-nhi-a, em sẽ đi lên bục hội trường, đến bên vị khách bắt tay ông rồi tặng hoa. Em sẽ nói với ông những gì chúng ta đã quyết định ở đây. Trí nhớ của em tốt, cô sẽ không dặn gì em nữa. Từ giờ đến lúc bắt đầu, không còn nhiều thời gian. Em hãy cầm lấy hoa. Ta-nhi-a bước ra, tay cầm hoa. “Cô giáo thật công bằng! Đây là phần thưởng thật sự cho tất cả những hờn giận của mình! – Ta-nhi-a nghĩ, áp chặt bó hoa vào người. – Không ai khác ngoài mình sẽ bắt tay nhà văn nổi tiếng, sẽ tặng hoa và sẽ nhìn ông ấy bao nhiêu cũng được! Và lúc nào đó sau này, rất nhiều năm sau - khoảng năm năm chẳng hạn – mình sẽ có thể nói với mọi người là mình cũng đã thấy một đôi điều trên thế giới”. Cô bé mỉm cười với tất cả những ai đi gần em. Em mỉm cười với cả Giê-nhi-a mà không ai nhận thấy cái nhìn độc ác của cô bạn. - Thật kỳ quặc, tại sao mọi người lại chọn Ta-nhi-a Xa-ba-nhê-êva nhỉ? – Giê-nhi-a nói với các bạn – Mình không nói về mình đâu, mình không phải là một đứa hiếu danh, và mình chẳng cần gì cái đó. Nhưng tốt nhất là chọn Cô-li-a. Cậu ấy thông minh hơn cô ta. Tuy vậy, hiểu cái lũ con trai này cũng dễ thôi. Chúng chọn cô ta vì cô ta có đôi mắt đẹp. Ngay cả nhà văn cũng nói gì về đôi mắt ấy cơ mà. - Ông ấy chỉ gọi là đôi mắt xám thôi – Cô-li-a vừa cười vừa nói – Nhưng Giê-nhi-a ạ, cậu bao giờ cũng đúng. Đôi mắt ấy đẹp thật. Và có lẽ cậu cũng muốn có đôi mắt đẹp như thế chứ? - Quả thật mình lại chẳng muốn cái đó – Giê-nhi-a nói. Ta-nhi-a không nghe nữa. Những bông hoa trong tay em bỗng trở nên nặng trịch như bằng đá. Em chạy vụt qua những dãy phòng học, qua hội trường, ở đó các bạn em đang ngồi vào ghế rầm rầm. Cô bé chạy xuống cầu thang và dừng lại thở hổn hển ở phòng treo áo vắng tanh, lờ mờ tối. Em chưa hiểu hết những lời hùng biện của lòng đố kỵ, em thấy mình thật yếu ớt. “Lẽ nào bạn ấy nói về mình sao? Điều đó thật không hay cho mình, một đội viên thiếu niên. Thôi thì mặc cho hạnh phúc hờ hững với mình. Liệu có nên từ chối hơn là nghe những lời tương tự như thế không?” Đôi chân không giữ em lại. - Không, điều đó không đúng! – em tự nhủ – Đó chỉ là chuyện nhảm nhí! Nhưng cô bé vẫn muốn nhìn thấy đôi mắt mình. Phòng treo áo, giống như một khoảng trống trong rừng, thường có một ánh sáng mờ mờ ngự trị, vào giờ này rất yên tĩnh. Một chiếc gương to đặt hơi nghiêng về phía trước, cạnh bức tường trắng. Chiếc giá đen đánh véc-ni của nó luôn luôn rùng mình vì những bước chân học sinh chạy qua. Lúc đó, chiếc gương cũng chuyển động. Giống như một đám mây màu sáng, nó hơi nhích lên phía trước, phản chiếu rất nhiều gương mặt trẻ con. Nhưng bây giờ nó đứng bất động. Khắp chiếc giá xếp đầy những lọ mực vừa mới được bác gác trường rửa sạch. Mực cũng để trên giá ấy, trong một cái chai bình thường, một cái lọ có dán nhãn và một bình thuỷ tinh to. Nhiều mực quá! Chả lẽ Ta-nhi-a cần nhiều mực đến thế để hút vào đầu ngòi bút của mình sao? Thận trọng đi vòng qua chai mực đặt trên sàn, Ta-nhi-a tiến đến trước gương. Cô bé quay lại nhìn – không thấy bác gác trường đâu. Tì khuỷu tay lên giá gương, em ghé sát mặt vào gương. Từ trong chiếc gương sáng hơn cái ảnh mờ mờ xung quanh, một cặp mắt xám giống mắt mẹ nhìn Ta-nhi-a. Đôi mắt mở to, một ánh lấp lánh thường xuyên bao phủ trên đôi mắt ấy, và trong đáy sâu thẳm của mắt có những bóng râm nhẹ nhàng lướt qua, dường như đôi mắt ấy không có đáy. |
XIII (tiếp theo)
Ta-nhi-a sửng sốt đứng mấy giây như vậy, giống như một con thú rừng nhỏ lần đầu tiên nhìn thấy hình ảnh của mình. Rồi em thở dài nặng nề: - Không, đây là mắt ai ấy! Và Ta-nhi-a luyến tiếc lùi lại, đứng thẳng người lên. Ngay lập tức, như nhại lại cử động của em, chiếc gương tròng trành trên giá, trả lại cho Ta-nhi-a đôi mắt. Chai mực bỗng nghiêng về phía trước rồi lăn đi, đập vào những lọ mực rỗng kêu lách cách. Ta-nhi-a vội chìa tay ra. Nhưng, như một sinh vật sống, chai mực né đi và tiếp tục con đường của mình. Ta-nhi-a muôn tóm lấy nó lúc đang lăn, em đã chạm được ngón tay vào nó. Nhưng chai mực tuột ra, cưỡng lại, hệt con mực phun ra những giọt nước đen đen. Nó rơi xuống sàn không kêu to lắm, giống tiếng đất sét rơi từ bờ xuống nước. Điều xảy ra với Ta-nhi-a là điều ít nhất cũng xảy ra một lần trong đời một cô bé nào đó: em đã đánh đổ mực. - Ôi, thật là không may! – Ta-nhi-a kêu lên. Em nhảy sang một bên, giơ tay trái cầm hoa lên. Vậy mà vài giọt mực sẫm vẫn cứ ánh lên trên những cánh hồng Trung Quốc dịu dàng. Tuy vậy, chuyện đó cũng chưa sao cả, vẫn có thể bứt những cánh hoa đó đi. Nhưng còn tay kia! Ta-nhi-a tuyệt vọng xoay đi xoay lại bàn tay trước mắt, lật lên, úp xuống. Cả bàn tay em lem luốc mực. - Hay thật đấy! Một tiếng kêu vang lên gần đến nỗi Ta-nhi-a cảm thấy hình như chính em tự nói câu này. Em vội ngẩng đầu lên. Trước mặt em là Cô-li-a, cậu ta cũng đang nhìn vào tay em. - Hay thật đấy - cậu ta nhắc lại – bây giờ bạn sẽ bắt tay nhà văn thế nào? Ông ấy đã đến rồi và đang ngồi trong phòng giáo viên đấy. Tất cả đã tập hợp đông đủ. Cô A-lêch-xan-đra I-va-nốp-na cử tôi đi tìm bạn. Ta-nhi-a đứng lặng một giây. Đôi mắt em, đôi mắt vừa mới nhìn gương một cách thích thú như vậy giờ đây lộ vẻ đau khổ. Thật lạ lùng, sao em lại không may mắn đến thế! Em chìa bó hoa cho Cô-li-a. Em muốn nói: “Hãy cầm lấy hoa đi. Để Giê-nhi-a tặng hoa. Bởi vì bạn ấy cũng có trí nhớ rất tốt”. Và chắc chắn cậu ta sẽ cầm lấy hoa, rồi có lẽ sẽ cùng với Giê-nhi-a cười nhạo em. Ta-nhi-a quay ngoắt người, chạy vút đi giữa những hàng áo khoác trẻ em kèm bên em như một hàng người làm chứng bất động. Cô bé tìm thấy nước trong phòng rửa mặt. Em lấy ra hết nhẵn. Em lấy cát cọ tay, nhưng cả bàn tay vẫn lem luốc. “Thế nào cậu ta cũng sẽ nói! Cậu ta sẽ nói với cô A-lêch-xan-đra I-va-nốp-na. Cậu ta sẽ nói với Giê-nhi-a và tất cả mọi người.” Thế là hôm nay em sẽ không đi lên bục hội trường, không tặng hoa và cũng không bắt tay nhà văn nữa. Thật kỳ lạ, hoa đối với em vô cùng thân thiết, vậy mà sao hoa lại làm em không may mắn đến thế. Khi thì em tặng hoa cho một cậu bị ốm, hoá ra cậu bé này lại là Cô-li-a, mà lẽ ra hoàn toàn không nên tặng cho cậu ta, dù đó chỉ là những bông Xa-ran-ca giản dị. Bây giờ đến lượt những đoá hoa dịu dàng chỉ mọc trong nhà! Chúng sẽ rơi vào tay một đứa con gái khác - biết bao nhiêu chuyện thú vị và kỳ lạ có thể xảy ra với chúng. Còn Ta-nhi-a thì phải từ bỏ chúng. Ta-nhi-a vẩy nước ở tay rồi chẳng buồn chùi tay, em lê bước ra khỏi phòng treo áo, không vội đi đâu nữa. Bây giờ thì đằng nào cũng thế thôi! Ta-nhi-a bước lên những bậc thang mép viền đồng và vừa đi qua hành lang vừa nhìn qua cửa sổ xem có thấy cái cây của mình ngoài sân không, cái cây thỉnh thoảng vẫn thường an ủi em. Nhưng cái cây cũng không thấy. Nó không vươn lên ở đây mà vươn lên dưới những cửa sổ khác, ở phía khác. Và theo một hướng khác cắt ngang qua con đường của cô bé, nhà văn đang đi dọc hành lang tới. Cô nhận ra ông khi rời mắt một giây khỏi cửa sổ. Ông đi, đôi chân đi giày vải bước vội vã, ông không mặc áo khoác lông mà mặc một chiếc sơ-mi dài vùng Cáp-ca-dơ cổ cao, đai lưng hẹp. Mái tóc bạch kim của ông ánh lên trên gáy, chiếc đai mạ bạc cũng ánh lên, và Ta-nhi-a không thể đếm được số cúc trên áo ông. Bây giờ ông sẽ rẽ ngoặt ở góc hành lang để đến phòng giáo viên và sẽ biến mất mãi mãi với Ta-nhi-a. - Đồng chí nhà văn! – cô bé tuyệt vọng kêu lên. Nhà văn đứng lại. Ông quay nhanh một vòng như bật lò xo, rồi đi ngược về phía cô bé, tay vung vẩy, trán nhăn lại, dường như cố hiểu rõ hơn cái cô bé ngăn ông lại trên đường này cần gì. Có phải cô bé mang hoa tặng ông không? Người ta thường mang tặng ông rất nhiều hoa! - Đồng chí nhà văn, bác có phải là người tốt bụng không ạ? Ông ghé mặt xuống gần cô bé. - Không, bác nói đi, bác có phải là người tốt bụng không ạ? – Ta-nhi-a khẩn khoản nhắc lại và kéo ông theo mình vào cuối hành lang trống trải - Đồng chí nhà văn, bác nói đi, bác có phải là người tốt bụng không? – cô bé nhắc lại lần thứ ba. Ông biết trả lời cô bé thế nào đây? - Nhưng cháu cần gì, cô bạn? - Nếu bác là người tốt thì cháu đề nghị bác đừng chìa tay cho cháu. - Cháu đã làm một việc gì xấu hay sao? - Không, không phải thế! Cháu muốn nói việc khác cơ. Cháu phải tặng hoa cho bác khi bác đã đọc xong, và thay mặt tất cả các đội viên thiếu niên cảm ơn bác. Bác sẽ bắt tay cháu. Nhưng cháu chìa tay cho bác thế nào đây? Có một chuyện không may đã xảy ra với cháu. Bác nhìn đây này! Em đưa cho ông xem bàn tay mình – bàn tay gầy gò với những ngón tay dài, tất cả đều vấy mực. Nhà văn ngồi xuống bệ cửa và cười phá lên, kéo Ta-nhi-a lại gần mình. Tiếng cười của ông còn làm cho cô bé ngạc nhiên hơn cả giọng nói của ông – nó thanh và vang hơn. Ta-nhi-a nghĩ: “Có lẽ bác ấy hát hay lắm. Nhưng bác ấy có làm theo lời mình đề nghị không nhỉ?” - Bác sẽ làm như cháu yêu cầu – ông nói với cô bé. Và ông bước đi, thỉnh thoảng vẫn còn cười, tay vung vẩy theo cái kiểu đặc biệt của mình. Đó là một phút vui vẻ trong cuộc hành trình dài của ông. Cô bé đã làm cho ông thú vị, và khi đứng trên bục hội trường ông vẫn còn vui. Ông ngồi xuống gần bọn trẻ hơn, bắt đầu đọc cho các em nghe, không đợi đến lúc các em ngừng hoan hô. Bọn trẻ ngừng lại. Ta-nhi-a ngồi gần đấy luôn luôn nghe ông nói với một vẻ biết ơn. Ông đọc về cuộc chia tay của đứa con trai với cha mình - một cuộc chia tay rất cay đắng nhưng ở đó mỗi người đều đi thực hiện nhiệm vụ của mình. Và thật lạ, giọng nói thanh thanh của ông đã từng làm Ta-nhi-a sửng sốt đến thế, giờ đây vang lên khác hẳn trong cuốn sách của ông. Trong đó vang lên tiếng kèn đồng, tiếng những tảng đá trả lời vọng lại - tất cả những âm thanh đó làm Ta-nhi-a yêu thích hơn tiếng dây đàn ngân lên dưới những ngón tay. Nhà văn đã đọc xong. Xung quanh Ta-nhi-a, mọi người reo hò ầm ĩ, còn em thì không đủ can đảm rút tay ra khỏi túi chiếc áo khoác đan bằng len thô của mình. Những bông hoa nằm trên đầu gối em. Cô bé nhìn cô A-lêch-xan-đra I-va-nốp-na, đợi cô ra hiệu. Tất cả đã im lặng, nhà văn rời khỏi bàn, gập cuốn sách lại, và cô A-lêch-xan-đra khẽ gật đầu với Ta-nhi-a. Em chạy trên những bậc thang kêu ầm ầm, không rút tay khỏi túi. Em tiến về phía nhà văn, đôi chân lướt nhanh trên những tấm ván, rồi đi chậm hơn và dừng lại. Nhà văn nhìn vào đôi mắt lấp lánh của cô bé và không nhúc nhích. “Bác ấy quên rồi – Ta-nhi-a nghĩ – Bây giờ thì sẽ ra sao nhỉ?” Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc trên da em. - Thay mặt tất cả các đội viên thiếu niên tiền phong và học sinh… - em nói bằng một giọng yếu ớt. Không, ông không quên. Không để cho em kết thúc, ông dang rộng tay tiến lên phía em, che khuất em trước mặt mọi người và rút những bông hoa từ bàn tay nắm chặt của em ra rồi đặt lên bàn. Sau đó ông ôm lấy cô bé và cùng em rời bục hội trường đi xuống. Ông không cho ai chạm vào cô bé cho đến khi bọn trẻ từ tứ phía vây quanh họ. Một cô bé đi trước họ kêu to lên: - Bác ơi, bác là nhà văn thật hả bác? - Thật, thật đấy – nhà văn nói. - Cháu chưa bao giờ nhìn thấy một nhà văn thật cả. Cháu nghĩ ông ấy phải khác cơ. - Khác thế nào? - Cháu nghĩ là phải béo. Nhà văn ngồi xổm xuống trước mặt cô bé và bị lẫn vào đám trẻ như trong đám cỏ. Lũ trẻ chạm tay vào tay ông, ồn ào xung quanh ông, và chưa từng có một vinh quang lừng lẫy nhất nào lại hát vào tai ông ngọt ngào như cái âm thanh ghê gớm đang làm ông choáng váng này. Ông lấy tay che mắt trong chốc lát. Ta-nhi-a đứng bên cạnh, gần như chạm vào vai ông. Bỗng nhiên em cảm thấy có một người nào đó cố gắng kéo bàn tay đang đút sâu trong túi ra. Em kêu lên và né người tránh. Cô-li-a nắm tay em và lấy hết sức kéo về phía mình. Cô bé giằng ra, gập khuỷu tay lại cho đến khi tay em yếu đi. Cô-li-a kéo tay em ra khỏi túi, nhưng không giơ lên cao như Ta-nhi-a chờ đợi mà chỉ siết chặt trong bàn tay mình. - Ta-nhi-a - cậu nói khẽ - mình sợ cho cậu quá! Mình nghĩ là mọi người sẽ cười cậu mất. Nhưng cậu cừ thật! Đừng giận mình, đừng giận nhé, mình xin đấy! Mình rất muốn nhảy với cậu trong dạ hội năm mới ở trường. Ta-nhi-a không thấy có một nụ cười mỉa mai nào, một chút bướng bỉnh nào trong những lời nói của cậu ta. Cậu ta đặt tay lên vai em, dường như điệu nhảy vui đã bắt đầu và cả hai đã quay tròn. Ta-nhi-a đỏ mặt lên, bối rối nhìn cậu bạn. Một nụ cười dịu dàng làm sáng gương mặt cô bé, chan chứa trên cái nhìn, cặp mắt, đôi môi. Rồi không sợ gì cả, em cũng giơ tay lên. Em đã quên bẵng đi nỗi hờn giận của mình, và cánh tay con gái gầy gò lem luốc mực của em đặt lên vai cậu bạn trong giây lát. Đột nhiên, Phin-ca ôm chầm lấy cả hai đứa. Cậu ta tò mò hết nhìn Ta-nhi-a lại nhìn Cô-li-a, nhưng lần này gương mặt vô tư của cậu không có vẻ vui mừng. - Có nghĩa là các cậu đã dàn hoà - cậu ta nói to. Ta-nhi-a rụt tay khỏi vai Cô-li-a rồi buông thõng tay xuống. - Cậu nói gì vớ vẩn thế, Phin-ca - em nói, mặt càng đỏ hơn - Cậu ấy chỉ yêu cầu mình ngày mai mời cậu ấy đến dự lễ ở nhà thôi. Nhưng mình không mời. Tuy vậy, cậu ấy đến cũng được, nếu cậu ấy muốn thế. - À, à, - Phin-ca thở dài nhẹ nhõm – ngày mai là ngày Tết, mình nhớ rồi, đó là ngày lễ của cậu. Mình sẽ đi với bố đến nhà cậu, bố mình đã yêu cầu như thế. Được không? - Cậu đến đi – Ta-nhi-a vội vã nói. – Có lẽ ở nhà mình chẳng buồn đâu. Đến nhé – em nói với cả Cô-li-a và chạm nhẹ vào áo cậu ta. Phin-ca cố chen vào giữa hai bạn, và ở đằng sau cậu, một đám trẻ con lao lên phía trước, làm thành một dòng sông rộng tách đôi bạn ra. |
XIV
Đêm giao thừa thường đến thành phố một cách êm ả, không có bão tuyết, khi thì với một bầu trời quang đãng, khi thì với một màn sương nhè nhẹ thường sáng rực lên dưới ánh sao nhấp nháy. Ở cao hơn, phía trên màn sương này, trong khoảng không mênh mông, mặt trăng đang đi trên con đường của mình. Ta-nhi-a thích đêm ấy hơn cả đêm ấm áp nhất của mùa hè. Đêm ấy em được phép không ngủ. Đó là ngày lễ của em. Thực ra em sinh ra không phải vào đúng đêm giao thừa mà là trước đó, nhưng điều đó thì có ý nghĩa gì! Ngày lễ chỉ là ngày lễ khi nó là của bạn và xung quanh bạn mọi người đều vui mừng. Mà trong đêm ấy ở thành phố không ai ngủ cả. Người ta xúc tuyết trên vỉa hè xuống đường, đi đến nhà nhau chơi, và giữa đêm khuya, những bài hát vang lên, những bước chân kêu lép bép trên tuyết. Vào ngày hôm ấy, mẹ không bao giờ làm việc cả, còn Ta-nhi-a ở trường về thường kêu toáng lên từ ngưỡng cửa: - Ngừng lại đã nào, mẹ đừng làm bánh rán vắng con! Mẹ đứng giữa phòng, tay đầy bột. Đôi bàn tay bà đưa về phía sau giống như đôi cánh sắp nâng bà bay vào không trung. Nhưng mẹ vẫn ở lại mặt đất. Bà cúi xuống Ta-nhi-a, hôn trán em và nói với em: - Ta-nhi-a, chúc mừng con nhân ngày lễ, nhân kỳ nghỉ đông. Mẹ đã làm gì đâu, mẹ vẫn đợi con đấy chứ. Ta-nhi-a quẳng cặp sách lên giá rồi vội vàng mặc chiếc áo chấm đen đã cũ vào người. Em chui vào áo một cách vất vả. Sau một năm, người em lớn hẳn lên, làm chiếc áo căng ra như cánh buồm được ngọn gió thuận chiều thổi căng. Mẹ vừa nhìn vào vai Ta-nhi-a vừa lắc đầu: - Lớn quá, lớn quá! Không sợ bị dính bẩn bột, Ta-nhi-a chộp lấy bàn tay mẹ và nâng bổng mẹ lên, mang đi khắp phòng. - Khéo con gãy xương sống mất! - mẹ sợ hãi kêu lên. Nhưng mẹ rất nhẹ. Đối với Ta-nhi-a, mẹ còn nhẹ hơn cả bó cỏ khô. Em thận trọng đặt mẹ xuống sàn, và hai mẹ con bối rối nhìn bà vú già đứng bên cánh cửa. - Hai mẹ con điên thật - vú già nói – hay là đã quên mất bột bánh rồi. Và khi ấy những giờ phút dễ chịu nhất đã đến. Tất cả những thức mà buổi tối Ta-nhi-a ăn uống và đem thết bạn đều do em tự tay làm. Em nén những hạt anh túc đen, ép ra một thứ nước trắng giống như sữa cây bồ công anh. Chốc chốc em lại chạy vào kho. Mà trong kho thì lạnh khủng khiếp! Tất cả đều đông cứng lại. Mọi vật đều thay đổi hình dạng và trạng thái mà thiên nhiên đã định cho nó. Thịt lạo xạo như đá, Ta-nhi-a xẻ thịt bằng một chiếc cưa nhỏ. Trong ngăn tủ, sữa đông lại thành từng miếng. Ta-nhi-a lấy dao băm vụn ra, từ dưới dao, những sợi sữa và bụi sữa giống bụi nhựa thông rơi đầy tay em. Sau đó, em mang bánh mì ra. Bánh mì trắng bạc đi trong kho như một ông già. Từ một lỗ nhỏ của nó đều phảng phất cái chết. Nhưng Ta-nhi-a biết là nó sống, tất cả mọi thứ đều sống trong kho của em. Cô bé đặt bánh mì và thịt lên bếp lửa, đem lại cho chúng sự sống. Thịt mềm đi và tiết ra một thứ nước đặc sệt, sữa sủi bọt, còn bánh mì bắt đầu bốc hơi. Sau đó Ta-nhi-a đi đôi bàn trượt tuyết ra cánh rừng nhỏ. Em chạy xuống dưới một bờ dốc thoai thoải, ở đó có cả những ngọn linh sam non ló ra dưới tuyết. Em chọn lấy một cây non nhất, có lá xanh hơn các cây khác. Em chặt cây bằng dao sắc rồi đặt lên vai mang về nhà. Đó là cái cây non mà Ta-nhi-a đem đặt lên ghế đẩu. Cả ở cây linh sam nhỏ này, em cũng tìm được mấy giọt nhựa mà em vẫn thích nhai. Và hương nhựa vương vấn mãi khắp căn nhà. Việc trang trí cây linh sam không mất công nhiều: trên tán lá xanh của nó, kim tuyến lấp lánh dưới ánh nến; những chiếc xe tăng màu bạc bò trên những cành cây; những ngôi sao vàng nhảy dù xuống phía dưới. Chỉ có vậy thôi. Nhưng trong cái ngày hạnh phúc ấy, mọi thứ mới tuyệt làm sao! Khách khứa đến, và Ta-nhi-a rất vui sướng có bạn bè. Mẹ mở chiếc máy hát mang từ bệnh viện về cho các em nghe. Và hôm nay chắc cũng sẽ chẳng tồi hơn chút nào. Bố sẽ đến, Cô-li-a sẽ đến… Cậu ấy có đến không nhỉ? “Hình như mình lại làm cho cậu ấy giận rồi – Ta-nhi-a nghĩ - Để làm gì cơ chứ? Người đâu mà lạ thế, chỉ vì vài câu nói của cái cậu Phin-ca ngốc nghếch ấy mà cũng có thể làm cho cậu ta mất vui, giết chết những lời nói tốt lành sắp thốt lên từ đáy lòng, ngăn lại bàn tay đang chìa ra cho tình bạn!” Và Ta-nhi-a cảm thấy muốn nhìn lên vai mình, nơi cánh tay Cô-li-a ngày hôm nay đã đặt lên chốc lát. Không có một dấu vết nào trên vai Ta-nhi-a. Tuy nhiên, khi quay đầu lại, Ta-nhi-a nhận thấy mẹ đang chăm chú nhìn em. Mẹ cầm cuốn sổ liên lạc của Ta-nhi-a. Trong quyển sổ ấy, không phải tất cả các điểm đều xuất sắc như trước kia, nhưng lần này mẹ im lặng. Cái nhìn của bà hướng về con gái đượm vẻ trầm ngâm và xót thương. Dường như không phải bà đang chăm chú nhìn Ta-nhi-a mà nhìn một sinh vật tí hon đã từng có lúc ngọ nguậy trên lòng bàn tay bà. Mẹ mặc chiếc áo ngày lễ may bằng lụa đen. Hôm nay mẹ chải đầu thật đẹp, những món tóc nặng và lấp lánh nằm trên gáy. Chẳng lẽ trên trái đất này lại có người đẹp và dễ thương hơn mẹ sao? “Sao bố lại không thể hiểu nổi điều này nhỉ? – Ta-nhi-a nghĩ.’’ Có mấy sợi bông bám vào áo mẹ. Ta-nhi-a thở mạnh để thổi chúng đi. - Bố sắp đến – em nói. - Ừ, mẹ đang đợi - mẹ bảo. Cả cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na cũng sẽ đến. Mẹ đã mời cô ấy. - Ồ, tốt hơn hết là cô ấy đừng đến! – Ta-nhi-a bất giác thốt lên.. - Sao lại thế, Ta-nhi-a? - mẹ hỏi. - Không cần. - Nhưng tại sao lại thế hở con bé ngốc nghếch của mẹ? Thay vào câu trả lời, Ta-nhi-a quay tròn mẹ quanh cây thông nhỏ. Em nghĩ, có lẽ cả người lớn cũng hay vờ vịt như trẻ con. Em quay tròn mẹ hồi lâu. Tiếng bước chân, tiếng giày nện vang trên bậc thềm làm hai mẹ con ngừng nhảy. - Bố đến đấy - mẹ vừa cười vừa bảo – thôi không nhảy nữa. Ta-nhi-a nhảy lùi vào một góc nhà. - Cô-li-a đến – em nói, mặt tái nhợt. Nhưng không, đấy là những người khác – ba cô bạn cùng chi đội với Ta-nhi-a. Ta-nhi-a từ góc nhà ra đón bạn. - Ở nhà cậu có được nhảy không? – các cô bé hỏi, mặc dù vừa mới ở bên ngoài lạnh vào, mắt còn chưa nhìn rõ và mặt thì đỏ ửng. - Được chứ. Hôm nay tất cả đều được! – Ta-nhi-a nói. – Mình mở đĩa hát ngay bây giờ đây. Tiếng nhạc vang to tràn ngập khắp nhà, những âm thanh như ánh mặt trời đầy ắp lên mái. Sau đó bố đến cùng cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na. Ông ôm lấy Ta-nhi-a mấy lần và chúc mừng em nhân ngày lễ, còn cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na thì tặng em đôi giày da hươu và một cái áo lông có thêu hạt cườm. Nhưng không thấy Cô-li-a. Mẹ hỏi: “Thế Cô-li-a đâu?” - Thật là một thằng bé bướng bỉnh, - bố nói – nó nhất quyết không muốn đi cùng chúng tôi. Nó bảo: Con có quà riêng của con dành cho Ta-nhi-a, con sẽ tự mang đến. Sau đó là Phin-ca cùng bố mẹ và ba em trai, họ đã đến thành phố với Phin-ca bằng xe chó kéo. Tất cả đều ngăm ngăm đen, họ đứng thành hàng trước mặt Ta-nhi-a và cúi thấp ngưòi chào em như chào bà chủ nhà. Sau đó tất cả đều rút từ trong túi ra một chiếc khăn mùi soa gập bốn và lau mũi. Bác thợ săn rất tự hào về cách xử sự của họ, còn bà mẹ thì bình thản hút một chiếc tẩu viền đinh đồng. Dưới ánh nến, những chiếc đinh ấy ngời lên lấp lánh. Lũ trẻ được bế bổng lên, Ta-nhi-a hôn tất cả không trừ em nào, thỉnh thoảng lại quay lại nhìn mẹ. Suốt buổi tối, mẹ đứng cạnh cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na và nắm tay cô, mặc dù mấy lần Ta-nhi-a đã cố thử tách họ ra: khi thì em nhờ mẹ cầm hộ áo lông, khi thì nhờ mẹ giúp em đi giày. Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ mỉm cười vỗ vai Ta-nhi-a rồi lại trở về cạnh cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na và thân mật nói chuyện với cô. Bọn trẻ lại yêu cầu nhảy. Ta-nhi-a đi ra máy quay đĩa, sung sướng vì có thể quay lưng về phía mọi người trong chốc lát. Em hăng hái quay tay cầm, chiếc đĩa hát màu đen lấp loáng quay tròn trước mắt em, và chiếc kim lao cần mẫn như con ngựa trên đường rãnh. Ba giọng hát nổi lên rồi chỉ như một giọng, tiếng nhạc vang vang như một dàn hợp xướng của những cây sáo và những chiếc kèn đồng, như các vị thần vui tươi ngự trị trên mũi kim. Nhưng không có Cô-li-a. “Cậu ấy ở đâu vậy nhỉ?” – Ta-nhi-a buồn bã nghĩ. Sau lưng em, lũ trẻ vẫn đang nhảy, cây linh sam nhỏ lắc lư và chiếc chụp đèn to bằng giấy chao đi chao lại dưới trần nhà. Bố cũng nhảy với mọi người. Hôm nay ông rất vui và nhảy tuyệt đẹp, làm cho bọn trẻ rất phấn khởi. - Xem kìa, Ta-nhi-a, bố con đang nhảy đấy! - chốc chốc mẹ lại nói. - Vâng - Ta-nhi-a trả lời - con thấy rồi mẹ ạ, bố nhảy đẹp lắm. Cô bé nhìn bố. Nhưng ý nghĩ và cái nhìn của em như để tận đâu đâu. Và rồi em nhận thấy rằng cả bố, cả điệu nhảy của ông, cả không khí vui vẻ lúc này rất ít làm em chú ý. Vậy mà mới đây thôi, bao nhiêu tình cảm vừa cay đắng vừa dịu ngọt ứ đầy trong trái tim em chỉ xoay quanh một ý nghĩ về cha. Có chuyện gì đã xảy ra với em vậy nhỉ? Em luôn luôn nghĩ về Cô-li-a. “Lúc này cậu ấy ở đâu? Nhà Giê-nhi-a hôm nay cũng có dạ hội cây thông”. Phin-ca và lũ em đã bắt đầu nhẹ nhàng xoay tròn, vòng tròn mỗi lúc một mở rộng. Bốn anh em đập chân khe khẽ trên sàn nhà, và hết người này đến người khác lần lượt mời Ta-nhi-a cùng nhảy. Họ nhảy điệu vũ mà những người dân Ê-ven-cơ vui tính trên bờ sông Tu-gur thường nhảy vào lúc trăng lên trên những cánh rừng. Ta-nhi-a nhập vào vòng tròn của anh em Phin-ca. Em nhảy nhưng chốc chốc lại nhìn ra cửa. - Cừ đấy! - bố phấn khởi reo lên - Quỷ thật, chúng ta sẽ vui vẻ cả ngày hôm nay! Ta-nhi-a, con xin mẹ rượu đi. Bố hãy còn một món quà cho các con đấy. Mẹ liền nói: - Đừng gàn dở như thế, bố. Trẻ con không được uống rượu đâu. - Tôi chỉ biết chắc chắn có một điều là trẻ con không được ăn quả sao hoa - bố nói – Nhưng rượu thì có thể uống một chút chứ. - Có thể uống một chút chứ - lũ trẻ đồng thanh lặp lại theo ông. Bà vú nuôi bèn mang ra một cái khay lớn trên có đặt chai rượu ngọt. Bước theo sau bà là anh chiến sỹ hồng quân trẻ măng Phrô-lốp. Anh mặc chiếc áo lông của lái xe, mỉm cười với mọi người một cách ranh mãnh, trong tay có một cái xô. - Phrô-lốp này, anh hãy cho lũ trẻ xem món quà của chúng mình đi. Bọn trẻ liếc nhìn vào xô nhưng chỉ thấy tuyết trong đó. - Gì thế này? – các em hỏi - Ở đó chỉ có tuyết thôi, ngoài ra không còn gì nữa. - Các em sẽ thấy ngay bây giờ đây - Phrô-lốp trả lời. |
XIV (tiếp theo)
Rồi anh thò tay vào trong xô, rút từ dưới tuyết ra một quả cam to, rồi hai quả và còn nữa. Lũ trẻ hò reo đón những trái cam. Chúng cầm cam trong tay và ngay lập tức lại bỏ ra vì cam cứng và lạnh. Cầm những quả cam này cũng khó như cầm miếng sắt để lâu trong băng giá vậy. - Các cháu hãy đợi đã - bố vừa nói vừa cười - Trước hết cần phải làm tan băng đi. Đến lúc đó các cháu sẽ thích cam cho mà xem. Ông bỏ một quả cam vào nước lạnh, trong chốc lát trên vỏ cam xuất hiện một lớp băng. Băng bao phủ quả cam bằng một cái màng mỏng, quả cam lấp lánh như quả cầu treo trên cây linh sam nhỏ. Bố dùng dao đập màng băng tan ra từng mảnh: từ những mảnh băng tan nhanh trên lòng bàn tay hiện ra một quả cam tròn tươi rói. Đối với phương bắc, mùi thơm và màu sắc của quả cam thật lạ lùng và kỳ diệu. Đứa em trai nhỏ của Phin-ca đâm ra sợ không dám ăn cam. Phin-ca mang quả cam của mình đưa cho bố. - Ăn đi con, - bác thợ săn vừa nói vừa nhìn trái cây kỳ lạ này không chút ngạc nhiên. - Bạn bè đã tặng con trái cây này thì nó không thể nào lại có chất độc được. Nhưng giá nó không to như thế này thì bố sẽ nhầm là quả thanh lương trà đấy, và bố sẽ dùng nó để đánh bóng cái tẩu thuốc mới của bố đã bị sương mù làm mờ đi. Tuy nhiên - ông nói thêm một cách trang nghiêm - trước mùa băng giá thì quả thanh lương trà của chúng ta cũng có thể to được. Nói rồi, bác thợ săn lấy tay gạt quả cam ra. Ông đã già rồi nên không muốn đề cao bất cứ cái gì không mọc trong cánh rừng quê hương ông. Phin-ca bèn đút quả cam của mình dưới lần áo trước ngực để chia với Ta-nhi-a. Cậu không thể ăn cái gì một mình được - kể cả một cái rễ cây ngòn ngọt tìm được trong rừng lẫn những mảnh gỗ cây li-pa mùa xuân, kể cả mật ong lẫn “mật” kiến. Nhưng Ta-nhi-a không có trong đám khách của cô. Bạn ấy đã bỏ đi đâu rồi? Có chuyện gì đã xảy ra với bạn ấy nhỉ? Hôm nay, Ta-nhi-a thật buồn bã. Phin-ca ngó vào một căn phòng tối, ở đó trên những chiếc giường có xếp những cái áo măng tô. Cũng không thấy Ta-nhi-a ở đây. Cậu bèn đi vào bếp và bắt gặp Ta-nhi-a ở mé ngoài. Cô bé đang len lén lách ra cửa. Em đã mặc áo khoác lông và đang cúi xuống buộc dây đôi giày da hươu mới của mình ở chỗ mắt cá chân. Phin-ca im lặng lùi lại, che cho Ta-nhi-a khỏi những cái nhìn của khách khứa. Ta-nhi-a đi ra bậc thềm. Không khí bốc hơi lên cao thành những cột khói, rồi ở trên cao tít tắp chúng biến thành những đám mây mỏng manh bay lang thang khắp bầu trời quang đãng. Xuyên qua những đám mây ấy, tựa như xuyên qua một tấm kính trong suốt bị hơi thở làm mờ đi, một vầng trăng nhỏ lạnh lẽo hiện ra. Ta-nhi-a bước xuống tuyết, cố gắng không phát ra tiếng động. Bóng tối lấp loáng hắt nhè nhẹ lên vai, trên mặt em. Em lấy tay vuốt mái tóc để trần và đi ra cổng. Em chạy băng qua phố rồi dừng lại trước nhà Giê-nhi-a. Những đống tuyết bao quanh khắp ngôi nhà. Ta-nhi-a khuỵu đầu gối xuống và ngồi một lát trên tuyết, ngượng ngùng liếc vào cửa sổ. Sau đó em trèo lên một đống tuyết. Cửa sổ ngay trước mắt em. Qua tấm kính, ánh sáng mờ ảo trông bàng bạc như ánh trăng. Đó là ánh sáng cả những ngọn nến cháy trên cây thông. Xung quanh cây thông, lũ trẻ đang nhảy múa. Những bóng người lướt qua dưới cái nhìn bất động của Ta-nhi-a, và trong mỗi bóng người, em đều nhìn thấy Cô-li-a. Đầu em bừng bừng trong giá lạnh. Nhưng em vẫn cứ nhìn. Và những bóng người vẫn lướt qua, lướt qua như ở dưới thuỷ cung mờ ảo. Chỉ có một cái bóng bất động, một cái bóng ở sâu hơn và sẫm màu hơn những bóng khác – bóng một con cá to có cái đuôi rủ xuống. Nhưng rồi cái bóng này cũng lướt đi. Nó chuyển động khi thì lên trên, khi thì xuống dưới, khi thì lại xiên ngang tấm kính. Và thậm chí cả những cái bong bóng nhỏ mà nó phun ra cũng nhìn thấy rất rõ. “Cái gì thế này? – Ta-nhi-a khiếp sợ nghĩ – À, cái bể cá của Giê-nhi-a đặt trên cửa sổ đấy thôi.” Nhưng rồi những cánh tay tối sẫm của một người nào đó chìa ra cửa sổ và con cá biến mất. Biến mất luôn cả bức tranh huyền ảo đã thu hút Ta-nhi-a hồi lâu. Lưng của ai đó đã che khuất cửa sổ. Trên bậc thềm, có tiếng sập cửa rất gần. Ta-nhi-a ngồi ngay xuống. Em tụt khỏi đống tuyết rồi trượt qua tuyết, qua băng, qua những mảnh ván hàng rào lạnh cứng, và phóng thẳng. Không biết đi đâu, em chạy lang thang vô phương hướng trong khi nỗi xúc động còn chưa dịu. Một nỗi buồn sâu sắc biết bao tràn ngập cả người em. Ta-nhi-a chưa định vào nhà vội. Em đứng lại trong sân nhà, bên cạnh hàng rào, sau một thân cây bạch dương che chở cho em khỏi con mắt mọi người. “Mình làm sao thế này? – em nói, không rõ là nói với ai – Mình làm sao thế này? Vì sao lại như vậy, có ai nói cho tôi biết với!” Cây bạch dương im lặng; chỉ có một cây thông, bất đắc dĩ phải để cho không khí lạnh lọt qua những chiếc lá kim, là còn xào xạc. Đầu không đội mũ, Phin-ca bước ra bậc thềm và khẽ gọi Ta-nhi-a. Em không đáp lại. Cậu bé nhìn ra tận phía cổng hàng rào rồi chầm chậm quay trở lại. Chỉ khi Phin-ca đã đi khuất, Ta-nhi-a mới trở vào nhà. Em bước vào phòng mình, ở đó các bạn vẫn đang quay tròn quanh cha em. Cô-li-a đứng trên một chiếc ghế để thay những ngọn nến đã cháy hết trên cây linh sam. Trước mặt cậu ta, Ta-nhi-a như ngạt thở. Người em lảo đảo. Tóc em đẫm sương, áo quần đầy tuyết. - Ta-nhi-a, con vừa ở đâu thế? - bố lo ngại hỏi. - Con ra phố cho thoáng. Đầu con hơi choáng váng. - Thế thì vào giường mẹ nằm đi - mẹ bảo. Cô-li-a nhảy xuống khỏi ghế và đến sát bên Ta-nhi-a. - Đợi một chút, tôi muốn cho bạn xem món quà của tôi, - cậu nói – tôi đã đi mua tận chỗ ông Trung Quốc đấy. Đầu tiên, Cô-li-a mang đến một lô bọ gậy - những con bọ nhỏ, đỏ hơn cả quả kim anh rừng. Ta-nhi-a đặt chúng lên giá sấy củi. Sau đó cậu bé chỉ co Ta-nhi-a một bể cá nhỏ, trong đó có một con cá vàng. Con cá to, có cái đuôi toả xuống như một cái váy dài. Nó bơi vật vờ trong bể. Giữa bốn bức tường kính trong suốt, con cá sống có vẻ vất vả. Những mảnh rong lượn lờ trên mặt nước. Ta-nhi-a nói: - Bạn mua ở chỗ ông Trung Quốc à? Thật là vô ích. Tôi không nuôi cá trong bể kính trên cửa sổ. Phải rán nó thôi. Cô-li-a cau mày, mắt em tối sầm đi. Dường như em không nghe thấy những lời của Ta-nhi-a. Nhưng cánh tay em bỗng yếu đi, bể cá tròng trành, con cá quẫy đuôi ngoi lên và mấy giọt nước bắ uống sàn nhà. Cô-li-a đi đến gần bà vú nuôi. Suốt buổi tối, bà vẫn đứng bên cánh cửa. - Bác ơi - cậu bé nói – bác rán con cá này với khoai tây đi, Ta-nhi-a muốn thế. - Đúng, đúng đấy - Ta-nhi-a nói – bác rán nó nhé. Ngoan lắm đấy. Nó thuộc loại cá giếc đấy. Rồi em đi về phía bố và cầm lấy tay ông: - Bố ơi, hôm nay con sẽ nhảy với bố thật nhiều. Bố nhảy đẹp lắm. Và thế là đôi chân em – đôi chân ngày hôm nay đã chạy trên tuyết nhiều đến thế - lại bắt đầu hoạt động, nhưng bây giờ ở trên mặt sàn bằng phẳng. Em kiễng trên đầu ngón chân để đặt tay lên vai cha. Rồi khi đã thấm mệt do phải ngửa đầu về phía sau, em bèn cúi xuống dựa trán vào tay áo của cha em. Cánh tay bố làm người em lắc lư nhè nhẹ. Người em nghiêng ngả như một ngọn cỏ nước trên quãng sông lặng. Bố mỉm cười hạnh phúc. Cuối cùng thế là ông cũng được tặng thưởng vì những cố gắng mà ngày hôm nay ông tưởng như vô ích: vì những quả cam có đóng băng, vì mấy giọt rượu mà ông đã cho phép lũ trẻ uống. Đi đi lại lại giữa đám khách, cả mẹ cũng thật hạnh phúc. Mặc dù mỗi bước chân của bà vẫn cố tự chủ, nhưng gương mặt bà vẫn rất linh hoạt, và thậm chí giọng nói của bà cũng đổi khác. Ta-nhi-a nhảy cả với mẹ, cả với cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na, rồi đến khi nhảy đã mệt, em dừng lại nghỉ ở một góc phòng, đằng sau cây linh sam mà em đã trang hoàng. Cạnh cây linh sam bên cửa sổ, Phin-ca đứng một mình cô độc. Ta-nhi-a đã quên bẵng cậu ta: cả buổi tối hôm nay, em không nói với cậu một lời nào. Phin-ca đã mấy lần gọi Ta-nhi-a. Cô bé ngước nhìn cậu một cách lơ đãng. - Sáng mai có người sẽ đi với Cô-li-a ra sân băng đấy – Phin-ca nói. - Cậu phải không? – Ta-nhi-a hỏi. Phin-ca lắc đầu. - Thế thì ai? - Giê-nhi-a. - À… Ta-nhi-a níu lấy cành cây. Cái cây chao đảo dưới sức nặng của tay em, quả cầu nhỏ màu bạc rơi xuống sàn và vỡ tan. Ta-nhi-a lấy chân giẫm lên những mảnh vỡ. - Cô-li-a còn nhờ cậu nói gì với mình nữa? Phin-ca bỗng cảm thấy thương cô bạn. Khuôn mặt cậu bé ngăm ngăm đen như cha và em cậu, dưới ánh nến trông sáng hẳn lên. Cậu nói: - Mình thì mình có thể ăn được nến đấy. Ta-nhi-a im lặng nhìn bạn. Phin-ca lấy một ngọn nến đang cháy trên cây linh sam, thổi tắt đi và bắt đầu nhai thực sự. Ta-nhi-a chợt bừng tỉnh. - Cậu đang làm gì thế, Phin-ca? – em kêu lên – Có thể độc đấy! - Không đâu Ta-nhi-a, chẳng độc tí nào – Phin-ca nói – Cái này không được ngon lắm, nhưng lại buồn cười. Buồn cười thật, phải không? Quả thực Ta-nhi-a không nhịn được cười. Trong đôi mắt Phin-ca long lanh những giọt lệ. Như những ngọn lửa nhỏ, những giọt nước mắt ấy sáng lên từ dưới cặp mi dày. Cậu bé vẫn cứ nhai, cứ nhai. “Sao cậu ấy trông như khóc ấy nhỉ?” Ta-nhi-a đưa mắt nhìn quanh nhưng không thấy ai có thể làm cho Phin-ca khóc được. “Có lẽ trong nến có trộn chất gì đắng chăng?” - Cô bé lấy hết sức giật cây nến ra. - Cậu sẽ ốm mất, Phin-ca ạ - Ta-nhi-a nói. - Thế mà sáng mai mình lại muốn cùng với cậu đi đến trường xem biểu diễn. Với lại tại sao cậu lại nêu gương xấu cho bọn trẻ con như thế? – em nói thêm – Nhìn kìa. Đứa em trai nhỏ của Phin-ca đứng bên cạnh anh cũng đang nhai nến. Nhưng cậu này xem chừng chẳng thấy trong đó có gì đắng cả. Khuôn mặt có đôi gò má rộng của cậu ta nom láu lỉnh và có vẻ hài lòng. Còn trong tay cậu ta là một quả cam. |
XV
Quá nửa đêm, khách khứa ra về, Ta-nhi-a chúc tất cả hạnh phúc: cả những bạn thân lẫn không thân của mình, cả bác thợ săn, cả Phin-ca, cả bố, cả mẹ và cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na. Với Cô-li-a, em nói: - Cô-li-a, chúc mừng bạn nhân dịp năm mới! Mong bạn hạnh phúc, và chúng ta hãy quên cái con cá ngu ngốc ấy đi. Em quyết định không nghĩ về cậu ta nữa. Nhưng đang đêm, Ta-nhi-a lại sợ hãi tỉnh dậỵ Từ đám bọ gậy mà buổi tối em đặt trên giá đã nở ra một con muỗi con. Cũng có thể đó là một con muỗi già, được sưởi ấm trên bếp lò giữa đám bọ gậy, vừa mới sống lại kêu vo ve. Thật đáng sợ! Con muỗi vo ve giữa một đêm đông, khi mà lẽ ra nó không thể vo ve được. Ta-nhi-a ngồi trên giường, nhìn vào bóng tối, lắng nghe tiếng vo ve ấy. Đó là tiếng đập của muỗi, vậy mà tim em lại đập mạnh như tiếng mõ cầm canh của người gác đêm. Chẳng lẽ cái âm thanh thảm hại này lại có thể làm em sợ đến thế hay sao? “Phải giết nó đi!” – Ta-nhi-a nghĩ. Nhưng con muỗi chỉ vo ve một tí nữa rồi im hẳn. Tự nó đã chết. Ta-nhi-a lại ngủ thiếp đi và buổi sáng em thức dậy vui vẻ. Mẹ đã đi trực ở bệnh viện, nhưng điều đó cũng không làm Ta-nhi-a buồn. Lòng em thoải mái biết bao, người em nhẹ nhõm biết bao – em cảm thấy như là mình đã mất trọng lượng. “Đó là cái gì vậy - em nghĩ - kỳ nghỉ ư? Hay có lẽ đó chính là tình yêu, thứ tình cảm mà Giê-nhi-a béo đã nói đến không chút ngượng ngùng? Ừ thì tình yêu… Nhưng hôm nay mình sẽ nhảy với cậu ấy ở dạ hội cây thông. Và mình sẽ đi ra sân băng. Mình sẽ không quấy rầy cậu ấy. Mình sẽ đứng ở đấy sau đống tuyết cuối sân và chỉ nhìn xem họ trượt thế nào thôi. Có thể sẽ có một cái dây nào đó ở giày trượt băng của cậu ấy tuột ra. nếu vậy thì mình sẽ tự tay buộc nó lại. Đúng rồi, nhất định mình sẽ làm thế”. Trong lúc rửa mặt và ăn sáng, Ta-nhi-a vẫn nghĩ mãi về điều đó. Mặt em ngời lên, mỗi bước chân, mỗi cử động của cánh tay, em đều cảm thấy khác thường. Em mài giày trượt băng, thắt chặt dây lại rồi ném một miếng đường lên tuyết cho con chó già để gọi nó đi theo. Con chó sục mõm vào khắp nơi để tìm miếng đường, nhưng khứu giác của nó đã tồi nên nó không thể tìm thấy được. Tuy vậy, lần này con Chi-grơ tội nghiệp vẫn ra đi cùng cô bé. Nhưng, như sau này cái đầu óc già nua của nó đã nhận định, chuyến đi hoàn toàn vô ích. Suốt một giờ họ đã uổng công đứng cạnh sân băng bên bờ sông, nấp sau từng đống tuyết. Họ không gặp ai ở đây cả. Xung quanh trống trải. Cảnh tượng nó nhìn thấy dưới sông thật đáng sợ. Từ mũi đất xa xa có dải từng bao phủ, một làn gió lướt qua nhè nhẹ, chạm khẽ vào vách đá và thổi tung tuyết rơi xuống đất. Con chó và Ta-nhi-a đứng như vậy khá lâu rồi quay trở lại. Nhưng ngay khi vừa bước lên con đường mòn phía sau nhà của những người đánh cá thì họ nhìn thấy Cô-li-a. Cậu ta dìu Giê-nhi-a, còn cô ta thì cúi gập người bò trên con đường đóng băng mà lũ trẻ con những người đánh cá thường đi trên đó. Trong tay cả hai người đều có giày trượt băng. Ta-nhi-a rẽ ngoặt vào một ngõ hẻm bên trái rồi nấp sau một ngôi nhà, nhét đôi giày trượt băng vào trong đống tuyết. Con Chi-grơ ngồi xuống bên cạnh, ngước mắt nhìn em. Nó không thể hiểu nổi em. Cô-li-a đi lướt qua bên cạnh, không thấy gì cả, còn Ta-nhi-a vẫn tiếp tục đứng. Con Chi-grơ khẽ rên ư ử, cẳng nó đã bắt đầu run. Nó nhớ lại mùi xương chim mà Cô-li-a thường mang đến cho nó, và lòng nó quặn lại. Nó vừa kêu ăng ẳng vừa nhảy ra khỏi ngôi nhà rồi lao theo sau Cô-li-a. Cậu bé quay ngoắt lại. - Chi-grơ, mày ở đây ư? – Cô-li-a ngạc nhiên nói - thế Ta-nhi-a đâu? Ta-nhi-a đi ra khỏi ngõ hẻm và đứng lại – nấp nữa cũng chẳng ích gì. Mặt em đỏ ửng lên, ngay cả ngọn gió lạnh từ phía đông thổi về lúc sáng sớm cũng không thể làm màu da mặt em đỏ đến như vậy. - Chi-grơ - em nói - lại đây ngay! Cô-li-a chào Ta-nhi-a và đi về phía em, vừa đi vừa vung vẩy đôi giày trượt băng. - Bạn ra sân băng sớm thế à? Vậy mà tôi cứ nghĩ là bạn đi với Phin-ca đến trường xem biểu diễn cơ đấy. Ta-nhi-a đứng sững lại, quay mặt về phía khác và nói một cách kiêu hãnh, nhưng những lời nói chẳng phục tùng em: - Tôi không hề đến sân băng, bạn thấy đấy, tôi có mang giày trượt đi đâu. Phin-ca nói với bạn đúng đấy. Hôm nay chúng tôi cùng đi đến trường xem biểu diễn. Cô-li-a nhìn tay Ta-nhi-a. Đúng thế, cả trên tay, cả trên vai cô bé đều không có giày trượt băng. - Thật vậy hả? Hay thật! – cậu bé nói. – Nếu thế thì Chi-grơ, lại đây nào. Ta-nhi-a kêu to: - Không được thế, Chi-grơ! Con chó già vẫn đứng nguyên tại chỗ, mặc dù mùi xương thơm ngon vẫn còn luẩn quẩn trong đầu óc nó. Nó ngồi cách Ta-nhi-a một quãng, có lẽ suy nghĩ xem mình phải làm gì trong tình thế khó xử này, rồi chắc là nhớ đến những việc riêng của mình, nó bèn lao vào trong ngõ hẻm, bỏ mặc hai đứa trẻ. Ta-nhi-a cũng bước vội theo con chó. Em vừa đi vừa cố gắng không ngoảnh lại phía sau. “Không, mình sẽ không nấp sau những ngôi nhà và những đống tuyết để trốn Cô-li-a nữa! – Ta-nhi-a nghĩ thế khi đi trên đường phố. – Mình sẽ không thắt dây giày trượt băng cho cậu ta, và chẳng bao giờ cần làm việc ấy cả”. Mặc dù Ta-nhi-a mới sống trên trái đất này rất ít thôi và cuộc đời em còn dài biết bao, nhưng em vẫn quyết định là trong cả quãng đời còn lại của mình, em sẽ không nhớ đến Cô-li-a nữa, em sẽ quên đi mọi ý nghĩ về cậu ta. Bởi vì trên đời còn có khối niềm vui khác tốt đẹp hơn và chắc chắn là nhẹ nhõm hơn điều đó. Những niềm vui đó trước kia em đã từng biết đến, mới đây thôi, khi đi câu cá hồi ngoài sông, hay khi đứng trong hàng cùng các bạn lắng nghe những âm thanh rộn rã của chiếc kèn đồng. Ngay cả lúc này đây, Phin-ca cũng vẫn đang đợi em đến xem biểu diễn ở trường, các bạn cũ của em đang túm năm tụm ba bên cánh cổng trường rộng mở. Sau hết, em có thể chỉ nhìn xung quanh thôi, không nghĩ ngợi gì cả, chỉ nhìn ngắm thành phố của mình. Thành phố nhỏ, nhưng cũng như em, nó gắn bó với bầu trời của em, với cánh rừng sẫm màu lá thông, và mỗi khi mùa xuân đến, bầy chim đại bàng lại bay lượn trên cao ngắm nhìn nó. Giờ đây, vào mùa đông, thành phố cũng vẫn đẹp. Nó không phải toàn bằng gỗ. Bến tàu bằng đá, trường học của em bằng đá, khu nhà mới xây để làm xưởng luyện vàng cũng bằng đá. Và có biết bao nhiêu con đường mới mở chạy từ rừng ra thành phố và lại từ thành phố vào rừng. Ở tít sâu trong đó ngày hay đêm đều có thể nghe thấy tiếng thở của những ống khói cao cao, đều có thể nhìn thấy làn khói mới mẻ phủ trên nhữung ngọn cây tuyết tùng. Và có biết bao nhiêu ô tô đi qua thành phố với những bánh xe bọc xích để khỏi bị trượt trên tuyết! Rồi ông thợ hàn đồng già cũng đi qua thành phố và rao ở các ngã tư: “Mạ, hàn nào!”. Mùa xuân, ông thường vác thanh sắt của mình trên vai, còn mùa đông thì ông dùng dây kéo nó trên tuyết và nó lướt đi, giảm nhẹ việc cho ông: nó trượt theo ông như con chó. Cần gì thì được nấy – muốn lướt thì lướt, không muốn thì thôi. Chẳng nhẽ điều đó là xấu ư? Ta-nhi-a nhìn ông thợ hàn đồng đang gõ thanh sắt, rồi sải những bước dài và nhanh hơn, chạy về phía cánh cổng trường mở rộng. Bọn trẻ đã tụ tập cạnh trường. Nhưng có điều lạ là các em không đi vào trường mà lại đi ra. Lũ trẻ vừa chạy ngược về phía Ta-nhi-a vừa hét, và mãi em không sao hiểu lời các bạn. - Bão - lũ trẻ hét lên – bão đấy! Không có biểu diễn nữa đâu! Các bà mẹ người quấn tròn trong những chiếc áo lông túm lấy tay các con nhỏ đưa về nhà. Những em khác thì được bố đưa về. Cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na từ cổng trường đi ra, dẫn theo bé gái có đôi chân nhanh nhẹn mà Ta-nhi-a thường gặp trên đường. Tay kia cô dắt một cậu bé, cậu này có vẻ không muốn đi đâu hết. Thấy vậy, Ta-nhi-a bèn chăm chú nhìn xung quanh. Em ngước mắt lên và nhận thấy bầu trời đã bị chia thành hai màu rõ rệt: màu đen và màu xanh. Nửa bên trái bầu trời, ở phía đông, như một bức tường đen sừng sững. Ngọn cờ bay trên tháp canh của thành phố căng thẳng như một sợi dây đàn. Bão đã đến gần thành phố. Nó đang ở trên cao, chưa hạ xuống mặt đất. Ta-nhi-a nhìn không trung qua những kẽ ngón tay. Không gian tối sầm và đông đặc lại. “Bão rồi! - cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na kêu lên – Về nhà thôi, Ta-nhi-a. Nhớ nói như thế cho tất cả các bạn mà em gặp. Nhưng Ta-nhi-a không quay lại. Em chạy đến gần cô giáo. - Em không sợ bão đâu – cô bé nói – Em sẽ giúp cô. Cô giao em gái này cho em, em sẽ dẫn em ấy về nhà. - Nhà em này xa đấy, ở tận bờ sông, cạnh chỗ sà lan. - Không sao đâu, em biết nhà em ấy mà. - Thế thì em dẫn về nhé, còn cô sẽ đưa cậu bé này về. Có điều là em hãy coi chừng, phải quay về nhà nhanh lên – cô giáo lo lắng nói. - Em sẽ làm tốt tất cả - Ta-nhi-a vội vã trả lời – cô đừng lo, cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na ạ. Em nắm lấy tay em bé rồi cả hai cùng chạy dọc theo một phố dài, ở đó mặc dù đang giữa trưa nhưng các cánh cửa sổ đều đóng kín và trong các ngôi nhà đều đã lên đèn. Hai em chạy nhanh, không dừng lại, nhưng gió ở các ngã ba đường cứ làm chậm bước chân các em. |
XV (tiếp theo)
Đến bờ sông, từ trên cao, Ta-nhi-a nhìn thấy chiếc sà lan đã bị tuyết phủ đến cột buồm. Còn bên phải là sân băng. Lớp băng rộng và phẳng lì được tuyết rửa sạch bong. Trên hàng cột dọc đường biên người ta treo những dây hoa làm bằng cành thông. Dây hoa lắc lư như những sợi chão trên một chiếc thuyền buồm lúc giông bão. Ở đằng xa, phía sau sân băng, trên dòng sông, trên những đỉnh núi trọc có những cơn lốc xoáy trắng xóa dựng lên như những bông hoa trên những thân cây mảnh dẻ. Không có ai trên sân băng. Chỉ có hai bóng người nhỏ xíu nắm tay nhau trượt dọc đường biên. Ta-nhi-a lao xuống dưới theo con đường mòn và chạy dọc bờ sông, khi thì nhìn ra sân băng, khi thì nhìn em bé đang thở hổn hển vì phải chạy. Em dừng lại trong giây lát. - Người trường mình đấy – em bé nói – Sao chị không gọi đi? Nhưng thay vào câu trả lời, Ta-nhi-a lại đặt tay em bé lên ngực mình. - Em nghe này, tim chị đập mạnh không? - Tai em lạnh cóng rồi – cô bé nói – Em thật chẳng nghe thấy gì cả. Đang có bão mà người ta lại trượt băng kìa. Sao chị không gọi đi? Nhưng Ta-nhi-a vẫn không trả lời. Em bế xốc em bé lên rồi mang vào ngôi nhà ở ngay trên bờ sông. Lát sau, Ta-nhi-a lại đứng một mình trên ngưỡng cửa ngôi nhà đó. Em nhảy xuống tảng băng ở phía dưới rồi đi theo con đường nhỏ giữa những chiếc sà lan, tuyết phủ ngập chân. Em đã quyết định là không việc gì phải vội. Em sẽ còn đi chậm hơn trên con đường khó đi này. Mặc cho bão tuyết thốc vào mặt em, thốc vào sân băng và những dây hoa làm bằng cành thông, mặc cho bão tuyết phủ ngập dòng sông chất thành núi, em sẽ không vội vàng. Em sẽ đi ra sân băng và nói với họ một cách cục cằn: “Đã đến lúc các bạn nên tỉnh lại mà về nhà đi. Chỉ có điều là đừng nghĩ tôi đến đây để nói với các bạn điều đó. Tôi đưa một em bé về nhà và tình cờ đi ngang qua đây thôi. May cho các bạn là tôi nhìn thấy đấy, chứ hai bạn đều quên hết cả rồi. Mà nếu không phải vì em bé, thì cũng chỉ vì tôi thích dạo chơi trên bờ sông này trước cơn bão thôi. Có thể các bạn không tin tôi, cái đó tùy các bạn. Nhưng các bạn thấy đấy, tôi đã đến đây một cách thong thả và bây giờ cũng sẽ đi chẳng vội vàng gì”. Ta-nhi-a lẩm bẩm như vậy nhưng mỗi lúc một rảo bước nhanh hơn, cho đến lúc đôi chân như được chắp cánh. Em chạy vùn vụt qua những chiếc sà lan lạnh giá, không khí ảm đạm rít ù ù trong tai em. Con đường nhỏ hóa ra là ngắn nhất, chẳng mấy chốc nó đã đưa em tới sân băng. Nhưng ở đây, Ta-nhi-a không gặp ai cả. Em đưa mắt nhìn quanh bờ sông mờ mịt tuyết. Và bỗng nhiên em nhìn thấy Cô-li-a gần như ngay dưới chân mình. Cậu ta ngồi trên tuyết, bên cạnh những cành thông đã bị gió thổi rơi xuống đất, còn Giê-nhi-a ngồi cạnh cậu ta. Bóng tối đã lan dần đến. Ta-nhi-a lấy ngực rẽ những cành thông. - Các bạn mù cả rồi sao? – em nói với Giê-nhi-a- Sắp bão rồi. Cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na bảo tất cả phải đi về nhà. Nói xong em mới nhận thấy rằng chẳng cần nói điều đó Giê-nhi-a cũng đã sợ hãi rồi, mặc dù hai má đỏ bừng nhưng toàn thân cô bé run lẩy bẩy. - Có chuyện gì vậy? – Ta-nhi-a lo ngại hỏi. - Tất cả chỉ tại Cô-li-a – Giê-nhi-a vừa nói vừa run – Cậu ấy cứ muốn trượt băng cùng với mình. Nhưng mình sợ, ở đây gió lắm. - Sao cậu nói dối thế? – Cô-li-a nói. – Thế không phải cậu thích trượt băng buổi sáng hay sao? - Thế không phải cậu đã nhờ Phin-ca nói với Ta-nhi-a là sáng nay bọn mình đến đây hay sao? – Giê-nhi-a giận dữ trả lời. - Nhưng Ta-nhi-a không nghe ai cả. Em lo lắng cúi xuống nhìn Cô-li-a. Mặt Cô-li-a tái nhợt, cậu tì vào chân, không đủ sức đứng dậy. - Cậu đi đi, đồ ngốc - cậu nói với Giê-nhi-a. – Cả hai người cùng đi đi, tôi ở lại một mình. Giê-nhi-a vẫn chưa hết run. - Mình về nhà đây – cô bé nói. Ta-nhi-a nắm lấy vai cô bạn, khẽ quay về phía thành phố. - Đi đi, - em nói - Nhưng hãy ghé qua nhà Phin-ca và nói là bọn mình ở đây. Mẹ mình không có nhà. - Không, không, mình về thẳng nhà đây. Mình sợ lắm, sắp bão rồi. Rồi Giê-nhi-a vừa chạy đi vừa lấy tay che mặt cho khỏi gió. Ta-nhi-a ngồi xuống tảng băng trước mặt Cô-li-a và buộc lại dây giày trượt băng cho bạn. - Bạn bị thương à? Bạn ốm à? – em hỏi. Cậu lặng thinh. Tất cả xung quanh tối sầm lại: cả sông, cả băng và cả bầu trời. Ngón tay Ta-nhi-a lạnh cóng. Thỉnh thoảng em lại kẹp chặt bàn tay giữa hai đầu gối để sưởi ấm. Cô-li-a cố gắng không rên rỉ. Ta-nhi-a chìa tay cho bạn. Cậu đứng dậy và lại ngã xuống tuyết. - Bạn bị gãy chân rồi hay sao? – Ta-nhi-a sợ hãi hỏi. - Không - Cô-li-a trả lời – mình chỉ hơi bị bong gân một tí thôi. Cái con bé Giê-nhi-a ngu ngốc này hoàn toàn không biết trượt băng. Rồi Ta-nhi-a nghe thấy tiếng cười của Cô-li-a. Trong lúc này, lẽ ra không nên cười như vậy một tẹo nào. Có lẽ cậu ấy cười em, cười nỗi lo sợ của em cho tính mạng cậu ấy? Có lẽ đó chỉ là một trò đùa dối trá – chân cậu ấy tuyệt nhiên không đau? - Nhìn lên đường xem kìa - cậu vừa nói vừa cười – con Chi-grơ đang ngoạm giày trượt băng của cậu mang đến đây đấy. Mình cũng đã nghĩ là cậu giấu nó ở đâu đó mà. Ta-nhi-a nhìn lên đường. Đúng vậy, con Chi-grơ đang chạy qua sân băng, kéo theo đôi giày trượt. Nó đặt đôi giày trượt dưới chân Ta-nhi-a và ngồi xuống bên cạnh em, đợi cảm ơn. Em đưa bàn tay rét cóng lên vuốt ve bộ lông ướt lạnh của nó. Nhưng bây giờ em cần giày trượt làm gì và con chó lấy đôi giày ở đâu ra? Chắc là nó đã lôi đôi giày từ trong đống tuyết ra. Nó kéo đôi giày trên đường, sợ hãi khi thấy có người đi qua. Gió đã đẩy nó vào trong tuyết. Chắc là nó đã kéo đôi giày đi rất vất vả. Nhưng tất cả đều vô ích. Bây giờ em không cần giày trượt băng nữa. - Mình phải làm gì dây? – Em nói - Mẹ thì không có nhà. Không có ai cả ngoài con Chi-grơ. Nhưng nếu cậu không đi được thì mình sẽ dìu cậu đến chỗ những người đánh cá, chứ ở lại đây thì không được. Cậu không biết bão tuyết chỗ chúng mình như thế nào đâu. - Mình không sợ bão của các cậu – Cô-li-a bướng bỉnh trả lời – Còn nếu cậu nghĩ là mình sợ con sông sâu của các cậu nên không dám xuống nước để cứu lũ mèo con bất hạnh thì đấy là việc của cậu. Cậu cứ nghĩ thế nào cũng được. Cứ đi đi, nếu cậu sợ. - Không - Ta-nhi-a nói - mình không sợ bão. Mình sợ cho cậu… Mình biết là nguy hiểm lắm, và mình sẽ ở lại đây với cậu. Em ngồi xuống tuyết bên cạnh Cô-li-a. Em nhìn bạn với một vẻ dịu dàng mà em không muốn che giấu nữa. Và gương mặt em ánh lên nỗi lo âu. Cậu bé cúi đầu. - Mình cần phải về nhà – Cô-li-a nói – Mình đã hứa với bố rồi. - Mình phải làm gì đây? – Ta-nhi-a lặp lại. Em không nhìn Cô-li-a nữa mà trầm ngâm nhìn con Chi-grơ đang run rẩy trong tuyết rơi, sau đó em nhổm dậy, vui vẻ hơn trước. Bầu trời tụt xuống khỏi các dãy núi và trải ra như một màn khói trên các khe hẻm. mảng đen phía xa đã dịch lại gần ngay sau các vách đá. Tuy vậy, cơn gió đáng sợ nhất vẫn chưa bay ra khỏi doi cát phía xa, nơi có những tảng đá nằm rải rác. Và tuyết từ trên cao còn chưa đổ xuống. Bão tuyết ập đến từ từ. - Chúng mình còn thời gian – Ta-nhi-a nói- Phin-ca có chó, mà mình thì biết điều khiển xe chó kéo. Mình sẽ lùa chúng đến đây. Có thể còn kịp. Đợi mình ở đây, rồi mình sẽ chở cậu về nhà với bố. Chỉ có điều là đừng sợ nhé. Con chó sẽ ở lại với cậu. Nó không bỏ đi đâu. Ta-nhi-a đặt con Chi-grơ lên đống tuyết và cho nó liếm tay. Nó ngồi yên tại chỗ, sợ hãi nhìn về phía bắc, nơi ngọn gió đang thổi tung bụi tuyết và làm lay động rừng cây trên dãy núi. Ta-nhi-a chạy lên bờ. Đầu cúi xuống và lấy thân mình rẽ gió, em chạy dọc trên dãy phố đã ngập đầy những đống tuyết cao. Tất cả các cánh cổng đều đóng kín. Chỉ có mấy cánh cửa nhà Phin-ca là còn mở. Cậu vừa mới trở về cùng cha trên xe chó kéo. Cậu đứng trên bậc thềm, giũ tuyết khỏi thanh trượt, rồi đột nhiên cậu nhìn thấy Ta-nhi-a đứng thở hổn hển bên cạnh mình, cậu sửng sốt lùi lại. Lũ chó nằm trên sân, bên cạnh cổng, vẫn bị thắng vào xe - người ta chưa kịp tháo chúng ra. Thanh cai-u-rơ – cây gậy dài bằng gỗ tần bì - cắm xuống tuyết bên cạnh đó. Ta-nhi-a chộp lấy thanh cai-u-rơ và ngã vào xe. - Cậu làm gì thế, Ta-nhi-a! – Phin-ca kêu lên sợ hãi – Coi chừng đấy, chúng dữ lắm! - Im đi, im đi, Phin-ca thân yêu! – Ta-nhi-a nói. – Mình cần phải chở Cô-li-a về nhà ngay. Cậu ấy bị sái chân ở sân băng. Mình đánh xe của cậu đi đây. Dọc theo bờ sông thì gần thôi. Em vung thanh cai-u-rơ lên, thét bảo lũ chó bằng tiếng Nanai, và lũ chó chở em ra khỏi cổng. Đến lúc Phin-ca kịp nhảy từ bậc thềm xuống và xỏ chân vào thanh trượt tuyết thì xe đã ở xa. Nhưng em vẫn chạy theo Ta-nhi-a và lấy hết sức kêu lên: - Bão, bão rồi! Cậu đi đâu? Đợi mình với! Nhưng Ta-nhi-a không còn nghe thấy tiếng kêu của Phin-ca. Cô bé cưỡi trên xe như một thợ săn thực thụ. Thanh cai-u-rơ cầm trong tay, em đánh xe rất giỏi. Thật lạ lùng, lũ chó lại nghe Ta-nhi-a, mặc dù chúng không quen giọng em. Phin-ca đành dừng lại. Gió thốc vào vai em và buộc em phải ngồi xuống trên thanh trượt. Nhưng em không quay trở lại. Em ngồi một lát trên thanh trượt, suy nghĩ về những điều vừa thấy, về gió, về Ta-nhi-a và về chính mình. Rồi sau khi quyết định rằng mọi điều tốt đẹp cần phải có một phương hướng tốt chứ không phải là ngốc nghếch, em bèn quay ngoắt ra khỏi nhà, sang con đường xuyên qua rừng dẫn tới pháo đài, chạy ngược chiều cơn bão. |
XV (tiếp theo)
Trong lúc Phin-ca chạy, lũ chó của em đã chở Ta-nhi-a đến sân băng một cách an toàn. Ta-nhi-a đỗ xe lại bên cạnh Cô-li-a, gắng sức cắm thanh cai-u-rơ dài vào giữa những cái càng trượt. Ngay lập tức, lũ chó nằm xuống, không hề hục hặc với nhau. Lảo đảo vì đau, Cô-li-a đứng dậy một cách khó khăn. Tuy vậy em vẫn mỉm cười. Thậm chí trên gương mặt rét cóng của em còn ánh lên vẻ hân hoan. Lần đầu tiên em nhìn thấy lũ chó bị thắng vào xe, lần đầu tiên em được đi trên xe chó kéo. - Quả thật, nghĩ ra cách này không xoàng đâu – em nói sau khi liếc nhìn chiếc xe kéo nhẹ nhàng được cặp bằng răng cá voi và nhìn lũ chó cộc đuôi đang nằm nhai tuyết – Lũ chó này không dữ như Phin-ca thường khẳng định với mình, bề ngoài trông cũng không khỏe lắm. Chúng chỉ lớn hơn lũ chó lu-lu của chúng mình một tí thôi. Nhưng Ta-nhi-a biết rõ hơn Cô-li-a tính hung dữ, tính rừng mãnh liệt và khát vọng tự do của lũ chó nên không rời chiếc xe một bước. Em chỉ tạm thời rời nó trong khoảnh khắc để thận trọng đỡ Cô-li-a dậy và đặt cậu ngồi vào xe. Sau đó em bế con Chi-grơ đang còn run sợ lên, ôm chặt nó vào ngực, nhảy lên xe và đánh chó lao về phía trước. Động tác của em thật khó nắm bắt nhưng đồng thời cũng thật chính xác, cái nhìn của em thật sắc sảo khi hướng xuống lớp tuyết đã bắt đầu lao xao trên đường, nhưng nó rụt rè biết bao khi hướng về phía sau – về phía Cô-li-a! - Cậu có đau lắm không? – em hỏi – Cố chịu đựng nhé, sắp đến rồi. Chỉ mong sao về kịp trước cơn bão! Cậu bé sửng sốt. Trong đôi mắt ánh lên lo lắng dưới hàng mi dính băng vì gió táp và trong tất cả con người Ta-nhi-a, Cô-li-a cảm thấy có một ý nghĩa hoàn toàn khác lạ. Dường như trên cỗ xe nhẹ nhàng do những con chó rừng kéo ấy, dưới làn tuyết buốt lạnh làm xây xát làn da mặt, cả hai em đang cùng nhau lao nhanh đến một miền đất khác, một miền đất mới mẻ mà em chưa hề nghe nói đến. Cô-li-a nắm lấy áo Ta-nhi-a để khỏi ngã ra ngoài. Bão tuyết đã ập đến con đường. Nó trút xuống thành một bức tường, như một trận mưa rào, cuốn đi ánh sáng và rít ầm ầm như sấm, giữa những vách đá. Đầu óc choáng váng vì gió thổi, Ta-nhi-a nhìn thấy mờ mờ ảo ảo từ bức tường trắng này hình như có một con ngựa cố tách ra, phi nước đại trên đường. Nó chở ai đi tránh bão vậy? Ta-nhi-a không thể nhìn thấy được. Em chỉ cảm thấy lũ chó giận dữ lao lên đón đầu con ngựa này, và em thét lên với chúng bằng một giọng man dại. Cô-li-a không hiểu tiếng thét của em. Nhưng em thì em hiểu tại sao em lại kêu một cách đáng sợ như vậy: lũ chó không nghe lời nữa. Ta-nhi-a lắc lắc thanh cai-u-rơ như lắc một ngọn giáo nặng và dang tay ra lấy hết sức cắm gậy xuống tuyết. Nó lún sâu xuống rồi gãy đôi. Ta-nhi-a bèn quay lại,và trong khoảnh khắc Cô-li-a nhìn thấy nỗi khiếp sợ trên gương mặt em. Cô bé kêu lên: - Bám chắc vào xe! Em nâng con Chi-grơ lên cao quá đầu và ném nó xuống đường. Nó vừa ngã xuống tuyết vừa kêu ăng ẳng. Sau đó dường như đã hiểu là cần phải làm gì, nó vụt nhổm dậy và vừa rống lên vừa lao theo bầy. Nó vượt lên trước bầy chó, dường như tự nhận cái chết cho mình. Lũ chó đã nhìn thấy nó. Nó lao vọt ra khỏi mặt đường và lũ chó lao theo nó. Con ngựa phi qua bên cạnh. “Chi-grơ thân yêu, Chi-grơ tội nghiệp của tôi!” – Ta-nhi-a nghĩ. Con Chi-grơ nhảy chồm lên trên mặt đất, nó chìm ngập và nghẹt thở trong tuyết. Có lẽ nó nguyền rủa những kẻ đã làm cho nó thành tàn tật, đã làm cho những cái chân của nó ngắn ngủn, cái cổ thì ngẳng và yếu ớt. Nhưng nó yêu cô bé ấy, cô bé đã cùng chơi đùa với nó khi nó là một con cún con, đã cùng lớn lên với nó, và chỉ có một mình nó già đi. Như thế liệu có công bằng không? Ta-nhi-a áp sát người vào xe, lắng nghe tiếng kêu ăng ẳng kéo dài, tiếng thở khò khè của con chó, tiếng răng chó va lập cập át cả tiếng gió rít ù ù. Cỗ xe không còn gì kìm giữ nữa lao vụt đi, xô vào lũ chó lầm lạc rồi chổng lên, lật nhào. Ta-nhi-a chộp lấy càng xe. Dường như chớp vừa lóe lên trước mặt em. Mắt em lóe đi trong giây lát. Sợi dây thừng buộc chiếc xe quấn phải một tảng băng nhọn, đứt ra với tiếng kêu như rắn rít. Và đàn chó đã được tự do lao vun vút vào bão tuyết dày đặc. Không một ai cựa quậy: cả Ta-nhi-a nằm sõng xoài cạnh chiếc xe, cả Cô-li-a vừa bị ngã sấp xuống, cả con Chi-grơ đã tắt thở với cái cổ họng bị rách toạc và cặp mắt hướng lên bầu trời bão tuyết – tất cả đều bất động. Chỉ có tuyết và bầu không khí đang xê dịch một cách chậm chạp trên sông là chuyển động. Ta-nhi-a nhổm dậy đầu tiên. Em cúi xuống nâng cỗ xe lên rồi lại cúi xuống đỡ Cô-li-a đứng dậy. Việc bị ngã không làm em choáng váng. Cũng như trước, mọi cử động của em đều khó nắm bắt, mạnh mẽ và linh hoạt. Em bình thản phủi sạch tuyết trên mặt xuống, dường như chưa hề xảy ra chuyện gì không may. Cô-li-a cũng đã đứng lên được. - Chúng mình sẽ chết mất. Mình đã gây ra chuyện gì thế này, Ta-nhi-a! – cậu sợ hãi nói và những giọt lệ rưng rưng trong khóe mắt cậu nhưng chúng đông lại ngay, thậm chí không kịp lăn xuống hàng mi nữa. Cô-li-a lại nghiêng người ngồi phịch xuống. Và Ta-nhi-a lại đỡ bạn dậy, cố gắng giữ cho cậu khỏi ngã. Em hét lên với bạn: - Cô-li-a, cậu nghe thấy không, chúng mình sẽ không chết đâu! Chỉ có điều là không được đứng nguyên tại chỗ, tuyết sẽ vùi mất. Cậu có nghe thấy mình nói gì không, Cô-li-a thân yêu? Cần phải vận động! Ta-nhi-a cố gắng trút tất cả sức lực ra. Và hai em đứng như vậy, gần như ôm lấy nhau. Bão tuyết phủ lên hai em một đám mây che chở trong giây lát rồi lại gầm lên. Ta-nhi-a lấy chân đẩy cỗ xe lại gần hơn. - Không, không! – Cô-li-a hét lên – Mình không muốn thế! Mình không cho phép cậu chở mình đi đâu! Cậu bé vùng ra. Ta-nhi-a ôm lấy cổ bạn. Hai khuôn mặt giá lạnh chạm vào nhau. Cô bé van xin, nhắc đi nhắc lại mỗi một điều, mặc dù em cảm thấy thật khó nói lên lời – mỗi âm thanh thốt ra đều bị cơn gió tàn bạo thổi tắt ngấm trên môi em. - Chúng mình sẽ được cứu – em lặp đi lặp lại – Lát nữa thôi. Nhanh lên! Cần phải chờ đợi. Cậu bé ngồi xuống xe. Ta-nhi-a lấy khăn lau sạch chỗ tuyết trên mặt bạn, ngắm nghía đôi tay – chúng hãy còn khô ráo – rồi em thắt chặt dây đôi găng tay lại. Túm lấy đoạn dây thừng, Ta-nhi-a kéo cỗ xe theo sau. Sóng tuyết nhấp nhô chặn đường em. Em vượt qua những lớp không khí dày đặc chuyển động không ngừng và bám chặt vào áo em tựa cỏ may trong mỗi bước đi. Không gian tối sầm, đầy tuyết và không thể nhìn thấy gì. Thỉnh thoảng Ta-nhi-a lại dừng lại, quay về phía xe, lay Cô-li-a, và mặc cho câu bé đau đớn rên rỉ, em vẫn bắt bạn phải bước đi mười bước. Em thở một cách nặng nhọc. Cả khuôn mặt em ướt đẫm, quần áo cứng lại vì một lớp băng mỏng phủ lên. Em đã đi như vậy hồi lâu, không biết đâu là thành phố, đâu là bờ sông, đâu là bầu trời – tất cả đều biến mất, tất cả đều bị phủ trong màn trắng ấy. Và Ta-nhi-a vẫn cứ đi, đầu cúi xuống, chân dò dẫm tìm đường, mồ hôi chảy ròng ròng trên lưng như trong những lúc trời oi ả nhất. Bỗng nhiên, em nghe thấy một phát súng đại bác. Em tháo mũ ra, lắng nghe rồi chạy tới chỗ Cô-li-a và lại bắt cậu phải đứng dậy. Em kêu lên, những âm thanh thoát khỏi cổ họng một cách khó khăn. Tiếng kêu của em không to hơn tiếng tuyết lạo xạo. - Cậu nghe thấy không, trong pháo đài bắn đại bác đấy! Có lẽ người ta phát tín hiệu cho bọn mình… Cô-li-a yếu ớt gật đầu. Người cậu càng đờ đẫn hơn. Ta-nhi-a không dám để Cô-li-a ngồi trong xe nữa, em ôm ngang thắt lưng bạn, đặt tay lên cổ mình, rồi cả hai cùng lê đi. Cỗ xe bị bỏ lại sau. Hai em rẽ sang phía trái, từ hướng ấy vừa vang lên thêm một phát súng nữa. Phát súng này to hơn và vang trên khắp con sông. Gió thổi táp vào ngực Ta-nhi-a, em thầm biết ơn là phổi còn khỏe để giúp em thở được trong trận bão khủng khiếp này, đôi chân còn khỏe để đưa em tiến về phía trước, và đôi tay còn khỏe để có thể giữ được bạn khỏi tuột ra. Nhưng đôi khi nỗi sợ chợt ập đến lòng em trong khoảnh khắc. Những lúc ấy, em cảm thấy mình đơn độc trong thế giới giữa trận bão tuyết này. Trong khi đó, cũng trong cơn bão tuyết ấy, các chiến sỹ biên phòng đang đi trên những thanh trượt tuyết ngược về phía Ta-nhi-a. Họ đi sát nhau thành một chuỗi xích dài trên bờ sông. Trong tay mỗi người đều có một sợi dây dài, người sau nắm lấy mẩu đuôi sợi dây người trước. Họ đã được nối lại với nhau như vậy và trên đời chẳng có gì có thể làm cho họ sợ cả. Cũng bóng tối ấy, cũng những tảng băng ấy, cũng những gò tuyết cao ấy hiện ra trước mắt họ như trước Ta-nhi-a. Nhưng không cần phung phí sức lực, các chiến sỹ dễ dàng vượt qua những gò tuyết ấy. Nếu gió mạnh quá thì họ gập người xuống sát mặt đất như cố gắng luồn qua dưới gió. Bằng cách ấy, họ đã đến gần chỗ Ta-nhi-a. Nhưng chỉ cách hai bước thôi cũng không thể nhìn thấy em. Trong bão tuyết, cô bé ấy vẫn có vẻ đơn độc như trước, khuôn mặt phủ một lớp băng do mồ hôi đóng lại và đôi tay dìu cậu bạn yếu ớt. Em vẫn nhích lên nhưng không còn sức nữa. Mỗi một đợt gió lại làm em lảo đảo, ngã xuống rồi đứng dậy, một cánh tay chìa ra phía trước. Và bỗng nhiên, em cảm thấy dưới khuỷu tay mình có một sợi dây. Em cuống quýt túm chặt lấy nó. Có thể đó chỉ là mẩu dây buộc chiếc sà lan đã đóng băng ngay cạnh đó. Tuy nhiên, Ta-nhi-a vẫn vừa mân mê sợi dây vừa kêu lên: - Ai đấy, cứu với! Và bất thình lình em đụng vào cái áo ca-pốt của cha. Trong bóng tối, không có bất kỳ dấu hiệu nào có thể trông thấy được, không phải bằng cặp mắt đã mờ đi vì tuyết, không phải bằng những ngón tay đã cóng lại vì băng giá, mà bằng trái tim nóng bỏng của mình, trái tim đã từng tìm kiếm người cha trên khắp thế giới lâu đến thế, em đã cảm thấy sự gần gũi của cha, đã nhận ra cha ở đây, ở nơi hoang vắng, giá lạnh, bị thần chết đe dọa này, trong bóng tối dày đặc. - Bố, bố ơi! – Em kêu lên. - Bố đây! – ông trả lời con gái. Và khuôn mặt đã bị thay đổi nhiều vì đau khổ và mệt mỏi của em bỗng đầm đìa nước mắt. - Cậu ấy còn sống – em vừa nói vừa đẩy Cô-li-a về phía cha và chính mình cũng áp trán vào lòng ông, toàn thân rung lên trong tiếng nức nở. Ông ngồi xổm xuống, giật phắt chiếc áo ca-pốt ra và quấn cho hai đứa trẻ đang áp sát vào người ông. Chuyện gì đã xảy ra với ông vậy? Ông cũng khóc, và trên khuôn mặt đã thay đổi nhiều vì đau khổ của ông, cũng như khuôn mặt Ta-nhi-a, lúc này ướt đẫm. Tuy vậy, có thể đó là vì hơi thở dưới chiếc mũ ấm áp của ông đã làm cho tuyết tan ra. - Phin-ca đã chạy đến chỗ bố. - người cha nói. - Phin-ca, Phin-ca… - Ta-nhi-a nhắc lại thật to, mặc dù Phin-ca không có ở đây. Họ ngồi bất động khoảng hai phút. Tuyết phủ trên người họ mỗi lúc một cao hơn. Bố giật mạnh sợi dây. Từ bên phải, bên trái, xuất hiện những chiến sỹ hồng quân, tay không rời sợi dây. Như những đám tuyết trắng, họ hiện ra trong bão tuyết và đứng lại gần hai đứa trẻ. Người đến sau cùng là chiến sỹ hồng quân trẻ măng Phrô-lốp. Bão tuyết quấn khắp người anh. Khẩu súng của anh đeo sau vai, và mặt anh đầy tuyết. - Tìm thấy rồi – anh nói – tôi đã nói là sẽ tìm thấy mà. Không thể khác được. Các chiến sỹ vây chặt xung quanh đại tá và hai đứa trẻ, rồi cả đám đông quay về trong bão tuyết. Từ pháo đài còn vang lên một phát súng nữa. |
XVI
Đã qua lâu rồi cái ngày Ta-nhi-a can đảm vật lộn với bóng tối, với mây mù của cơn bão tuyết lạnh lẽo để giành sự sống và kết cục đã được cha tìm thấy, được ông sưởi ấm trong đôi tay mình. Sáng hôm sau gió đổi chiều và ngừng thổi khá lâu. Một sự yên tĩnh bao trùm trên sông và trên những dãy núi - trên toàn bộ thế giới của Ta-nhi-a. Gió đã thổi tuyết bay khỏi những cây tuyết tùng và những cây thông - rừng sẫm màu trở lại. Và bây giờ, khi nhìn những rừng cây ấy, cặp mắt Ta-nhi-a bình thản dừng ở một chỗ, không tìm kiếm cái gì khác cả. Cô-li-a chỉ còn hơi bị sưng tấy ở tai và má. Hằng ngày, Ta-nhi-a và Phin-ca đến thăm bạn ở nhà cha em, đôi khi hai em ở lại ăn cơm. Nhưng bây giờ Ta-nhi-a không cảm thấy bữa ăn sáng nặng nề như trước nữa. Mặc dù bố không mời em ăn bánh nhân anh đào một cách trang trọng như thế nữa, cô Na-đê-giơ-đa Pê-tơ-rốp-na không đứng trên ngưỡng cửa hôn em nồng nhiệt như thế nữa, nhưng miếng bánh mì của bố mà Ta-nhi-a đã nếm thử bằng đủ mọi cách bây giờ em cũng thấy khác. Đối với em, miếng bánh nào cũng ngọt cả. Cả chiếc thắt lưng da của bố luôn luôn nằm lăn lóc trên đi-văng, em cũng thấy không như trước nữa. Em thường đeo nó vào người mình. Và chưa bao giờ Ta-nhi-a cảm thấy thoải mái như vậy. Nhưng kỳ nghỉ không kéo dài mãi mãi. Rồi nó cũng kết thúc. Và thế là đã mấy ngày rồi, Ta-nhi-a lại đến trường. Em cầm sách vở trong tay, không mang cặp. Và bao giờ cũng vậy, trước khi cởi áo khoác, em đặt sách vở xuống giá gương trong phòng gửi áo khoác. Hôm nay em cũng làm như vậy. Em bỏ sách vở xuống, vừa cởi một bên vai áo khoác ra vừa liếc nhìn vào gương, mặc dù em thường tránh nhìn vào tấm gương ấy, bởi vì đó chính là tấm gương trước đây đã từng trừng phạt em thật tàn nhẫn. Nhưng lúc này, khi mải mê nhìn vào gương, em không chú ý đến khuôn mặt của mình, cũng không chú ý đến đôi mắt mà trong sâu thẳm của nó vẫn có những bóng râm nhẹ nhàng lướt qua, em lại hướng về một cảnh tượng khác dường như chẳng liên quan gì đến em cả. Em nhìn thấy một đám học sinh đứng thành nửa vòng tròn đối diện. Tất cả đều quay lưng về phía gương, đầu ngẩng lên cao. Các em đang đọc tờ báo treo ở phía bên trong tấm lưới sắt trên tường. Giê-nhi-a - người đứng sát tường nhất - nói: - Vì những chuyện như thế, lẽ ra nên đuổi nó ra khỏi Đội mới đúng. - Phải đuổi thẳng ấy chứ - cậu béo mới vào trường hồi mùa thu nói. Vì không hiểu những lời ấy có thể nói về ai, nên Ta-nhi-a không vội vã sán đến. Tuy nhiên, rời mắt khỏi tấm gương, em cũng tới gần đám đông. Em nhìn thấy ngay tờ báo. Đó là tờ báo của quận do nhà trường đặt mua. Em hỏi: - Có chuyện gì đấy? Nghe thấy tiếng em, lũ trẻ ngoảnh lại rồi quay đi, và lập tức tất cả đều lảng mất. Ta-nhi-a đã quen cảm thấy luôn luôn có bạn bè bên cạnh mình, luôn luôn nhìn thấy gương mặt các bạn, nên bây giờ em rất sửng sốt khi nhìn thấy những cái lưng quay về phía em. - Thế là thế nào? - em kêu lên. Không ai trả lời. Em bèn nhoài người về tấm lưới sắt có khoá và đọc: "Chuyện nhà trường, Ở trường số 2 đã xảy ra những chuyện quái gở. Trong bão tuyết, nữ sinh lớp 7 Ta-nhi-a Xa-ba-nhê-ê-va đã chở Cô-li-a Xa-ba-nhê-ép - học sinh cùng lớp - đi trên xe chó kéo. Sau sự việc này, cậu bé đã ốm liệt giường suốt kỳ nghỉ. Còn một học sinh cùng lớp ấy là Bê-lô-li-úp-xki - người đã chạy đến pháo đài báo chuyện này cho cha Cô-li-a biết - thì bị sưng tấy các ngón tay vì quá lạnh. Các chiến sĩ biên phòng vinh quang của chúng ta đã cứu được hai em. Nhưng các thầy giáo và tổ chức thiếu niên tiền phong nghĩ gì khi để xảy ra những trò nguy hiểm đối với tính mệnh như vậy trong phạm vi nhà trường?" - Thế là thế nào? - Ta-nhi-a khẽ nhắc lại, đưa mắt nhìn quanh và không nhận thấy một ai cạnh mình ngoài Phin-ca. Phin-ca đứng thẳng. Và Ta-nhi-a hiểu thế có nghĩa là gì. Em hiểu rằng những ngọn gió lạnh không phải chỉ thổi từ một hướng, không phải chỉ quanh quẩn trên sông mà còn xuyên qua cả những bức tường dày, thậm chí ngay cả trong ngôi nhà ấm áp chúng cũng rượt kịp con người và trong chớp nhoáng đánh người ta ngã gục. Em buông thõng tay. Chiếc áo khoác tuột khỏi vai em và rơi xuống sàn. Em không buồn nhặt lên. - Nhưng những điều đó không đúng, Phin-ca ạ - em thì thầm. - Tất nhiên là không đúng rồi - Phin-ca cũng thì thầm trả lời và giơ cho Ta-nhi-a xem những ngón tay quấn băng của mình - Mình chẳng đau tí nào cả. Họ bịa thế để làm gì, mình cũng không biết nữa. Nhưng cậu hãy nghe mình! Hãy nghe mình, Ta-nhi-a... Ta-nhi-a hé môi hớp làn không khí mà bây giờ em cảm thấy còn buốt lạnh hơn cả ở trên sông trong lúc bão to nhất. Tai em không nghe, mắt em không nhìn thấy gì cả. Em nói: - Mình sẽ ra sao bây giờ? Hai tay ôm lấy đầu, em lao đi, theo thói quen muốn đi thật mạnh để tự trấn tĩnh lại và tìm một giải pháp nào đó. Sải những bước dài như bước trong mơ, em đi dọc hành lang, vai đập vào tường, người vấp phải những cậu bé đang la hét chạy tung tăng trước mặt em. Ở góc hành lang, em vượt qua một ông già đang vừa đi vừa ve vẩy chiếc thước gỗ. Em cũng chẳng cúi chào ông mặc dù đó chính là thầy hiệu trưởng. Thầy giáo già buồn rầu lắc đầu nhìn theo em rồi nhìn thầy giáo dạy sử A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích A-ri-xtar-khốp - người trực hành lang hôm ấy. - Con bé ấy đấy - thầy A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích A-ri-xtar-khốp nói - tôi hoàn toàn không tiếc là đã đưa chuyện này lên báo. Ta-nhi-a vẫn đi dọc hành lang. Trái tim em nóng hừng hực và đập mạnh trong tiếng ồn ào đều đều của biết bao giọng trẻ con mà mỗi âm thanh đều bị cuốn vào đó như cuốn vào vực thẳm. Biết làm gì bây giờ? Tất cả đều chắn ngang con đường của em. "Nhưng bạn bè mình đâu rồi? Các bạn đâu cả rồi?" - Ta-nhi-a thầm nghĩ mặc dù chính em đã bỏ các bạn mà đi và bây giờ không thể nào thấy các bạn nữa. |
Hi! WDM tớ đã PM cho cậu số điện thoại của tớ để nhận cuốn "Chó hoang Đin-Gô" rùi mà đến hôm nay vẫn không thấy cậu liên lạc, vậy cậu nhắn lại tớ địa chỉ của cậu để tớ gửi đến nhé. :gem24:
|
Xin lỗi Matrioshka nhé, sáng mai mình sẽ liên lạc lại ngay, bận nhiều việc quá! Để mình gửi tiếp bài không có các bác ấy mắng chết! :emoticon-0107-sweat
XVII Không ai biết rõ hơn Phin-ca rằng trong lòng em chẳng hề có ý nghĩ nào khác ngoài việc phải làm gì để giúp đỡ Ta-nhi-a càng nhanh càng tốt. Tuy thế, em vẫn không bằng lòng cả với cách cư xử của mình, cả với cách cư xử của bạn bè trong ngày hôm ấy. Trong khoảnh khắc đầu tiên em đã lao theo Ta-nhi-a dọc hành lang, nhưng sau khi nhìn thấy thầy A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích A-ri-xtar-khốp ở góc hành lang, nhìn thấy đôi vai nhô quá cao của thầy, cặp kính lạnh lùng và đôi tay vung vẩy rộng đến mức có vẻ chẳng còn chừa chỗ cho ai trên thế giới này, Phin-ca bất giác dừng lại và quyết định quay lại. Nhưng ở trong phòng gửi áo khoác, Phin-ca cũng chẳng thấy điều gì tốt lành cả. Bọn trẻ vẫn tụ tập bên tờ báo. Có ai đó đã quẳng sách vở của Ta-nhi-a từ trên giá gương xuống. Và chiếc áo lông mà cha mới tặng Ta-nhi-a giờ đây nằm lăn lóc ngay trên sàn. Mọi người đi qua giẫm lên nó. Không ai chú ý đến lớp dạ và chuỗi cườm đính trên chiếc áo, không ai để ý đến cái nẹp áo làm bằng lông chồn óng ánh như lụa dưới những bàn chân bước qua. Đã nhiễm phải cái thói quen lạ lùng là chốc chốc lại cứ phải ngẫm nghĩ, Phin-ca nghĩ rằng nếu các chiến binh ngày xưa - và không phải chỉ các chiến binh ngày xưa mà cả những chiến sĩ ngày nay đội mũ dạ đính ngôi sao đỏ - nếu họ không giúp đỡ nhau trong lúc hành quân thì làm sao có thể chiến thắng được? Nếu như bạn bè chỉ nhớ đến nhau khi gặp nhau và quên nhau ngay khi người bạn vừa mới ra đi thì làm sao người bạn ấy còn có lúc có thể trở về được nữa? Nếu như người thợ săn đã đánh rơi con dao của mình trên đường mà lại không dám hỏi thăm những người qua lại để tìm con dao ấy, thì làm sao anh ta có thể ngủ ngon một mình bên đống lửa trong rừng được? Nghĩ vậy, Phin-ca quỳ gối xuống đất giữa đám đông, người qua lại giẫm cả lên ngón tay em. Nhưng em vẫn thu dọn sách vở của Ta-nhi-a, chộp lấy cái áo, dùng hết sức cố gắng kéo nó ra khỏi những bàn chân đang giẫm lên. Làm việc đó vậy mà cũng không phải là nhẹ nhàng gì. Cậu béo mà Ta-nhi-a vẫn thường coi là một thằng bịp bợm đang đứng lên trên chiếc áo, đôi ủng dạ nặng nề xéo lên đó, người không nhúc nhích. Cậu ta hét lên với Cô-li-a: - Tao có thể nhắc lại hàng nghìn lần như thế đấy! Ừ, tao có thể nhắc lại thế này: phải đuổi thẳng cánh Ta-nhi-a của mày ra khỏi Đội! Cô-li-a đội một chiếc mũ ấm - em còn chưa kịp bỏ mũ ra - ngẩng khuôn mặt nhợt nhạt lên im lặng nhìn vào mắt cậu ta. Em tức giận đến nỗi không nói nên lời. Em nói khe khẽ: - Này, cứ thử nói một lời nào về bạn ấy nữa đi, tao sẽ không thèm nhìn xem mày béo thế nào đâu, tao sẽ vặn cổ mày như vặn cổ một con chó con và sẽ đuổi cổ mày ra ngoài đường. - Mày vặn cổ tao ấy à? - cậu béo cười ầm lên - Đừng hòng đẩy được tao ra khỏi chỗ! Cô-li-a thộp lấy ngực cậu ta, nhưng do đã yếu đi sau trận ốm nên em thậm chí không thể lắc cậu ta được. Trong khi đó cậu béo đã vung tay lên trên đầu Cô-li-a chuẩn bị nện vào em. Lúc ấy, Phin-ca không nghĩ ngợi gì nữa, em xoè bàn tay rắn chắc do quen bám vào cành cây, phang cho cậu béo một cú dưới đầu gối mạnh đến nỗi cậu này ngã lăn quay ra sàn. Cô-li-a thoát khỏi cú đấm. Còn Phin-ca thì giật ngay lấy chiếc áo, cẩn thận phủi bụi rồi treo nó lên móc cửa. Em đã làm xong hai việc một cách nhanh chóng như thế và lập tức bắt tay vào việc thứ ba. Em đến bên cậu bé vừa bị cú ngã điếng người và nắm lấy vai cậu ta, thận trọng kéo cậu ta đứng dậy. Sau đó em giơ những ngón tay sưng tấy mà dải băng quấn đã vấy bùn và lỏng lẻo lên doạ cậu ta: - Ở thành phố này và ở trường này thì mày hãy còn là người lạ - Phin-ca nói - và tao yêu cầu mày hãy tử tế hơn một chút, dù chỉ một lần thôi. Và mày sẽ phải như thế đấy, tao xin thề như vậy. Em kịp nói điều đó thật đúng lúc, bởi vì ngay lúc ấy em nhận thấy trước mắt mình là thầy A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích A-ri-xtar-khốp. Tay thầy lần này buông thõng xuống chứ không vung lên chiếm nhiều chỗ nữa, vì đứng cạnh thầy bên này là anh phụ trách Cô-xchi-a, một người còn rất trẻ, và bên kia là thầy hiệu trưởng, một thầy giáo già hiền hậu. - Các em hãy đi tìm ngay Ta-nhi-a Xa-ba-nhê-ê-va về đây và dẫn đến chỗ tôi - thầy A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích nói. Giọng thầy vang lên không có chút gì tỏ ra hiền hậu cả. Cậu béo liền nhìn Phin-ca. Phin-ca nhìn lại cậu ta và cả hai cùng nhìn Cô-li-a, rồi cả ba cùng cúi chào thầy A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích. Các em không còn muốn cãi nhau, đánh nhau nữa. - Chúng em biết tìm bạn ấy ở đâu bây giờ? - các em nói - Chúng em không thấy bạn ấy ở đâu cả. Chúng em làm thế nào dẫn bạn ấy đến gặp thầy được, thưa thầy A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích. Lũ trẻ nói vậy, rồi quay đi, vừa ôm nhau dàn hàng ngang trên đường vừa khe khẽ hát bài hát quen thuộc: Xin đừng, xin đừng, xin đừng, các bạn ơi, Grê-na-đa, Grê-na-đa, Grê-na-đa của tôi... |
XVIII
Suốt cả ngày lũ trẻ đã hát bài ca ấy nhưng Ta-nhi-a vẫn không thấy đến lớp. Cho đến tận giờ học cuối cùng mà Ta-nhi-a vẫn không đến thì các em ngừng hát. Cũng như tất cả các bạn khác, các em ngồi yên lặng, tay buông bút, đầu óc nghĩ vẩn vơ. Cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na cũng im lặng và lơ đãng như vậy. Gương mặt cô - gương mặt xinh đẹp và vui vẻ thường ngày các em yêu quý - giờ đây ánh lên vẻ lo ngại, và ngôi sao nhỏ dường như không lấp lánh như trước nữa. Cô lo ngại cho Ta-nhi-a. - Em ấy ở đâu, em ấy có thể bỏ đi đâu được nhỉ? Đã là giờ học cuối cùng rồi, vậy mà không thấy Ta-nhi-a cả ở đây, cả ở nhà. Chẳng lẽ chúng ta không tìm được em ấy sao, các em? Em ấy có bạn bè cơ mà. Hay là hoá ra chẳng có ai là bạn cả? Quang cảnh ngôi trường vắng vẻ sau giờ học nom thật lạ lùng. Tiếng ồn ào dịu đi như vừa mới có một trận mưa bất chợt rắc lên khu rừng. Một chiếc lá hoàn diệp liễu còn trĩu nước khẽ rung rinh trên cành nhưng sự im lặng đã bao trùm trên những khóm thông. Trong trường cũng yên tĩnh. Chỉ đôi khi, như một giọt nước mưa cuối cùng trút từ cành cây xuống rễ cây, có một giọng trẻ con vang lên tận cuối hành lang, hoặc như một ngọn gió lướt trên những tảng đá, có đôi chân nhanh nhẹn nào đó phóng vụt qua trên nền xi măng. Nhưng hôm nay những đôi chân mãi vẫn không ngừng bước! Lũ trẻ đi lang thang từ đầu đến cuối hành lang. Các em ra sân và đi vòng quanh anh lính gác bằng tuyết mà Ta-nhi-a đã đắp rất khéo. Đợt gió ẩm ướt đã bào mòn đôi vai anh lính, những dòng nước chảy từ trên mũ sắt xuống đã đóng băng nửa chừng nhưng anh vẫn nhìn về phía xa, anh vẫn thấy mặt biển giá lạnh. - Có lẽ bạn ấy lại đi ra sông - Cô-li-a nói với Phin-ca. "Cũng có thể bạn ấy lại đứng khóc một mình trong cánh rừng nhỏ" - Phin-ca nghĩ thầm. Và hai em chia tay nhau ở cổng. Cô-li-a chạy ra sân băng. Em leo xuống sà lan, đi qua con đường mòn ngập tuyết, bước dọc đường biên của sân băng. Thật khó nhận ra dòng sông bây giờ. Tuyết phủ êm ả khắp nơi. Những dãy núi đóng băng lấp lánh. Quanh sân băng, những dây hoa làm bằng cành thông không còn đung đưa. Chúng đã rơi xuống, chìm trong những đống tuyết như chìm trong cát mịn. Cô-li-a cất tiếng gọi mấy lần. Nhưng dòng sông quanh em chỉ làm cho em loá mắt và vẫn lặng thinh. Ở đầu kia của thành phố, Phin-ca cũng gọi Ta-nhi-a. Cậu bé đứng ở bìa rừng như em đã từng đứng ở đây một lần trong bụi cây. Lúc ấy, những bông tuyết đầu mùa mới rơi xuống, nhẹ nhàng đến mức có cảm giác là có thể dùng tay hớt được toàn bộ lớp tuyết phủ trong cánh rừng thưa này mà mang đi. Còn bây giờ, những cành thông già trĩu xuống dưới sức nặng của tuyết, những cây bạch dương ngập lút trong tuyết đến tận ngực. Nhưng Phin-ca vẫn cứ gọi. Giá mà nghe thấy dù chỉ một tiếng vang đáp lại lời cầu khẩn và tiếng gọi của em, em đã nằm lăn vào một bụi cây và oà lên khóc, mặc dù em chỉ có một mình. Nhưng không có ai trả lời cả. Phin-ca quay về, chân bước trong tuyết ngập. Phin-ca và Cô-li-a lại gặp nhau ở cổng trường. Sau đó hai em đi vào phòng gửi áo khoác, đến góc xa nhất của phòng và ở đây hai em lo lắng nhìn vào mắt nhau. - Làm gì bây giờ? - Phin-ca hỏi. Đột nhiên các em nghe thấy có tiếng khóc thút thít. Trong bóng tối, có một người nào đó đứng khóc bên bức tường, nơi bác gác trường xếp một đống củi để đốt lò sưởi. - Ta-nhi-a! - cả hai cùng reo lên và chạy đến. Nhưng đó là tiếng khóc của Giê-nhi-a - cô bé đã lẻn vào đứng giữa bức tường và lò sưởi từ lúc nào, trông không rõ mặt. Phin-ca nắm vai cô bé xoay lại. - Bạn không đi đâu à? - Phin-ca hỏi. - Không - Giê-nhi-a trả lời. - Tại sao lại khóc? - Có lẽ - cô bé vừa nói vừa khóc - có lẽ bạn ấy đã chết rồi. Không hỏi và không nói một lời nào, nghe thấy vậy, Cô-li-a đi vào một góc phòng, ngồi phịch xuống bàn, gục đầu vào đầu gối. Trong khi đó thì ở tầng trên, trong một căn phòng mà tất cả đều quên bẵng đi, nơi cất giữ những vật dụng của liên đội thiếu niên, Ta-nhi-a đang ngủ. Những lá cờ đuôi nheo và những biểu ngữ trên những cái cán dài từ bốn phía vây quanh em. Những tấm ảnh treo nghiêng như những chú chim sắp sửa từ trên tường bước xuống, những chiếc trống nằm bừa bộn trên bệ cửa sổ, những chiếc kèn đồng lấp lánh treo trên dãy đinh. Những vật dụng thiếu niên tiền phong! Thế giới của những đồ vật đầy âm thanh đang nhìn em từ các góc phòng. Thật cay đắng biết bao khi phải chia tay với chúng dù chỉ ở trong mơ! Dù chỉ ở trong mơ thôi, tôi nói như vậy, bởi vì nhận thấy cuộc chia tay ấy đối với Ta-nhi-a thật nặng nề, một giấc ngủ êm đềm đã đến với em, chạm vào mắt em và đưa tay vuốt hàng mi cô bé. Rồi em ngủ thiếp đi trong một góc phòng, nơi em đã ngồi từ sáng sớm trên tấm nệm nhồi mùn cưa. Nhưng ngay cả giấc ngủ tốt lành này cũng không ngăn được trí tưởng tượng vẫn đang thức của em. Và em mơ thấy cuộc họp phân đội. Ta-nhi-a mơ thấy hình như trong căn phòng em đang ngủ này còn có các bạn: người ngồi trên trống, người ngồi trên ghế đẩu, người ngồi trên con ngựa gỗ bọc vải sơn. Cử động của họ có vẻ hăm doạ, vẻ mặt nghiêm khắc, và mỗi cái nhìn đều hướng thẳng vào tim Ta-nhi-a nhưng không xuyên được đến tận nơi. Nó rung lên và lệch đi, như một tia sáng đột nhiên bị một bàn tay che khuất. - Hãy xét xử cô ta bằng một sự báo thù khủng khiếp - một người mà Ta-nhi-a không quen nói. Quần áo của người này rất đặc biệt: một chiếc áo khoác ngắn đính vào áo ca-pốt, cái cổ áo bằng lông chồn óng ánh trên đôi vai, còn khuôn mặt thì hoàn toàn không trông rõ: một mớ tóc dài che nghiêng khuôn mặt ấy. - Hãy xét xử cô ta - ông ta lại nói - cô ta rất tàn nhẫn. - Đúng, đúng thế đấy. Cô ta tàn nhẫn lắm - Giê-nhi-a lặp lại theo lời ông ta - Chính cô ta đã bảo rán con cá đẹp của tôi. Mà con cá ấy làm bằng vàng nguyên chất đấy. - Hãy xét xử cô ta, cô ta hay ghen ghét lắm. - Đúng, đúng đấy, cô ta hay ghen ghét lắm - cậu béo hoạ theo - Cô ta ghen tị với Cô-li-a, tất cả chúng tôi đều thấy thế. Cô ta chở cậu ấy đi trong bão tuyết để giết cậu ấy. Giọng Ta-nhi-a nghẹn lại, đôi môi cứng đờ, em không thể nói nên lời. Người mặc áo khoác ngắn bèn đi đến gần Ta-nhi-a. Ông ta đứng trước mặt em, người lắc lư: - Tôi luôn luôn sẵn lòng nghe cô, cô bạn thân mến - ông ta nói - Thế sao bây giờ cô lại im lặng? Nhưng Ta-nhi-a lùi sát vào tường, em khiếp sợ nhận ra rằng đây là Gô-gôn mà bức chân dung của ông thường treo phía trên cửa ra vào. Em ngước mắt lên. Tấm kính trên bức chân dung đã bị đập vỡ. Không có Gô-gôn. Hình như ông đang chuyển động xa dần trong không khí và biến vào một xó. - Ôi, sao tôi lại bất hạnh đến thế! - Ta-nhi-a thì thầm theo sau ông - Ai bảo vệ tôi đây? Tôi không biết gì hết! Em đưa mắt nhìn lên cao hơn và thấy những đám mây màu sáng lướt trên bầu trời đang ghé nhìn vào cửa sổ. Tất cả đều ở trên cao, khoác áo giáp sáng loáng, và khi rọi xuống sàn, ánh sáng lấp lánh của những chiếc áo giáp chảy rì rầm như những dòng suối nhỏ. Tất cả đều hướng về Ta-nhi-a. Em co chân lên và nhẹ nhàng rời mặt đất. Em bay như người ta thường bay trong mơ. Không ai có thể đuổi kịp em. Căn phòng đã từ lâu không còn nữa, cái cây yêu quý mọc dưới sân bên cửa sổ của Ta-nhi-a thì ở xa tít phía dưới. Em lượn vòng quanh nó thật khéo léo, không chạm vào một lá cây nào. Từ con đường nhỏ mà bây giờ em đang đi, có một dải ánh sáng rộng trải ra khắp nơi. |
XVIII (tiếp theo)
Em đi lên núi. Những bụi cây gô-lu-bi-ca loạt soạt dưới chân em. Con đường ngày càng dốc - nước chảy róc rách vào đá lăn lạo xạo từ trên cao xuống. Và từ trên đỉnh cao, một cánh rừng hiện ra trước mặt Ta-nhi-a, trải dài theo sườn núi. Nhưng cánh rừng này thật là kỳ lạ! Em chưa bao giờ nhìn thấy một khu rừng nào như thế. Không phải rừng rậm và cũng không phải là cánh rừng nhỏ mà em quen thuộc từ thuở bé. Cây cối thấp lè tè, cành lá chĩa ngang mặt đất. Tất cả đều được phủ những bông hoa trắng. Những cánh hoa ửng hồng dưới ánh mặt trời và quay tròn trong không gian tĩnh mịch. - Đây là cái gì vậy? - Ta-nhi-a phấn khởi hỏi. Trong tiếng lao xao của đá và tiếng nước chảy róc rách, em nghe thấy câu trả lời: "Đó là những khu vườn đang nở hoa. Hãy yêu chúng, Ta-nhi-a!" "Thế những cây linh sam đâu rồi? - Ta-nhi-a muốn hỏi - Tôi chẳng thấy chúng đâu cả." Nhưng cánh rừng biến mất. Em lại tiếp tục đi và bây giờ em đang đi trên một con đường bằng phẳng, không có đá, không có dốc, rồi dừng chân bên một cánh đồng lúa mì đen. Bóng những con đại bàng quen thuộc bay liệng trên cánh đồng, và trước mắt Ta-nhi-a cánh đồng bập bềnh hệt như bầu trời lúc chao đảo. Những bông lúa chạm vào nhau kêu xào xạc. - Đẹp quá! Đây là cái gì vậy? - Ta-nhi-a lặng người đi và hỏi. Và trong tiếng reo đều đều của cánh đồng, em nghe thấy những lời sau: "Đó là những bông lúa mì đang chín. Hãy yêu chúng, Ta-nhi-a!" - Tôi yêu, tôi yêu mà! - Ta-nhi-a thì thào không thành tiếng - Hay đó chỉ là giấc mơ? Chỉ là giấc mơ thôi! Ừ, tất nhiên rồi, mình đang ngủ. Chúng mình ở xa quá mà! Nhưng mặt trời đột nhiên tối sầm đi. Ta-nhi-a nhìn thấy trên cánh đồng, trong màn sương mờ mịt, có một đám mây đen tan tác bay vùn vụt thẳng vào em. Những tia chớp chưa từng thấy, mảnh như sợi tóc, đâm vút xuống cánh đồng lúa mì xào xạc, và Ta-nhi-a sợ hãi ngã khuỵu xuống. Một tiếng sấm dài lan trên bầu trời. Giấc mơ chấm dứt nhưng Ta-nhi-a không tỉnh dậy, tiếng sấm tiếp tục gầm lên. Trong hành lang, có một cô bé đứng trước cửa phòng. Em đeo một chiếc trống qua cổ. Em vừa đánh trống vừa chăm chú nhìn vào hai chiếc dùi nhỏ đang nhảy nhót trong tay. Cô bé đang tập đánh trống. Nghe tiếng trống dội lên trong hành lang âm vang, một tốp học sinh đi lên cầu thang: đi đầu là Cô-li-a, theo sau là Phin-ca, Giê-nhi-a và cậu béo - cậu này leo lên từng bậc một cách vất vả. Anh phụ trách Cô-xchi-a đi bên cạnh cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na, hai người nói khe khẽ để cho giọng nói khỏi vang to dưới trần nhà. Cô bé vẫn tiếp tục gõ trống. Cô-li-a dừng lại trước cửa đợi mọi người đi đến. - Có phòng trống đây này - em nói - chúng mình có thể họp phân đội ở đây. Em mở cửa và nhẹ nhàng bước vào đầu tiên, không nhìn quanh phòng. Nhưng ngay cả khi không nhìn, em vẫn cứ kiếm Ta-nhi-a vừa bằng ý nghĩ, vừa bằng trái tim, lúc nào em cũng nghĩ về bạn ấy. Và đột nhiên em nhìn thấy Ta-nhi-a trong một góc phòng, trên chiếc đệm dùng để nhún khi nhảy cao. Em hé môi định gọi tên bạn, nhưng không nói nên lời. Em ngồi thụp xuống định chạm tay vào vai Ta-nhi-a, nhưng lại không chạm đến, bởi vì Ta-nhi-a vẫn ngủ rất say, hàng mi che rợp mắt như bóng lá cây gô-lu-bi-ca. Những giọt lệ hãy còn đọng trên mi nhưng mặt cô bé đã khô nước mắt. Cô-li-a quay lại giơ tay vẫy mọi người. Tất cả dừng lại nhìn Ta-nhi-a. - Cứ để cho bạn ấy ngủ. Đừng ai động vào bạn ấy - Giê-nhi-a thì thào, bởi vì cô bé có một tấm lòng hoàn toàn không phải là độc ác, tuy cô thường nói đúng và thường làm cho Ta-nhi-a phải khóc hơn là các bạn khác. - Chẳng lẽ chúng ta không thể họp vắng bạn ấy hay sao? - Giê-nhi-a nói thêm - Cô-li-a đã kể hết cho chúng ta rồi còn gì, chúng ta đã biết tất cả sự thật. Cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na suy nghĩ một lát. Cô nhìn vào gương mặt từng em và nhận thấy đó là một nguyện vọng tốt đẹp. Cô lấy tay che nụ cười bất giác hiện trên môi. - Tất nhiên chúng ta có thể họp, các em ạ - cô nói - Cô cho phép các em. Cô nghĩ là anh Cô-xchi-a sẽ đồng ý với cô. Nhìn vào gương mặt từng em, anh phụ trách Cô-xchi-a cũng nhận thấy đó là nguyện vọng chung. - Mặc dù anh tuân theo kỷ luật Đội - anh nói - nhưng trong trường hợp này thì có lẽ chúng ta có thể làm như vậy. Đó là quyết định chung. Mà nếu đã là quyết định chung thì chúng ta có thể làm tất cả. Cô-li-a bèn vẫy Phin-ca lại và nói: - Nếu chúng mình có thể làm tất cả thì cậu hãy đi ra ngoài kia và nói nhỏ vào tai cái cô bé đánh trống ấy rằng mình sẽ giết cô ta bây giờ đấy. Phin-ca đi ra. Em khẽ đập vào lưng cô bé. Tuy đập khẽ như vậy nhưng cô bé vẫn khuỵu chân và ngồi xuống. Cô ta thôi không gõ nữa. - Người ta ngủ - Phin-ca nói với cô bé - mà em thì lại làm ầm lên. Chẳng lẽ em không có lương tâm sao? Dù chỉ là một tí tẹo lương tâm mà lứa tuổi em phải có, em cũng không có à? Rồi tất cả cùng rút đi, nối đuôi nhau bước nhẹ nhàng, và theo sau họ là bé gái đeo trống. Em cũng đi nhón chân, hai chiếc dùi trống giơ lên cao. |
XIX
Lũ trẻ không đánh thức Ta-nhi-a. Em tự tỉnh dậy trong yên lặng và bỏ đi, bầu không gian ửng hồng lúc hoàng hôn đưa tiễn em về đến tận nhà. Bầu không khí ấy làm cho ngực em, đầu em, vai em nhẹ nhõm hơn, nhưng lương tâm vẫn tiếp tục dằn vặt. Làm sao em có thể kể tất cả những chuyện này cho mẹ, làm sao em lại có thể làm cho mẹ buồn phiền được? Nhưng ở nhà, ngoài bà vú nuôi ra em không gặp ai. Và lần đầu tiên Ta-nhi-a giận mẹ. Em không xin bà vú nuôi nước chè, không ăn gì hết và nằm lăn ra giường, không cởi giày và áo ngoài, tuy mẹ vẫn thường cấm em làm như vậy. "Thôi mặc - Ta-nhi-a nghĩ - Ừ thì mình đã làm một việc xấu đấy, nhưng ai có lỗi vì mọi việc đã xảy ra như vậy, ai có lỗi khi mình chẳng có em gái, chẳng có em trai, khi bây giờ mình phải một mình chờ đợi một hình phạt nào đó chưa rõ, khi vú đã già rồi và ở trong nhà chẳng có ai để mà nói chuyện cả, khi bao giờ mình cũng chỉ có mỗi một mình? Ai có lỗi trong chuyện này - có phải là mẹ không? Chính bố đã bỏ mẹ ra đi cơ mà. Vì sao nhỉ?" Ta-nhi-a nằm hồi lâu không bật đèn cho đến khi cặp mắt nhìn về phía hoàng hôn của em đã mỏi và mi mắt em khép lại. Dường như Ta-nhi-a không ngủ mà sẵn sàng vùng dậy ngay khi nghe thấy giọng nói hay bước chân của mẹ. Nhưng vậy mà em lại không nghe thấy. Mẹ nắm lấy vai em lắc lắc. Ta-nhi-a bừng tỉnh dậy. Đèn đã bật nhưng giấc mơ chưa rời bỏ; giữa những vật mờ mờ ảo ảo và những tình cảm mơ hồ bao quanh em trong giấc mơ, em nhận ra khuôn mặt của mẹ cúi xuống người em. Khuôn mặt ấy cũng mờ mờ ảo ảo như bị khuất trong bóng tối, nó toát lên một nỗi bất bình và xúc động mơ hồ, còn cái nhìn thì hướng bất động vào một điểm. Và bỗng nhiên Ta-nhi-a cảm thấy cánh tay mẹ giơ lên trên người em như để đánh. Em kêu lên và ngồi dậy. Mẹ chỉ khẽ cau mày: - Sao con lại để nguyên quần áo thế này mà ngủ? - mẹ nói - Đứng dậy, mẹ đã bảo con không được làm thế cơ mà. Nhưng mẹ không nghĩ về quần áo - Ta-nhi-a nhận thấy điều đó. - Đứng dậy - mẹ nhắc lại - và đi uống trà đi. Mẹ vừa ở chỗ thầy hiệu trưởng trường con về. Mẹ được mời đến đấy. Đứng dậy nào, mẹ cần nói chuyện với con. Nhưng Ta-nhi-a không nhúc nhích, không đứng dậy. Em ngồi bám vào thành giường, và mẹ ngồi xuống bên cạnh em. Mẹ khẽ chạm vào Ta-nhi-a. Chỉ trong sự đụng chạm nhè nhẹ này, em đã cảm thấy tất cả nỗi phiền muộn của mẹ. - Sao mọi chuyện lại xảy ra như vậy hở con? - mẹ hỏi. - Không đúng thế đâu mẹ ạ - Ta-nhi-a trả lời - Chẳng lẽ mẹ lại tin như vậy sao? Giọng Ta-nhi-a nhỏ hẳn đi như bị một thời gian im lặng quá dài che lấp mất. Ngày hôm nay em không nói đến hai chục từ. - Mẹ không tin, và không ai tin cả ngoài thầy A-ri-xtar-khơ A-ri-xtar-khô-vích. Thầy ấy đòi đuổi con cơ đấy. - Vì tội gì ạ? - Ta-nhi-a thờ ơ hỏi. - Thầy ấy nói về chuyện ấy một cách thật tức cười - mẹ nói - "Bởi vì cô ta đã nêu một tấm gương xấu", thầy ấy nói vậy. Đúng thế, thầy ấy nói một cách thật tức cười - mẹ nhắc lại và hơi mỉm cười. Còn Ta-nhi-a thì không cười một tí nào. Mẹ tiếp tục: - Nhưng con có nhiều bạn - điều đó làm mẹ rất mừng, cả cô A-lếch-xan-đra I-va-nốp-na cũng là bạn con, và thầy hiệu trưởng trường con là một người tốt bụng và thông minh, tuy thầy rất giận bố con. - Thế cả bố cũng đến đó ạ? - Ta-nhi-a sợ hãi hỏi. - Ừ. Mẹ nhắm mắt lại, khuôn mặt bà như hốc hác hẳn đi trong buổi chiều hôm nay. - Không phải câu chuyện về tờ báo làm cho mẹ buồn đâu, Ta-nhi-a ạ - mẹ khẽ nói - nhưng mà con, con chẳng kể gì cho mẹ cả. Bằng cách này cách khác rồi mẹ cũng biết thôi: về Cô-li-a, về những hành vi và những nguyện vọng kỳ quặc của con đã khiến cho các bạn gọi con là chó hoang Đin-gô. Nhưng ở nhà thì con luôn luôn im lặng. Chẳng lẽ con sợ mẹ, hay con không kính trọng mẹ, hay con không yêu mẹ? Trả lời mẹ xem nào. Ta-nhi-a quay đầu đi. Em cảm thấy rất khó nói. - Con bao giờ cũng chỉ có một mình, chỉ có một mình con thôi - Ta-nhi-a nói rất khẽ. Và em nói thêm, nhỏ hơn nữa - Tại sao bố lại bỏ mẹ? Ai có lỗi trong chuyện này, mẹ trả lời con đi. Mẹ lặng thinh khoảng hai phút, có lẽ còn hơn thế nữa. Ta-nhi-a không nhìn vào gương mặt mẹ. Em không đủ sức làm việc đó. Đột nhiên em nghe thấy giọng nói đều đều và bình thản của mẹ. Không một âm thanh nào run rẩy trên môi bà. - Ta-nhi-a - mẹ nói - người ta sống với nhau khi yêu nhau, còn khi không yêu nhau nữa thì người ta không chung sống, họ chia tay nhau. Con người bao giờ cũng tự do. Đó là một quy luật muôn đời. Ta-nhi-a liền quyết định nhìn mẹ, đầu tiên em quay cổ lại, nhìn dè dặt từ dưới lên trên như một chú chim non trước khi cất cánh, tìm hiểu xem trong vòm trời có gì nguy hiểm không. Mẹ ngồi bất động, đầu ngẩng cao. Nhưng gương mặt mẹ lộ vẻ đau đớn y như có người nào đó đang tra tấn bà bằng lời nói hay bằng thanh sắt - đằng nào cũng vậy thôi, chỉ có điều đó là một sự tra tấn khủng khiếp. "Ai đã làm điều đó?" - Ta-nhi-a đau xót nghĩ và chăm chú nhìn vào gương mặt mẹ. Từ gương mặt nhợt nhạt ấy, đôi mắt đẹp nhất trần gian đang nhìn em - đôi mắt của mẹ em, rưng rưng ngấn nước; nước mắt long lanh trên con ngươi, dưới hàng mi, trong khoé mắt thâm quầng của mẹ. - Có lẽ tốt hơn hết là chúng ta đi khỏi đây chăng, Ta-nhi-a? - mẹ hỏi. Ta-nhi-a ôm lấy ngực. - Mẹ ơi - em kêu lên vì sửng sốt và thương xót - cho đến giờ mẹ vẫn yêu bố! Em ôm choàng lấy đầu mẹ, áp đôi má nóng bừng vào mái tóc bà, phả lên mái tóc một hơi thở trẻ thơ. - Mẹ ơi, mẹ đừng nghe con, mẹ đừng nghe con, mẹ yêu quý! Con không hiểu gì nữa. Tất cả quay cuồng trước mặt con... Và trong phút giây ấy, Ta-nhi-a cảm thấy cả Trái Đất đang thực sự quay cuồng trên đầu em. Em thấy Trái Đất này có một vẻ lạ lùng giống như quả cầu bí ẩn mà chàng trai trẻ Mắc-xim đã hát trong bài ca của mình: Quay tròn quay tít trên đầuQuả cầu ấy khi thì mờ đục như màn sương ngoài cửa sổ, khi thì màu thanh thiên và lấp lánh như dòng sông quê hương được ánh mặt trời chiếu rọi từ sáng, như khu vườn và cánh đồng mà em đã nhìn thấy trong mơ. Quay nhanh như sắp muốn rơi...- Mẹ ơi, không cần phải đi đâu mẹ ạ - Ta-nhi-a vừa thì thầm vừa khóc cùng với mẹ. |
Chào các bạn,
Tôi có đôi điều muốn tâm sự với các bạn về truyện " Chó hoang đin gô "và các truyện cho thiếu nhi của Nga ( và Liên Xô cũ ) Theo cảm nhận của riêng tôi thì các nhà văn Nga ( và Liên xô cũ) viết cho thiếu nhi rất hay và đầy tính nhân văn như các bạn đã viết. Tôi gần như không bỏ sót một quyển nào mà không mua hay không đọc kể từ khi tôi biết đọc ( nghĩa là từ... davnưm davno ) các bạn ạ. Thế mà tôi lại bỏ qua cuốn " Chó hoang Đin gô " thế có lạ không. Thực ra thì từ sau khi đọc " Con Bim trắng tai đen " xong tôi không dám mua hay xem một quyển nào của các nhà văn Nga mà dính dáng đến chó nữa vì quá thương con Bim trong truyện.Mà giọng văn đoạn cuối ấy buồn lắm, chẳng khác nào đoạn kết trong " Đát vỡ hoang " chắc hẳn bạn nào đã đọc rồi thì không thể quên " Thế là hết..." Phim " Con Bim trắng tai đen " đã được chiếu ở Việt Nam khoảng hơn 20 năm về trước, tôi không được xem nhưng nghe kể lại là cả rạp đều khóc, kể cả người lớn và trẻ em. Vậy nên khi nhìn thấy cuốn sách " Chó hoang Đin gô " tôi không dám mua và cũng không dám tìm hiểu xem nó viết về cái gì. Bây giờ đọc ở đây mới biết là mình nhầm. Cảm ơn các bạn đã cho tôi được biết thêm về câu chuyện rất hay này. |
Xin nói thêm là trong tủ sách nhà tôi có cuốn " Chó hoang Đin gô " đấy. Các bạn thấy có buồn cười không?
|
Xin rất cảm ơn những tình cảm của bác Tuyetthangtu với Chó hoang Đin-gô. Sau cuốn sách này, em cũng mong sẽ còn được bác chia sẻ nhiều nữa về văn học Nga và Xô viết, đặc biệt là văn học thiếu nhi. Em xin gửi bác, bác Dinhtuhuong và các bác đang theo dõi câu chuyện phần tiếp theo ngay sau đây.
XX - Có những loại tình yêu khác nhau - Giê-nhi-a béo nói. Giê-nhi-a ngồi với Ta-nhi-a bên cửa sổ phòng mình, trước một bể cá lớn đầy nước trong suốt. Hai em không còn thù ghét nhau nữa. Cả hai cùng nhìn qua bể nước ra đường phố, ở ngoài đó mùa xuân đã đến từ lâu. Nhưng khung cảnh mùa xuân đã bị méo mó đi khi nhìn qua bể kính. Bóng mặt trời soi xuống nước bị những con cá nhỏ tù túng quẫy đuôi làm tan ra thành từng mảnh; trên những tia nắng mỏng mảnh, những hạt bụi bay lơ lửng như các diễn viên nhảy múa trên dây. Ông thợ hàn đồng già đứng rao ở ngã tư, gõ gõ vào thanh sắt, và Ta-nhi-a cảm thấy dường như ông thợ này đã đem mùa xuân vào thành phố trên đôi vai cùng với thanh sắt của mình. - Cậu đã bao giờ yêu chưa? - Ta-nhi-a hỏi. - Yêu rồi - Giê-nhi-a trả lời - chỉ có điều việc đó xảy ra đã lâu, từ hồi lớp ba cơ. - Nhưng làm thế nào cậu biết được điều đó? - Rất đơn giản thôi. Có lần cậu ấy nói với mình: "Giê-nhi-a, cho mình xem bài tập với". Mình thì mình biết là không được cho xem. "Không đâu" - mình tự nhủ. Nhưng cậu ấy nói: "Giê-nhi-a, mình sẽ không trêu cậu nữa đâu". Thế là mình phải cho xem. Thật chẳng thể làm gì với trái tim mình được. Nhưng bây giờ thì đã qua rồi. Mình nhận thấy mình bắt đầu học tồi đi, và mình bèn thôi. Mình quyết định: thế là đủ rồi! - Nhưng cậu làm như thế nào chứ? - Ta-nhi-a tò mò hỏi. - Rất đơn giản! Mình thôi không nhìn cậu ấy nữa. Không nhìn, không nhìn - và thế là sẽ quên. Ta-nhi-a ưỡn thẳng lưng nhưng vẫn không thôi nhìn vào bể cá, rồi không mỉm cười, em nhìn chằm chằm cô bạn gái. Em thực tâm ghen tị với đôi má tròn xoay, với đầu óc tỉnh táo đầy những ý nghĩ kỳ lạ của bạn, và em thở dài. Môi em bật ra tiếng huýt sáo khe khẽ. - Đừng huýt sáo - Giê-nhi-a nói - cái đó sẽ mang tai hoạ vào nhà đấy. Ta-nhi-a đành kìm tiếng thở dài trong ngôi nhà này - ngôi nhà có những bông Cu-đri lộng lẫy nở vào mùa đông và có những con cá tù túng sống giữa đám rong mỏng mảnh. Cả hai cùng im lặng. - Ừ, đúng đấy, có những loại tình yêu khác nhau - Ta-nhi-a nói rồi bất thình lình bỏ đi, không thốt thêm một lời nào nữa. Ông thợ hàn đồng già vẫn rao hàng ở ngã tư, thanh sắt vẫn kêu leng keng, và bên ngoài cửa sổ vẫn là mùa xuân. Trong cánh rừng thưa sau nhà Ta-nhi-a mùa xuân cũng đã đến, cũng vẫn là mùa xuân ấy. Mùa xuân nâng dậy những ngọn cỏ dưới gốc bạch dương, mùa xuân phủ ấm rễ những cây linh sam xanh thẫm bằng một lớp rêu tươi. Những cây linh sam lắc lư cành lá nặng nề, rậm rạp, lùa làn gió ấm đến. Ta-nhi-a gọi Phin-ca. Cậu bé ngồi đung đưa chân trên một cành cây, đáp lại em. Cậu đang gọt bút chì bằng con dao mài sắc của mình, trên đầu gối là sách vở - gánh nặng đối với cậu, vì nó mà đầu cậu cúi xuống. Cậu đang chăm chỉ học bài. Từ cái hôm khủng khiếp trên sông ấy, Ta-nhi-a không rời cậu. Hai em cùng nhau học bài, và trí nhớ mau lẹ của Ta-nhi-a có ích cho cả hai. Ta-nhi-a bíu lấy một cành cây to, nhảy phóc lên và cũng trèo lên cây. Đó là một cây bạch dương gần như trụi lá, mọc cong queo trên mặt đất. Ngồi bên nhau trên cây này thật là thuận tiện. - Ngày mai thi môn cuối cùng - Phin-ca nói với vẻ trách móc - Thế mà cậu lại bỏ đi suốt một tiếng đồng hồ. Cậu thì biết hết rồi, còn người khác thì cậu mặc cho trượt. Và sẽ trượt cho mà xem. Mình nói thật đấy. Có lẽ để khỏi trượt thì cần phải học - Phin-ca nhận xét một cách cay đắng - nhưng khi cần đến cậu thì chẳng thấy cậu đâu. - Phin-ca - Ta-nhi-a nói - cậu cũng có thể học thuộc định lý này một mình trong một tiếng đồng hồ lúc mình đến nhà Giê-nhi-a cơ mà. - Cậu nói sao? - Phin-ca buồn rầu phản đối - một khi mình học, học mãi, mà cái định lý này nó cứ trượt khỏi mình như trượt trên bánh xe ấy? - Vậy thì chúng mình cùng học. Và Ta-nhi-a với tay lấy quyển vở của mình ở chỗ Phin-ca. - Nếu hai đường tròn có một điểm chung... - em nói, mắt nhìn vào chiếc lá đang quay tròn trước gió. Nhưng Phin-ca vẫn tiếp tục gọt bút chì, con dao săn của cậu lấp loáng dưới ánh mặt trời trông tựa như cánh chim bồ câu rừng. - Không, khoan đã - cậu nói - trước hết cậu hãy nói thật với mình đi. Có đúng là ngày mai cậu sẽ đi với Cô-li-a ra mũi đất vào lúc mặt trời mọc không? - Mình nói thật với cậu đấy. - Và có phải vì thế mà cậu mặc áo đẹp và trèo lên cây mà không tiếc chút nào không? - Đúng thế. - Thế nếu Cô-li-a sợ không dám ra mũi đất thì sao? - Cậu ấy sẽ đến - Ta-nhi-a nói, mắt không rời khỏi cái lá. - Nếu bố biết? - Bố sẽ không biết. - Chẳng lẽ cậu không sợ là sẽ có ai nói cho ông biết sao? Ta-nhi-a nhún vai. - Ngoài cậu ra, không ai biết cả. Mà cậu thì tất nhiên sẽ không nói. Nhưng em vẫn liếc nhìn Phin-ca một cách nghi ngờ xem cậu có cười không. Nhưng chưa bao giờ trong đời, Phin-ca nghiêm túc như vậy. - Mình biết chỗ đó - cậu trầm ngâm nói - Lũ gà lôi thường ăn cỏ ở đó lúc rạng đông. Buổi sáng bắn chúng thì tuyệt đấy. Nhưng cậu đừng đi. Cậu là con gái, mình xin cậu đừng đi. - Không, mình sẽ đi - Ta-nhi-a trả lời. Qua giọng nói của bạn, Phin-ca hiểu rằng Ta-nhi-a có thừa bướng bỉnh. Tất cả những điều có thể hỏi thì cậu đã hỏi; tất cả những điều có thể nói thì cậu đã nói. Còn phải làm gì nữa? Cậu bé im lặng nhìn Ta-nhi-a. Ánh mặt trời cháy sáng trên gương mặt cô, trên cánh tay, trên chiếc áo đẹp mỏng manh mà cô không sợ làm hỏng. Và Phin-ca nghĩ: "Tuy vậy, mình hỏi tất cả những điều đó thật vô ích. Bạn ấy chẳng sợ gì hết." Đúng lúc ấy, cậu nhận thấy trong cặp mắt Ta-nhi-a có một nỗi sợ lạ lùng - một nỗi sợ chưa bao giờ thấy cả trong cái nhìn, cả trên gương mặt cô. Bất giác sợ hãi, cậu ngồi dịch ra. - Có chuyện gì thế? - Con sâu! - Ta-nhi-a hét lên. Em kéo mạnh vạt áo trước ngực rồi túm chặt một góc, hốt hoảng nhắc đi nhắc lại mấy lần: - Con sâu, con sâu! Nó đây này! Kinh quá! Giết nhanh lên! Trong tích tắc, Phin-ca lưỡng lự nhìn con dao đã từng được dùng để kiếm mật kiến, cắt xê-ra và làm biết bao đồ vật xinh đẹp cho Ta-nhi-a. Rồi bất ngờ cậu bé vung dao lên, cắt một mảnh khá to ở áo Ta-nhi-a. Khoảnh khắc đầu tiên Ta-nhi-a không cảm thấy gì ngoài nỗi sợ hãi và ghê tởm, em vẫn nắm chặt trong tay mảnh vải đã bị cắt rời, sau đó chậm rãi mở ra. Thay vào con sâu khủng khiếp, trên lòng bàn tay em là một mẩu gỗ bình thường. Vẻ mặt sợ hãi của Ta-nhi-a biến thành ngơ ngác rồi chuyển thành thất vọng thì nhận thấy một lỗ thủng to tướng trên áo mình. Em phẩy tay ngạc nhiên. - Mình sẽ mặc gì mà đi bây giờ? Sao cậu lại làm thế, Phin-ca? - Mình cố ý đấy - cậu bé nói - tuy rằng chính cậu đã nhờ mình làm. Nhưng bây giờ có lẽ cậu sẽ không ra mũi đất nữa chứ? - Đằng nào thì mình cũng đi. Mình cứ đi, cứ đi! - Ta-nhi-a hét lên rồi nhảy từ trên cây xuống, mất hút trong cánh rừng. Phin-ca thậm chí còn không kịp nhận thấy cô bạn đã biến mất thế nào giữa những cây bạch dương. Dường như một cơn lốc đã mang mất bạn của Phin-ca đi. Cậu bé ngồi lại một mình trên cây. Quyển hình học ở trên đầu gối em rơi xuống cỏ. Con chuột vằn - giống vật tò mò nhất trong những loài sống ở cánh rừng này dưới rễ cây bạch dương - mon men tới gần quyển sách rơi rồi dừng lại trước quyển sách. Hai chân trước của nó ôm quả hồ đào mà nó mang về hốc. Phin-ca tức giận ném dao vào con chuột. Con dao sắc cắm phập xuống đất ngay trước mặt con vật. Con chuột đánh rơi quả hồ đào rồi cũng biến mất. Phin-ca chậm rãi trèo từ trên cây xuống. Em nhặt quả hồ đào lên, đặt nó vào lòng bàn tay xem xét - quả hồ đào khá to. Phin-ca đứng yên lặng nhìn quả hồ đào một lúc, đầu óc vẫn nghĩ về Ta-nhi-a. Nhưng rồi sau khi kết luận rằng dù sao quả hồ đào nào cũng đáng ăn, em bèn đưa nó lên miệng cắn, nghe rõ to. |
XXI
Thành phố yên giấc trong đêm. Mặc dù dường như về đêm mỗi âm thanh đều có vẻ vang to hơn, nhưng vẫn chẳng nghe thấy tiếng động gì trong thành phố tĩnh mịch. Không một bóng người đi trên đường phố. Chỉ có một mình Ta-nhi-a vẫn tiếp tục con đường của mình. Đã có một lần em cũng đi vào giờ này trên con đường này. Nhưng khi ấy có Phin-ca đi bên cạnh, vác hộ em cần câu trên vai. Cả hai đều hơi run run vì lạnh, bởi lúc đó là mùa thu, vào lúc tảng sáng lá cây rơi rơi rồi đuổi theo ngọn gió, không chạm xuống mặt đất. Lúc ấy, những ngôi sao rực cháy ở tít tận chân trời. Nhưng bây giờ, trong lúc đợi rạng đông để từ giã bầu trời một cách thân ái, những vì sao ấy không rời bỏ bầu trời. Trong khi những vì sao còn rực cháy trong yên tĩnh, Ta-nhi-a vẫn đi một mình dưới ánh sao, hướng về dải rừng phía mũi đất. Em bước vào rừng và chọn một con đường rộng sáng sủa hơn. Những sợi rễ dài và những bóng cây đổ xuống con đường em đi. Nhưng em không cảm thấy sợ. Chỉ có những chiếc lá trăn ẩm ướt đôi lúc làm em hơi sợ khi chạm vào mặt em. Em lấy tay gạt chúng ra. Vừa đi em vừa trầm ngâm suy nghĩ. Em nghĩ xem sẽ phải làm gì nếu Cô-li-a nói với em về tình yêu. Biết làm thế nào đây? Hôm qua, cậu ấy đến gặp em và nói: "Ta-nhi-a đến nhé. Mình xin cậu, mình chỉ nói với cậu thôi, cậu hãy đến vì mình. Mình chưa được thấy bình minh ở trong rừng mà. Đến nhé". Thế là chỉ một lát nữa em sẽ đến. Biết làm gì đây? Và nói chung phải làm gì khi người ta nói với bạn về tình yêu, trong khi đó bạn còn có mẹ - một người mẹ mà đối với bà, bạn là tất cả, không còn có ai khác nữa? Em hơi run run khi nghĩ về điều đó và thu mình trong chiếc áo choàng bác sĩ của mẹ mà em đã lén mặc. Cánh rừng vẫn trải dài, dẫn em đi trên con đường tới mũi đất, nơi có những tảng đá lớn nằm rải rác thường xuyên hứng gió. Cô-li-a đã chọn một chỗ giữa những tảng đá. Em ngồi xuống và nhìn về phía rừng, chờ đợi. Dưới trời sao đã tắt, cát trắng lên và những tảng đá loang loáng như dưới cơn mưa. Ta-nhi-a đột nhiên xuất hiện trước mặt cậu. Cô-li-a không nhận ra bạn trong chiếc áo blu trắng và bỏ chạy. Ta-nhi-a gọi tên cậu. Cậu đáp lại, nhưng vẫn chưa hết bối rối. Thời gian kéo dài chậm chạp. Đôi bạn lặng lẽ đi về phía bìa rừng, nơi có những cây thông nhọn đầu đứng trong sương mù như những cái guồng cuốn sợi. Họ chọn một cây lạc diệp tùng có những tán rộng và dừng lại bên gốc cây. - Sao Ta-nhi-a lại mặc áo này? - Cô-li-a hỏi. Ta-nhi-a trả lời: - Bây giờ mình không còn cái áo đẹp mà Cô-li-a thích nữa rồi. - Sao Ta-nhi-a lại nói đến áo đẹp làm gì, mình hoàn toàn không nhớ nữa đấy. Mình chỉ nghĩ về Ta-nhi-a. - Bao giờ cũng thế ư? - Ta-nhi-a hỏi. - Bao giờ cũng thế. Ngay cả khi không gặp Ta-nhi-a. Đối với mình, điều đó thật lạ lùng. - Ừ, lạ thật - cô bé nói. Thế rồi các em ngồi xuống gốc cây và lắng nghe tiếng lá xào xạc trên đầu. Bầy chim đã thức dậy trong tổ. Trên đỉnh cây thông bên cạnh, một con chim kê-đrốp-ca vỗ cánh và bay đi, để lại đằng sau một vệt mờ mờ trong bóng tối. - Thật lạ lùng - Ta-nhi-a nhắc lại, mắt dõi theo cánh chim - Vậy là con chim đó đã ở trên cây thông này suốt cả đêm. Và bây giờ khi bình minh đến thì nó bay đi. Nhưng điều ấy cũng tốt thôi. Có nghĩa là Cô-li-a sẽ luôn luôn nghĩ đến Ta-nhi-a ngay cả khi Ta-nhi-a không có ở đây chứ? Ta-nhi-a sắp đi rồi. Cô-li-a khẽ kêu lên. Em đã kêu lên không ngượng ngùng khi nghe thấy những lời nói trong phút chốc làm xáo động cả tâm hồn em. Còn Ta-nhi-a thì cố gắng giữ giọng nói bình thản. - Chẳng lẽ Ta-nhi-a muốn đi khỏi đây sao? - cậu bé hỏi. - Đúng, Ta-nhi-a đã quyết định như vậy. Để cho bố ở lại với Cô-li-a và với cô Na-đi-a - cô cũng rất hiền, bố yêu cô. Còn Ta-nhi-a thì sẽ không bao giờ rời mẹ. Mẹ con mình phải đi khỏi đây thôi, mình biết vậy. - Nhưng sao lại thế, Ta-nhi-a hãy nói đi! Hay Ta-nhi-a vẫn ghét mình như trước? - Đừng bao giờ nói điều đó nữa - Ta-nhi-a khẽ nói - Hồi đầu có chuyện gì xảy ra với mình, mình cũng không hiểu nữa. Nhưng mình đã rất sợ khi bố và Cô-li-a đến đây. Bởi vì, đó là bố mình chứ không phải bố Cô-li-a. Có lẽ vì thế mà mình đã không công bằng với Cô-li-a. Mình ghét và sợ. Nhưng bây giờ thì mình mong Cô-li-a hạnh phúc... - Không, không! - cậu bé xúc động thốt lên, ngắt lời bạn - Mình muốn Ta-nhi-a cũng hạnh phúc, cả mẹ Ta-nhi-a, cả bố, cả cô Na-đi-a cũng vậy. Mình muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc. Chẳng lẽ không thể được như vậy hay sao? - Có thể, cũng có thể - Ta-nhi-a trầm ngâm trả lời - mình không biết. Và em im lặng nghĩ về hạnh phúc của mình, của bố và của mẹ. Em ngồi lặng lẽ, lưng áp sát thân cây to lớn sẫm màu, dường như em muốn dựa vào một cái gì vững vàng hơn, chắc chắn hơn những ý nghĩ mơ hồ đang bề bộn trong đầu em. Nhưng cả cây lạc diệp tùng cũng khẽ đung đưa khi ngọn gió trước lúc rạng đông thổi tới. Ngọn gió từ bờ sông thổi vào lướt trên những ngọn cây, làm chúng rung rinh. Bình minh ập đến sau cơn gió như một đợt sóng vỗ vào bức tường dốc đứng của rừng. Vòm trời trên sông đã không còn một ngôi sao. - Mình cũng muốn tất cả đều hạnh phúc - Ta-nhi-a nói, mắt vẫn dõi nhìn về phía xa, phía bờ sông, ở đó lúc này mặt trời đã nhô lên, rung rinh - Và thế là mình đã đến với Cô-li-a. Còn bây giờ mình sẽ đi. Tạm biệt, mặt trời đã lên rồi. Ta-nhi-a đứng dậy trên thảm cỏ, quay lưng về phía dòng sông và đi dọc theo cánh rừng, không phân biệt đường sá gì cả. Cô-li-a đuổi kịp bạn trên con đường mòn, nơi có những cây tuyết tùng đứng lặng lẽ giữa đám thông. - Ta-nhi-a, đừng đi! - cậu kêu lên - Lẽ nào Ta-nhi-a đã nói với mình tất cả rồi sao? Lẽ nào chỉ có thế thôi ư? - Tất nhiên, mình đã nói tất cả rồi - cô bé ngạc nhiên trả lời - Thế Cô-li-a còn cần gì nữa chăng? Cậu không dám âu yếm nhìn bạn: sợ sẽ đỏ mặt lên, cậu đưa mắt nhìn xuống. Còn Ta-nhi-a thì tiếp tục nhìn vào mặt bạn với vẻ quan tâm trìu mến, dịu dàng. Cô-li-a cúi xuống áp cặp môi vào má bạn và siết chặt tay cô bé trong lòng bàn tay mình. Ta-nhi-a không né người ra. Bốn bề yên tĩnh. Đúng lúc ấy có hai phát súng vang trong cánh rừng yên tĩnh. Sau đó từ dãy núi dội lại tiếng vang. Cây tuyết tùng thấp rung lên, rồi một con gà lôi to lớn lông xanh điểm vàng rơi xuống chân đôi bạn trẻ. Hai em sợ hãi bỏ chạy. Con gà lôi giãy giụa trong cỏ và lịm đi. Một con gà lôi khác có đôi tai trắng bay xuyên qua vòng vèo rồi rơi xuống đất, chết bên cạnh Ta-nhi-a. Từ khóm thông rậm rạp, bố bước ra đường, theo sau ông là Phin-ca. Cả hai người đều cầm súng trong tay, và một làn khói xanh mỏng manh bay trên đầu họ giữa những tán cây. - Tuyệt thật! - bố nói. Ta-nhi-a lao về phía bố. Ông hình như không ngạc nhiên tí nào khi thấy em ở đây. Ông âu yếm cầm tay em và nói: - Các con, đã đến lúc về nhà rồi đấy. Hôm nay có môn thi cuối cùng. Phin-ca nhặt hai con gà lôi nặng lên, hất chúng lên lưng cùng với khẩu súng rồi đứng cạnh Cô-li-a. - Chú ấy và mình đi săn ở đây - cậu nói - Ở mũi đất này có nhiều gà lôi đi kiếm ăn buổi sáng. Cô-li-a run rẩy toàn thân. Phin-ca cởi áo vét ra khoác lên vai bạn. Em khoác tay Cô-li-a. Nhưng con đường mòn không đủ chỗ cho cả hai người đi. Và họ đi từng người một nối đuôi nhau, còn Ta-nhi-a đi trước cùng với bố. Em áp sát hơn vào bố để vai khỏi gạt rơi những giọt sương trên cây. Thỉnh thoảng em lại ngước mắt nhìn vào mặt bố. Bố bước thẳng trên đường, không sợ sương, gót giày nện vào những rễ cây. Ông thật giản dị và dễ hiểu. Ông mỉm cười với em và ôm chặt lấy em. - Mặc cái áo blu trắng này, sao con giống mẹ con đến thế! Ta-nhi-a bỗng nhấc tay bố đặt lên vai mình như trong hôm đầu tiên hai cha con gặp nhau. Sau đó, lần đầu tiên em vuốt ve và hôn bàn tay bố. - Bố ơi - em nói - bố yêu quý của con, bố tha thứ cho con nhé. Trước kia con giận bố, nhưng bây giờ thì con hiểu cả rồi. Không ai có lỗi cả: cả con, cả bố, cả mẹ. Không ai có lỗi cả! Bởi vì trên Trái Đất này có nhiều, có rất nhiều người xứng đáng với tình yêu. Có đúng không hả bố? - Đúng - ông nói. - Có bao giờ bố tha thứ cho sự độc ác của con không? Con sẽ không giận dỗi nữa. Thế còn bố - Ta-nhi-a khẽ hỏi - bố có giận con vì con đã vào rừng với Cô-li-a sớm thế này không? - Không đâu, Ta-nhi-a thân yêu của bố. Chính bố cũng biết: ở trong rừng lúc bình minh thật là dễ chịu. |
XXII
Mùa xuân đã qua. Dòng sông cạn dần, những tảng đá hiện ra và bãi cát ven bờ mới sáng ra đã ấm. Ánh lấp loáng trên mặt nước trở nên sắc nhọn hơn. Cái oi ả của mùa hè giờ đây xộc thẳng vào dãy núi, và lũ đại bàng theo những luồng không khí nóng chậm chạp bay lên cao. Đôi khi mới có một làn gió trong lành từ biển bay vào làm cho những cánh rừng bỗng xao động trong chốc lát. Lần cuối cùng Ta-nhi-a đi vòng quanh bờ, chia tay với tất cả. Em đi trên bãi cát với bóng mình bên cạnh, và dòng sông trôi ngay dưới chân em - như một người bạn, sông tiễn đưa Ta-nhi-a lên đường. Một dải cát dài chắn ngang đường em và sông. Ta-nhi-a dừng lại. Trên dải cát này sáng sáng em thường thích tắm cùng Phin-ca. Bây giờ cậu ấy ở đâu? Suốt cả buổi sáng em đã uổng công tìm cậu ấy khắp nơi. Cậu ấy đã bỏ đi đâu mất, không muốn chia tay với em. Em không thể tìm thấy cậu ấy ở đâu cả. Không biết có phải em có lỗi hay không? Trong cái năm tràn đầy biến cố này đối với Ta-nhi-a, em thường quên mất người bạn trai mà đã có lần em từng hứa là sẽ không đổi cậu ấy lấy bất cứ một ai! Cậu ấy thì không bao giờ quên em, luôn luôn độ lượng trong tình bạn. Và bây giờ, khi từ giã những chốn thân quen, Ta-nhi-a nghĩ về bạn với lòng biết ơn, em vẫn kiên nhẫn tìm cậu ấy. - Phin-ca, Phin-ca! - em gọi to hai lần. Ngọn gió mang lời của em đến tận cùng mũi đất. Ở đó, sau một cồn cát, Phin-ca đột nhiên nhỏm dậy và quỳ bên dòng nước. Ta-nhi-a chạy đến gặp bạn, chân ngập vào cát. - Phin-ca - em nói với vẻ trách móc - mẹ đợi mình ở bến tàu, còn mình thì đi tìm cậu từ sáng sớm. Cậu làm gì ở dải cát này đấy? - Thế đấy, có gì đâu, một chút, một chút thôi - Phin-ca trả lời - Mình nằm một chút, một chút thôi. Giọng cậu nói khe khẽ, cặp mắt lim dim. Ta-nhi-a phì cười trước vẻ mặt đau khổ của bạn. - Một chút, một chút thôi - em vừa nhại lại vừa cười và bỗng dưng im bặt. Phin-ca không mặc áo may ô. Đôi vai cậu tắm ánh mặt trời lấp loáng như đá, còn trên bộ ngực sẫm lại vì sạm nắng nổi lên những chữ cái màu trắng được sắp xếp rất đẹp. Cô bé đọc "TA-NHI-A". Phin-ca bối rối lấy tay che dòng chữ và lùi lại vài bước. Em muốn lùi thật xa, đi hẳn vào trong núi, nhưng dòng sông ở phía sau đã ngăn em lại. Còn Ta-nhi-a thì vẫn theo em từng bước. - Phin-ca, đợi đã! - cô bé nói. Phin-ca không đi tiếp nữa. "Thôi mặc - cậu bé quyết định - Cứ để cho tất cả mọi người đều nhìn thấy, nếu người ta có thể từ biệt nhau nhẹ nhàng đến thế." Nhưng Ta-nhi-a không nhìn cậu bạn. Em nhìn lên mặt trời, nhìn ánh nắng gay gắt và tia sáng tản mạn trong bầu không khí trên núi, và em kéo đôi cánh tay trần của Phin-ca về phía mình. Em rất ngạc nhiên. - Cậu làm thế nào mà được thế? - em hỏi. Thay vào câu trả lời, Phin-ca im lặng cúi xuống đất và rút từ đống quần áo xếp trên cát ra mấy chữ cái cắt bằng giấy trắng. Em đặt chúng lên ngực và nói: - Sáng nào mình cũng đi đến đây cho mặt trời chiếu cháy ngực mình để chỉ còn có tên cậu là màu trắng. Mình nghĩ ra đấy. Nhưng mình xin cậu đừng cười mình nữa. Cậu đặt bàn tay lên cổ họng, đó là dấu hiệu chứng tỏ cậu rất buồn. Ta-nhi-a hiểu rằng bây giờ tốt nhất là không nên cười nữa. Với vẻ âu yếm mới lạ đối với chính em, Ta-nhi-a nhìn vào mắt bạn và khẽ chạm ngón tay vào da cậu. - Sau cậu trẻ con thế, Phin-ca! Cậu đúng là một đứa bé con. Tất cả những chữ này sẽ mờ đi và biến mất ngay khi mùa đông đến và cậu phải mặc ấm. Phin-ca cau mặt băn khoăn đưa mắt nhìn quanh: bãi cát nóng và dòng sông lấp lánh giữa dãy núi tựa như một thung lũng vàng. Em vô cùng bối rối. Em đã quên bẵng đi mất mùa đông, em hoàn toàn không nghĩ đến nó khi phơi mình dưới ánh nắng. "Đồ ngốc, đồ ngốc!" Em sẵn sàng thôi không chú ý đến mình nữa. - Nhưng nắng đến thế cơ mà - em vẫn nói một cách bướng bỉnh - Chẳng lẽ mọi dấu vết đều sẽ biến mất sao? Có lẽ vẫn sẽ có một cái gì còn lại chứ, Ta-nhi-a? Thử nghĩ mà xem. Suy nghĩ một lúc, Ta-nhi-a cũng đồng ý với bạn. - Cậu nói đúng đấy - em nói - Một cái gì đó sẽ phải còn lại. Không thể nào tất cả đều đi mất. Nếu không thì sẽ biến đi đâu - em hỏi qua làn nước mắt - sẽ biến đi đâu tình bạn chung thuỷ mãi mãi của chúng mình?... Hai đứa trẻ ôm lấy nhau. Làn không khí ấm áp mơn man trên mặt đôi bạn. Những con chim đơn độc từ trên cao nhìn họ. Tuổi thơ đã chấm dứt! Điều đó đã xảy ra như thế nào nhỉ? Ai có thể nói với họ điều này? Không phải là bãi cát, không phải là khu rừng, cũng không phải là những tảng đá vẫn luôn luôn ở bên họ. Chỉ có dòng sông quê hương là rời bỏ các em trôi về phía mặt trời mọc, chảy giữa những dãy núi. Và ở đó, ở cái phương xa không nhìn thấy được, hiện lên trước mắt các em một miền đất khác, miền đất huyền ảo, một vùng sáng trải dài. Vẫn ôm nhau, hai em không rời mắt hướng về phía ấy, không phải phía sau mà là phía trước, bởi vì ở các em hãy còn chưa có những hồi tưởng. - Vĩnh biệt chó hoang Đin-gô - Phin-ca nói - vĩnh biệt! Em muốn khóc một cách cay đắng, nhưng em là một cậu bé sinh ra trong cánh rừng trầm lặng, trên bờ một vùng biển khắc nghiệt. Em chỉ nằm lặng trên bờ cát ven sông. Còn Ta-nhi-a thì bước đi trên bãi cát dọc bờ sông, và một làn gió trong lành cũng từ biển cả khắc nghiệt ấy bay đến thổi ngược vào em suốt dọc đường. |
CÂU CHUYỆN VỀ VẺ ĐẸP CỦA CON NGƯỜi (Thay cho lời bạt) Trang cuối cùng của cuốn sách đã đọc xong, và trong trí tưởng tượng của chúng ta vẫn còn lưu lại mãi với từng chi tiết nhỏ nhất những cảnh gặp gỡ và chia tay giữa các nhân vật đang bước vào tuổi thanh niên nhưng đã hiểu được cái tình cảm ban đầu trong sáng và rụt rè của tình yêu. Chúng ta dường như còn nghe thấy tiếng dào dạt không thôi của dòng sông xa đang vội vã đổ về biển cả. Các nhân vật chính của cuốn truyện chia tay nhau, có lẽ là mãi mãi. Và do vậy mà có đôi chút buồn buồn. Nhưng đồng thời cũng xuất hiện niềm vui sướng vì những người trẻ tuổi đang yêu, xuất hiện niềm tin rằng ánh sáng không bao giờ tắt của mối tình đầu sẽ luôn luôn rọi sáng cho họ trên đường đời, trong mọi thử thách, qua mọi khó khăn và đau khổ, thành đạt và lo âu. Đọc cuốn sách này, chúng ta đắm mình trong ánh sáng, trong cái tâm trạng thơ mộng của nó khi bất giác nhớ lại tuổi thơ của riêng mình, cái giai đoạn trưởng thành đầy dằn vặt của con người. Tại sao câu chuyện viết trong cuốn sách lại gần gũi và dễ hiểu đến thế? Có lẽ bởi vì một thời nào đó, chính cái ấy hay một cái gì giống như thế cũng đã âm vang trong trái tim chúng ta. "Chó hoang Đin-gô, hay là Câu chuyện mối tình đầu" được Ru-vim I-xa-ê-vích Phra-er-man viết từ hơn bốn mươi năm trước (bài viết cho bản in của Nhà xuất bản Văn học và Nghệ thuật Гафур Гулям - Ташкент năm 1980). Con cái của những đứa con của những nước là bạn đọc đầu tiên của nó bây giờ đang đọc nó. Trẻ em khi đọc cuốn sách này học được cách hiểu cái thiện và cái đẹp của con người, trở nên cao thượng hơn và mơ mộng hơn. Người lớn khi đọc và đọc lại cuốn truyện cũng có một khoái cảm như vậy, dường như trở lại con đường mùa xuân của đời mình, cảm thấy trào lên những ý tưởng tươi sáng, những ước mơ và sự trìu mến. Nguyên nhân bất tử của "Câu chuyện mối tình đầu" là ở trong cách giải quyết dũng cảm và thực sự mới mẻ một đề tài vĩnh cửu. Tác giả không chỉ kể về việc "tuổi thơ đã bỏ đi", ông đã trình bày một cách sáng rõ và sâu sắc tất cả những cung bậc tình cảm phức tạp và mâu thuẫn nảy sinh ra khi ấy. Mới ngày hôm qua đối với cô bé Ta-nhi-a mọi điều trong cuộc sống còn quen thuộc và dễ hiểu theo kiểu trẻ con: nào trại hè thiếu niên, nào thức giấc lúc rạng đông, nào tiếng kèn đồng "rúc lên như tiếng nai" trong rừng, nào những bài hát vui bên đống lửa trại, nào những người bạn mà trong đó người trung thành nhất và can đảm nhất là cậu bé Phin-ca người dân tộc Na-nai, con trai một người thợ săn vùng rừng tai-ga Viễn Đông. Và bỗng nhiên tất cả đều bất ngờ thay đổi. Dòng sông chảy cạnh nhà lôi cuốn em đến những vùng đất chưa từng biết, ngọn lửa trại lung linh trước gió thức dậy những ước mơ, và không rõ vì sao em lại muốn nhìn thấy một con chó Úc đin-gô nào đó. Còn Phin-ca thì lại kể cho em nghe lúc thì về bầy gấu, lúc thì về việc trong vùng họ có rất nhiều chó lai-ca kéo xe "thắng bộ yên cương lộng lẫy bọc dạ và da", và chúng chẳng tồi hơn lũ chó Úc tí nào. Phin-ca tôn sùng Ta-nhi-a. Nhưng lúc đầu cậu bé không hiểu lắm cái điều mà em cứ tưởng là tính kỳ quặc của Ta-nhi-a. Đúng, các cô bé lớn nhanh hơn các cậu bé! Tác giả đã miêu tả điều đó một cách thật tâm lý! Ta-nhi-a đau khổ cố gắng phân tích chính mình, cố hiểu những tình cảm đang xâm chiếm em. Trong cách xử sự của mình, Phin-ca ngây thơ hơn nhưng cũng độ lượng hơn và vô tư, trung thực hơn. Em sẵn sàng nhón chân đi theo dấu vết của Ta-nhi-a. Trong những hồi ức của mình, R. Phra-er-man thú nhận: "Tôi cũng như nhiều nhà văn đã bị cái tình cảm thức dậy trong thời kỳ "buổi sáng của cuộc đời" này lôi cuốn từ lâu... Tôi đã nghĩ về nó (về cuốn truyện) trong những năm đầy lo âu trước chiến tranh. Tôi muốn chuẩn bị tâm hồn của những bạn trẻ cùng thời với tôi trước những thử thách của cuộc đời trong tương lai. Kể cho họ một cái gì đó đẹp đẽ, kể rằng trong cuộc đời có biết bao nhiêu cái tuyệt vời mà vì nó có thể và cần phải hy sinh, đi lập chiến công và đi đến cái chết. Chỉ ra vẻ quyến rũ của những cuộc gặp gỡ rụt rè đầu tiên, chỉ ra sự ra đời của một tình yêu cao đẹp và trong sáng, sẵn sàng chết vì hạnh phúc của người yêu và của bạn bè, vì những người đã kề vai sát cánh cùng với bạn, vì mẹ, vì Tổ quốc." Cái đặc biệt của cuốn truyện là ở chỗ tác giả đã dẫn dắt các nhân vật của mình theo một con đường chưa từng đi. Những tình huống mà họ rơi vào thường phức tạp và đôi khi đầy kịch tính. Thiên nhiên khắc nghiệt, số phận những con người xung quanh Ta-nhi-a và Phin-ca cũng khắc nghiệt. Mẹ Ta-nhi-a ít nói và thường buồn. Bà không có một cuộc sống gia đình, Ta-nhi-a sống thiếu cha. Và thế là có cuộc gặp gỡ với cha, một người dũng cảm và bản chất là hiền hậu. Trong những phút giây suy nghĩ cay đắng, người mẹ có quyền nói với con gái: "Người ta sống với nhau khi yêu nhau, còn khi không yêu thì người ta không chung sống nữa - họ chia tay nhau". Cô con gái xúc động mạnh. Trong mắt mẹ, em đọc thấy một điều khác hẳn. "Mẹ ơi - Ta-nhi-a kêu lên - cho đến giờ mẹ vẫn yêu bố!" Con người phải như thế nào? Phải sống sao cho xứng đáng? Nhà văn không đưa ra những câu trả lời có sẵn, không giãi bày những lời khuyên. Ông dõi theo dòng đời tự nhiên, viết về những cái mà chính ông đã trải qua, đã cảm nhận, đã nhìn thấy, đã gặp gỡ. Có lẽ bởi vậy mà trong truyện có nhiều góc cạnh. Bố Ta-nhi-a không trở về một mình mà cùng với Cô-li-a - người sẽ trở thành địch thủ của Phin-ca. Cuộc cãi nhau đầu tiên. Nỗi ghen tuông đầu tiên. Tai hoạ đầu tiên khi lũ trẻ suýt nữa thì chết cóng vì gặp bão tuyết. Có thể truyền đạt trọn vẹn nỗi xúc động của nhân vật trẻ tuổi bằng một hình ảnh so sánh: Phin-ca ngồi trong lớp sau lưng Ta-nhi-a và nhìn thấy gáy cô bạn "mảnh dẻ như một cọng cỏ đơn độc". Có biết bao nhiêu vẻ duyên dáng, hiền hậu và sự phong phú tâm hồn ở đấy. Trong mỗi lời nói, mỗi cử chỉ đều có không khí xúc động của cái thi vị không được kể ra, có cuộc luận chiến ngấm ngầm với thái độ đạo đức giả đối với bản thân đề tài tình yêu của tuổi trẻ - một thái độ xưa kia đã từng tồn tại trong giới một số nhà văn và nhà sư phạm nào đó. Tác giả không xóa nhoà cái gì cả khi chỉ ra tất cả tính chất phức tạp của tình yêu. Say mê vô hạn, quyền lực vô hạn, êm đềm và dữ dội. Hãy nhớ lại xem Ta-nhi-a đã khắc phục nỗi sợ hãi và hoài nghi như thế nào để đi ra mũi đất gặp Cô-li-a. Không một chướng ngại nào có thể giữ chân cô thiếu nữ, có một cái gì đó không kìm được đã thu hút em. Hình như đã lâu em tưởng rằng Cô-li-a chiếm mất bố của em. Em căm ghét Cô-li-a, nói với bạn cục cằn và châm chọc. Căm ghét chuyển thành yêu thương, cục cằn thành êm dịu. Bình minh của mối tình đầu thật ngắn ngủi. Ta-nhi-a hy sinh nó cho sự yên tĩnh và hạnh phúc của mẹ. Sự khôn ngoan đã trưởng thành và tràn đầy trong những lời nói của em với người yêu: "Và thế là mình đã đến với Cô-li-a. Còn bây giờ mình sẽ đi." Tác giả nói về tình yêu bằng ngôn ngữ của thơ ca, bởi vì chỉ bằng ngôn ngữ ấy mới có thể diễn tả say đắm và tâm tình đến thế thứ tình cảm ấy. Những đặc điểm địa phương chính xác, những dụng cụ sinh hoạt, óc thông minh của nhân dân được dệt một cách hữu cơ vào tấm vải của tác phẩm, đem lại những sắc màu không lặp lại. Cuốn truyện có tính dân tộc, tính quốc tế sâu sắc. Phin-ca là người Na-nai, và trong ngôn ngữ của cậu bé vang lên những danh ngôn của dân tộc em. "Trước lúc đi câu mà cãi nhau thì tốt nhất là ở lại nhà" - em nói với các bạn. Và mọi người đồng ý với em. "Nếu người ta chỉ còn lại một mình, người ta sẽ mạo hiểm lao vào con đường xấu" - một câu thành ngữ cũ đã gợi ý cho em trong giây phút khó khăn. Âm điệu chung của tác phẩm này hết sức trữ tình. Truyện vừa của R. Phra-er-man là một bài học về tình người. Cả những điều đôi khi không được nói thành lời cũng mang vào truyện âm thanh, màu sắc, hình tượng. Lứa tuổi bước ngoặt là giai đoạn khó khăn nhất trong đời người. Tuổi thơ rời bỏ. Những cậu bé lớn lên. Ta-nhi-a lớn lên... "Vậy mà sao em vẫn muốn bơi theo dòng sông, sao tiếng nước dội vào vách đá cứ vang mãi trong tai em, và sao em lại muốn có những đổi thay trong cuộc sống đến thế?..." - chúng ta lặp lại theo tác giả và lại nhớ đến cho chó hoang đin-gô bí ẩn - biểu tượng lãng mạn của cái sẽ có ở phía trước, cái làm xao xuyến và khiến cho những trái tim tuổi trẻ đang yêu phải đập gấp hơn. Cần chú ý là "Câu chuyện mối tình đầu" đã được viết hầu như đồng thời với những tác phẩm của các nhà văn Xô viết viết cho thiếu nhi như "Ti-mua và đồng đội" của A.Gai-đa, "Trê-rê-mư-sơ - em trai người anh hùng" của L.Cát-xin, "Thuyền trưởng và đại uý" của I.V.Ca-vê-rin - những tác phẩm đã tạo ra nhân vật tích cực mới về chất, sinh ra trong xã hội Xô viết, trong những điều kiện củng cố đạo đức xã hội chủ nghĩa trong nhận thức của thế hệ đang lớn lên. R.Phra-er-man thán phục bút pháp trau chuốt trong tác phẩm của một nhà văn tuyệt vời khác - C.Pau-xtốp-xki. Có lần ông đã nói với Pau-xtốp-xki: "Cô-xta ạ (bạn bè thường gọi Pau-xtốp-xki như vậy), anh viết thoải mái như chim hót." Cũng thoải mái như chim hót, ông đã viết "Câu chuyện mối tình đầu", về cái tình cảm kỳ lạ và không bao giờ lặp lại như khu rừng cổ thụ trầm lặng, như làn gió giá buốt trong lành bay đến từ một vùng biển khắc nghiệt và tuyệt đẹp. Xai-đa Kha-xa-nô-va (Phó tiến sĩ ngữ văn) |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 19:12. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.