![]() |
Theo tôi, rất khó có thể khẳng định thầy giáo của ludmila là đúng hay là sai, vì theo теория cả bác Trans-Over và cô Kim Dung đều đúng.Cái quan trọng ở đây như bác Мужик đã nói khéo đó:phải có ngữ cảnh cụ thể chứ không thể nói chung chung được vì
теория есть теория mà речь thì luôn sống động với bao sắc màu.Vì vậy,nếu ludmila thực sự muốn sử dụng tốt các giới từ đó thì bạn nên nói lại cụ thể và đầy đủ hơn. |
Trích:
|
Trích:
Trích:
Song rất quan trọng để hiểu trong trường hợp này "быть" chỉ đóng vai trò động từ nối (глагол-связка) trong bản thân vị ngữ danh từ phức hợp (именное составное сказуемое). Động từ "быть" chia như thế này: Thời hiện tại, số ít là "есть", số nhiều là "суть". Khi người ta nói: "Я/ты/он/она студент", thì phải hiểu là "Я/ты/он/она есть студент" trong trường hợp thời hiện tại, số ít, hoặc "Мы/вы/они студенты", thì phải hiểu là thực ra là "Мы/вы/они суть студенты" - trong trường hợp thời hiện tại, số nhiều. Đơn giản là ngữ pháp tiếng Nga hiện đại cho phép bỏ qua các từ này đối với thời hiện tại, vì thế thành phần định danh (именная часть) của vị ngữ danh từ phức hợp mới có thể vẫn ở cách 1, mà không bị biến đổi. Song chúng sẽ phải bị biến theo cách 5 vào thời tương lai và quá khứ. Thời hiện tại: Tôi là sinh viên Я (есть) студент. Thời tương lai: Tôi sẽ là sinh viên Я буду студентом. Thời quá khứ: Tôi từng là sinh viên Я был студентом. Với danh từ số nhiều cách biến đổi cũng thế. |
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
Он хорошо знает русский и английский языки. |
Trích:
Dạng khẳng định: Я получил/получу разрешение на работу. Dạng phủ định: Я не получил/не получу разрешения на работу. |
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
Người Nga, khi muốn nhấn mạnh ý nào, họ đưa từ chỉ ý đó vào vị trí cuối cùng của câu. http://www.krugosvet.ru/enc/gumanita...ADOK_SLOV.html |
Trích:
1. Он пригласил меня на рождение. 2. Он пригласил меня на свой день рождения. 3. Он пригласил меня на день своего рождения. |
Trích:
Thường ai mời ai đến ngày sinh nhật? Người có ngày sinh nhật, đúng không? OK. Bạn gái tôi mời tôi đến ngày sinh nhật của mình. "Mình" ở đây chỉ có thể là "bạn gái tôi" trong ngữ cảnh hai người "bạn gái tôi" và "tôi", đúng không? Bởi "bạn gái tôi" đâu có loạn thần kinh để mời tôi đến ngày sinh nhật của chính tôi. Vậy làm sao có thể có vấn đề với "của mình" ở đây? OK. Ngữ cảnh có ba, chứ không phải hai người: "Bạn gái tôi mời tôi đến lễ sinh nhật của em trai cô ta": Подруга пригласила меня на день рождения ее/свего брата. Tất cả đều rõ ràng. |
Trích:
Nếu Guus Hiddink chỉ cho Arshavin lỗi của Arshavin, thì phải nói: Гус Хиддинк указал Аршавину на ошибку последнего. Còn nếu là lỗi của chính Guus Hiddink, phải nói: Гус Хиддинк указал Аршавину на свою ошибку или ошибку первого. Nói chung, các bạn biết ngoại ngữ rất hời hợt, song thích nói bừa, vì chẳng hiểu gì cả. |
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
Cả hai câu đều đúng: trong ngữ cảnh chỉ có một chủ thể "họ". Они не знают, где свои билеты. Они не знают, где их билеты. |
Trích:
Nếu người phát ngôn ở đây tự xưng hô là "mình", thì "của mình" thừa sức có nghĩa là "của tôi": Он обожает мою книгу. Ему нравится моя книга. |
Trích:
"Của mình" là đại từ liên quan trực tiếp tới chủ thể của hành động, để phân biệt anh ta với người khác. |
Trích:
|
Trích:
Song nếu hai người gặp nhau ngoài đời và một người kể cho người kia nghe chuyện Kolia mời anh ta đến dự sinh nhật của em trai anh ta, thì nên nói: "Коля пригласил меня на день рождения его брата". Người thứ hai chỉ cần đáp lại: "И он меня пригласил." là đủ, mà không cần nhắc lại câu "на день рождения", bởi điều cấm kỵ trong văn phong là lặp lại cái đã biết. Điều đó thừa và không tối ưu từ góc độ tư duy logic. |
Trích:
Trong topic này mọi người trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Hiểu biết về tiếng Nga ở đây có mọi trình độ, ai cũng có thể sai. Quan trọng là ở đây ai cũng có thể học ai về những cái đúng. Nhầm, sai là chuyện bình thường. Ai biết hãy giúp người chưa biết, người biết nhiều giúp người biết ít. Như vậy mới là thiện chí. Bạn đừng đưa những lời nhận xét hồ đồ, chủ quan và ngạo mạn kia. Chắc gì bạn đã biết hơn nhiều người ở đây. Chúng tôi trân trọng đóng góp của tất cả mọi thành viên, trong đó có bạn. Nhưng bạn đừng để Ban Quản trị phải xóa cả bài của bạn chỉ vì một vài câu không phù hợp. |
Tôi thì lại không đồng ý với các bác lắm, có thể dùng các phương án "из-за"/"от"/"по" trong "cây khô héo vì nắng gắt" hoặc cải biên "vì nắng gắt nên cây khô héo" nếu nhìn hiện tượng này từ các quan điểm khác nhau.
Благодаря + Д. п. – причина, благоприятствующая осуществлению действия, обеспечивающая его выполнение. Пример: Благодаря вашей помощи я достиг успеха. Из-за + Р. п. – причина, а) препятствующая осуществлению действия, вынуждающая прекратить его; б) вызывающая нежелательное действие. Пример: Из-за плохой погоды поход в горы не состоялся. Из + Р. п. – причина сознательного действия, обусловленная чувствами, намерениями, чертами характера деятеля. Пример: Из вежливости я не спросил его о причине ссоры с другом. От + Р. п. – причина, вызывающая а) непроизвольное действие; б) изменение состояния лица. Пример: От сильной грозы в деревне разрушился дом. От радости ребенок запрыгал. По + Д. п. – причина, не осознанная деятелем и обусловленная а) его свойствами; б) внешними факторами. Пример: По рассеянности она забыла нужный адрес. Он не посещает занятия по болезни. С + Р. п. – причина действия, являющегося реакцией на состояние лица в данный момент. Пример: С испугу он не мог вымолвить ни слова. À, nhưng bạn ludmila quên không trích lại phương án dịch cụ thể của thày bạn nên tôi cũng chưa có cơ sở để khẳng định (nhất là từ "khô héo", thày bạn dùng động từ nào?). |
Trích:
|
Tôi nghĩ nếu chúng ta tranh luận đúng sai về tiếng Nga thì nên theo mấy nguyên tắc:
- Không có ai là đúng 100%, kể cả các thầy giáo Nga, và nhất là các thày giáo Việt Nam. Thật ra, các thày giáo ngôn ngữ nếu không cập nhật sự phát triển "sinh ngữ" thì cũng bị lạc hậu. Thế nên chúng ta khi thấy có một cách dùng lạ, chưa thấy bao giờ, hay chưa đúng chuẩn, thì nên tìm hiểu, ghi lại trích dẫn cho đầy đủ và cùng nhau trao đổi (trừ những cái "sai lè lè" thì nên sửa ngay cho các em các cháu mới học), chứ chưa nên vội phản bác hay đánh giá. - Tiếng Nga chuẩn theo SGK và tiếng Nga trong cuộc sống (cũng như mọi thứ tiếng khác) khác nhau rất nhiều, biết thêm điều gì là lợi điều đó về kiến thức, như vậy không thể phê phán bắt bẻ nhau đúng-sai, mà nên theo tinh thần học hỏi và trao đổi "học thuật":emoticon-0100-smile - Về kiến thức ngôn ngữ trong văn viết, thì nên theo SGK làm chuẩn, và nên theo dõi báo chí Nga thường xuyên để cập nhật, nên chọn những tờ báo uy tín, chính thống của Nga. Hôm trước vô tình tôi tìm trên mạng bản sách này, thấy nó vô cùng phong phú, đã load về, mấy trăm trang. Đến khi ra hiệu sách ngoại văn Tràng Tiền thì thấy bản in hoành tráng, sau còn có cả phần Từ điển орфологический nữa. tổng cộng dày đến 600 trang, khổ to vừa của NXB АСТ thì phải, bán 345 hay 365K gì đó tôi không nhớ rõ. Xin рекомендовать là sách rất có ích, nó bao trùm toàn bộ hầu hết những điều chúng ta tranh luận ở đây. Bạn nào quan tâm xem thử nhé!:emoticon-0150-hands Trích:
|
Trích:
|
Trích:
Giới từ OT ở đây chỉ nguyên nhân gây nên sự thay đổi về tình trạng tâm lý và физическое состояние của người hoặc vật. Tương tự như các câu sau: Урожай погиб от сильного мороза. Она простудилась от холода. Ее лицо покраснело от стыда. Его руки дражались от холода. Она громко кричала от страха. В Индии на прошлой неделе было 50 градусов и много людей погибли от жары. |
Chào bác Theviewingplatform!Bác quả là rất bộc trực và thẳng thắn. Đó là một đức tính tôi luôn tôn thờ, nhưng góp ý, phê bình theo kiểu đấy thì tôi thấy khó tiếp thu quá! Nói thật với bác là tôi rất sợ khi ai đó tự cho mình giỏi ngoại ngữ, vì ngay đến tiếng mẹ đẻ họ đã chắc mình giỏi chưa?
|
Trích:
|
Các anh chị ơi, chỉ giúp em với! Em sắp thi phần Лексикология русского языкa. Các anh chị giải thích giúp em nguồn gốc cấu tạo 3 từ sau: сейчас, сегодня và спасибо. Cô em giải thích là mỗi từ trên được cấu tạo từ 2 từ, nhưng những từ nào thì em quên mất rồi. Rất mong sự giúp đỡ của các anh chị. Em cám ơn trước.
|
Thì bạn cứ chia thử các từ trên ra thành 2 từ xem :)
сейчас = сей + час сегодня = сего + дня спасибо = спаси + бо(г) |
Trích:
cего+дня = сегодня cпаси+бог = спасибо * Лексико-синтаксический способ словообразования, при котором новые слова возникают в результате сращения в одну лексическую единицу целого сочетания слов. |
Trích:
Tôi sẽ "củng cố hồ sơ" và chia sẻ với các bạn sau nhé. Tạm thời, tôi chỉ xin dẫn một ví dụ tương tự "Из-за дождей погиб весь урожай овощей". Các bác bảo em có sai không?! ----- Khi xem xét một phương án dịch là đúng/ sai, hợp lý/ chưa hợp lý, chấp nhận được/ không chấp nhận được, tôi phải xem xét rất nhiều yếu tố như quan hệ từ vựng-ngữ nghĩa, liệu nó có nằm trong hệ đối lập nào không (với câu trước, câu sau nó), khả năng kết hợp của từ...). Tôi cam đoan với các bác là chúng ta - những người Việt cũng không ai chắc chắn sử dụng đúng 100% nghĩa của "vì, do, nhờ, bởi, tại", các bác nhỉ! |
Nếu dịch câu thơ sau, các bác dùng giới từ nào:
Mây một nơi, mưa một nơi Bởi chưng cũng tại ông giời ẩm ương |
Trích:
Раз погода капризна. |
Trích:
|
Trích:
- Предлог Из-за употребляется для выражения причины, препятствующейсовершения действия. Например: Мы не можем выйти из дома из-за сильного дождя. - Предлог От выражает прямую причину изменения состояния предмета. Например: Трава была мокрая от дождя. - Предлог По употребляется для обозначения причины действия , связанной с постоянным свойством или чертами характера человека. Эти действия чаще всего являются нежелательными, невольными или случайными. Например: Студент по ошибке взял не свой учебник. Она порезала палец по неосторожности. Ngoài ra còn vài ý nghĩa nữa. Ví dụ như: По болезни студент не посещает занятия. Em đã đọc rất kỹ tất cả các ý nghĩa của По, nhưng không thể tìm được 1 cách dùng nào có thể áp dụng để dịch câu trên cả. Ở đây em dùng giới từ OT vì giới từ này chỉ nguyên nhân làm thay đổi trạng thái của người hoặc vật : từ xanh tươi mơn mởn thành khô héo vì nắng gắt (có thể là 40 độ C). Em không chọn giới từ из-за, vì giới từ này dùng để chỉ nguyên nhân gây nên 1 hành động không đúng như ta mong muốn. Ví dụ: Cả lớp đã lên kế hoạch đi Hạ Long cuối tuần này, nhưng bỗng nhiên trời đổ mưa to, không thể đi được nữa. Rõ ràng ở đây phải dùng из-за сильного дождя. Còn câu của bác trích ở đâu, thì em không dám bàn. |
Trích:
Về cách biểu thị quan hệ nguyên nhân-kết quả (có tính đến các yếu tố bên trong, chủ quan, bên ngoài, khách quan, tiêu cực, tích cực), xin đọc thêm tại đây. Tối nay, tôi sẽ chụp và đăng thêm phần giải thích "cách biểu thị quan hệ nguyên nhân-kết quả" của cuốn "Tiếng Nga qua báo chí" để các bạn cùng tham khảo (hình như bác USY có bản 2004, còn tôi chỉ có bản 2001 thôi). ----- @Ludmila: Tôi vẫn muốn biết câu "Cây khô héo vì nắng gắt" xuất hiện trong ngữ cảnh nào hay là chỉ là "dịch khơi khơi" vậy thôi. Vì tôi rất sợ dịch nguyên văn "Bác đi đâu đấy?" thành "Куда вы?" trong khi ngữ cảnh chỉ là hai bác nông dân "chào nhau" khi ra đồng buổi sớm (tôi sẽ bàn về ý nghĩa ngôn ngữ và ý nghĩa lời nói trong dịch tại một trang khác trong diễn đàn này sau nhé). |
Em giơ tay: không cần giới từ chỉ nguyên nhân nào :)
Туча висит здесь, а дождь идет в другом месте Конечно, тут виноват каприз в небесной канцелярии |
Trích:
|
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:50. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.